KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận. Hàm lượng Astaxanthin tích lũy
trong cơ-da ở nghiệm thức bổ sung 150 và
200 mg Astaxanthin/kg thức ăn đạt trên
10 µg/g thay vì 2,11 ± 0,13 µg/g ở nghiệm thức
đối chứng.
Bổ sung 150 và 200 mg Astaxanthin/kg
thức ăn làm tăng khả năng chịu sốc độ muối
của cá nemo. Cá chống chịu được lâu hơn (>50
phút) so với nghiệm thức đối chứng (42,4 phút)
trong môi trưởng có độ muối 0‰; Tỷ lệ cá chết
dưới 68% thay vì 100% ở nghiệm thức đối
chứng sau 5 và 7 ngày nuôi trong môi trường
độ muối 5‰ và 10‰ tương ứng.
Astaxanthin bổ sung vào thức ăn đã cải
thiện khả năng chịu sốc với độc tố đồng của cá
nemo. Tỉ lệ sống của cá ở các nghiệm thức 150,
200 mg Astaxanthin/kg thức ăn tương ứng là
75% và 79% cao hơn hẳn so với nhóm đối
chứng (54%) khi sốc trong môi trường Cu2+ -
96 h của cá nemo.
Hàm lượng tối ưu bổ sung Astaxanthin vào
thức ăn cho cá nemo thương mại là 150 mg/kg
làm tăng sắc tố trong cơ thể và khả năng chịu
sốc (độ muối, đồng) sau 8 tuần nuôi.
Kiến nghị. Cần có những nghiên cứu tiếp theo
để xác định liệu trình sử dụng trong chu kỳ
nuôi thích hợp cho cá nemo thương mại nhằm
giảm chi phí cho người nuôi nhưng không làm
giảm vai trò của Astaxanthin.
Cần có những nghiên cứu tiếp theo về vai
trò của Astaxanthin đến khả năng miễn dịch
của cá nemo nói riêng và cá cảnh nói chung.
Lời cảm ơn: Chúng tôi xin chân thành cảm ơn
Ban lãnh đạo Viện Hải dương học, Phòng
Công nghệ Nuôi trồng đã tạo điều kiện thuậnlợi nhất về thời gian, cơ sở vật chất và trang
thiết bị thí nghiệm để chúng tôi hoàn thành
nghiên cứu này
10 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 7 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của astaxanthin bổ sung vào thức ăn lên sự tích lũy sắc tố trong cơ-da, khả năng chịu sốc độ muối và kháng lại độc tố đồng của cá khoang cổ nemo, amphiprion ocellaris thương mại, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
60
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 18, Số 1; 2018: 60-69
DOI: 10.15625/1859-3097/18/1/8940
ẢNH HƢỞNG CỦA ASTAXANTHIN BỔ SUNG VÀO THỨC ĂN LÊN
SỰ TÍCH LŨY SẮC TỐ TRONG CƠ-DA, KHẢ NĂNG CHỊU SỐC ĐỘ
MUỐI VÀ KHÁNG LẠI ĐỘC TỐ ĐỒNG CỦA CÁ KHOANG CỔ NEMO,
Amphiprion ocellaris THƢƠNG MẠI
Hồ Sơn Lâm*, Phan Thị Ngọc
Viện Hải dương học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
*
E-mail: hslamqt@gmail.com
Ngày nhận bài: 25-11-2016 / Ngày chấp nhận đăng: 27-1-2017
TÓM TẮT: Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hƣởng của Astaxanthin bổ sung vào thức ăn
lên sự tích lũy sắc tố này trong cơ-da cũng nhƣ khả năng chịu sốc độ muối và kháng lại độc tố đồng
(CuSO4) của cá khoang cổ nemo (Amphiprion ocellaris) thƣơng mại. Cá thí nghiệm chiều dài trung
bình 33,05 ± 3,2 mm. Năm nghiệm thức cho ăn chứa hàm lƣợng Astaxanthin bổ sung khác nhau: 0
(đối chứng), 50, 100, 150, 200 mg/kg thức ăn. Sau 8 tuần thí nghiệm, hàm lƣợng Astaxanthin tích
lũy trong cơ-da cá nemo thấp nhất ở nghiệm thức đối chứng 2,11 ± 0,13 µg/g, trong khi ở nghiệm
thức 150 và 200 mg Astaxanthin/kg thức ăn đạt trên 10 µg/g. Bổ sung 150 và 200 mg
Astaxanthin/kg thức ăn làm tăng khả năng chịu sốc độ muối và kháng lại độc tố đồng của cá nemo.
Cá chống chịu đƣợc lâu hơn (>50 phút) so với nghiệm thức đối chứng (42,4 phút) trong môi trƣờng
có độ muối 0‰ (p<0,05); Tỷ lệ cá chết dƣới 68% thay vì 100% ở nghiệm thức đối chứng sau 5 và 7
ngày nuôi trong môi trƣờng 5‰ và 10‰ tƣơng ứng (p<0,05). Tỉ lệ sống trên 75% cao hơn hẳn so
với nhóm đối chứng (54%) khi sốc trong môi trƣờng Cu2+ - 96 h (p<0,05). Tuy nhiên, không có sự
khác biệt về lƣợng Astaxanthin tích lũy và khả năng chịu sốc ở hai nghiệm thức bổ sung 150,
200 mg Astaxanthin/kg thức ăn (p>0,05). Nhƣ vậy, Hàm lƣợng tối ƣu bổ sung astaxanthin vào thức
ăn cho cá nemo thƣơng mại là 150 mg/kg đã tạo nên sự tích lũy sắc tố cao trong cơ-da; làm tăng khả
năng chịu sốc độ muối và kháng lại độc tố đồng.
Từ khóa: Astaxanthin, cá khoang cổ nemo, sắc tố, sốc độ muối, sốc đồng.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Astaxanthin là một loại carotenoid có mặt
trong cơ thể một số loài thủy sản, làm cho cơ,
da và trứng của chúng có màu vàng, cam hay
đỏ [1]. Các loài cá và giáp xác không thể tự
tổng hợp đƣợc carotenoid. Vì vậy, Astaxanthin
phải có sẵn trong môi trƣờng sống tự nhiên
hoặc đƣợc bổ sung từ nguồn thức ăn của chúng
[2, 3]. Vai trò của Astaxanthin trong nuôi trồng
thủy sản đang ngày càng đƣợc quan tâm và
nhiều nghiên cứu đã hƣớng tới việc xác định
các chức năng sinh học khác của Astaxanthin
[4]. Ngoài việc tạo màu sắc cho vật nuôi thủy
sản để đáp ứng thị hiếu của ngƣời tiêu dùng,
Astaxanthin còn đảm nhận nhiều chức năng
khác nhƣ bảo vệ cơ thể chống lại sự oxy hóa,
sinh sản và phát triển [5, 6] đáp ứng miễn dịch
và đề kháng bệnh [5]. Hiện nay, để duy trì và
làm cho màu sắc cá cảnh tƣơi hơn, sống động
hơn, trong môi trƣờng bể nuôi cần phải cung
cấp cho chúng một chế độ dinh dƣỡng có
những chất bổ sung màu hiệu quả. Astaxanthin
là sắc tố thƣờng đƣợc sử dụng nhất do hiệu quả
đa dạng của nó đến sức khỏe vật nuôi thủy sản
bên cạnh khả năng tạo màu. Nhiều nghiên cứu
cho thấy hàm lƣợng tối ƣu Astaxanthin trong
Ảnh hưởng của Astaxanthin bổ sung vào
61
thức ăn sẽ tạo nên sự tích lũy cao nhất trong cơ
thể [7-10].
Cá khoang cổ nemo là loài cá phổ biển và rất
đƣợc ƣa chuộng trên thị trƣờng cá cảnh nhờ màu
sắc, hình dạng đẹp và dễ thích nghi trong điều
kiện nuôi giữ [11]. Một số nghiên cứu về vai trò
của Astaxanthin đến màu sắc và tăng trƣởng của
cá nemo đã đƣợc tiến hành. Khi phân tích màu
sắc và hàm lƣợng sắc tố trong cơ và da cá,
Tanaka và nnk., (1992) đã kết luận rằng
Astaxanthin là sắc tố chủ yếu trong các loại
carotenoid tồn tại ở loài cá này [12]. Astaxanthin
tạo màu sắc đẹp cho cá nemo [13, 14], tuy nhiên
lại ít ảnh hƣởng đến tăng trƣởng và tỉ lệ sống
của cá ở giai đoạn 30 ngày tuổi [15]. Tác động
của Astaxanthin đến các loài và các giai đoạn
khác nhau của động vật thủy sản là khác nhau.
Hầu hết ảnh hƣởng của Astaxanthin đến khả
năng đề kháng với stress môi trƣờng mới đƣợc
tiến hành ở tôm. Các nghiên cứu gần đây cho
thấy, Astaxanthin giúp tăng cƣờng sức chống
chịu của tôm trƣớc sự căng thẳng do thiếu oxy,
sốc độ muối [6, 16, 17], sốc nhiệt [6], sốc
amoniac và stress bệnh lý [10]. Hiểu biết về ảnh
hƣởng của Astaxanthin đến sức đề kháng của cá
nói chung còn rất hạn chế. Cho đến nay, chƣa có
một công bố nào về vai trò của Astaxanthin đến
khả năng chịu sốc của cá nemo. Vì vậy, chúng
tôi tiến hành nghiên cứu này để kiểm tra tác
động của việc bổ sung Astaxanthin vào thức ăn
đến sự tích lũy sắc tố này trong cơ thể và khả
năng kháng lại sự thay đổi điều kiện lý, hóa của
môi trƣờng nuôi trên đối tƣợng cá khoang cổ
nemo thƣơng mại.
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu. Cá nemo (Amphiprion
ocellaris Cuvier, 1830) đƣợc sản xuất tại trại
thực nghiệm Phòng Công nghệ Nuôi trồng
thuộc Viện Hải dƣơng học.
Thức ăn cho cá thí nghiệm. Thức ăn công
nghiệp NRD 5/8 (INVE) với hàm lƣợng protein
>55%, lipid >9%, chất xơ <1,9%, độ ẩm <8%,
tro <14,5% đƣợc sử dụng nhƣ một chế độ ăn cơ
bản. Thức ăn chế biến cho 5 nghiệm thức đƣợc
bổ sung hàm lƣợng Astaxanthin khác nhau: 0
(đối chứng), 50, 100, 150 và 200 mg/kg thức ăn
tƣơng ứng với nghiệm thức 1 đến nghiệm thức
5. Astaxanthin đƣợc sử dụng trong thí nghiệm
có tên thƣơng mại là Carophyll Pink 10% CWS
(Thụy Sĩ). Thức ăn sau chế biến đƣợc sấy khô
và bảo quản ở 4oC cho đến khi sử dụng. Cá
đƣợc cho ăn thức ăn tƣơng đƣơng 5% khối
lƣợng cơ thể vào các thời điểm 8 h và 16 h
trong ngày. Thức ăn thừa và chất thải trong bể
nuôi sẽ đƣợc vệ sinh sau khi cho ăn khoảng 1 h.
Thiết kế thí nghiệm. Sơ đồ khối nội dung
nghiên cứu đƣợc thể hiện ở hình 1.
Chọn 550 cá thể nemo có kích cỡ thƣơng
mại (≥ 30 mm), khỏe mạnh có chiều dài trung
bình là 33,05 ± 3,29 mm cho nghiên cứu này.
Trong đó:
100 con đƣợc nuôi trong bể kính thể tích
300 L và cho ăn thức ăn công nghiệp NRD 5/8
(INVE) trong 6 tuần để xác định LC50 - 96 h
của Cu2+ đối với cá nemo. Thí nghiệm đƣợc
tiến hành theo phƣơng pháp nƣớc tĩnh và không
thay nƣớc trong 96 h với 5 nồng độ Cu2+ từ 0,5;
1; 1,5; 2; 2,5 mg/L và 1 đối chứng (0 mg/L)
bằng phƣơng pháp hòa tan CuSO4 vào môi
trƣờng nƣớc. Mỗi nồng độ đƣợc lặp lại ngẫu
nhiên trong 3 bể 30 L với 15 cá thể khỏe mạnh
(tƣơng đƣơng 5 con/bể 30 L). Trong suốt thời
gian thí nghiệm cá không đƣợc cho ăn. Theo
dõi và ghi nhận số cá chết sau 96 h. Giá trị
LC50-96 h sẽ đƣợc tính bằng phƣơng pháp
Probit [18] sử dụng phần mềm SPSS 18.0.
450 con đƣợc phân bố ngẫu nhiên vào 15
bể thí nghiệm, mật độ 30 con/bể. Với 5 nghiệm
thức: 0 (đối chứng), 50, 100, 150 và 200 mg
Astaxanthin/kg thức ăn. Mỗi nghiệm thức gồm
3 bể ngẫu nhiên và đƣợc cho ăn thức ăn tƣơng
ứng với từng nghiệm thức. Sau 8 tuần nuôi cá
đƣợc dùng để thực hiện 2 thí nghiệm sau:
Thí nghiệm I (thí nghiệm sốc độ muối):
Trong 8 tuần thí nghiệm, độ muối của môi
trƣờng nuôi dao động từ 33 - 35 và không có
sự sai khác đáng kể giữa các bể nuôi. Kiểm
tra khả năng chịu sốc độ muối của cá (sử
dụng cá ở 5 nghiệm thức của thí nghiệm I)
bằng cách chuyển nhanh cá từ môi trƣờng
nuôi sang môi trƣờng có độ muối 0, 5, 10‰,
với mỗi độ muối chuyển 15 cá thể trong mỗi
nghiệm thức (5 con/bể), mỗi bể có thể tích V
= 30 L. Theo dõi và ghi chép đầy đủ biểu
hiện của cá, theo dõi thời điểm cá chết và số
lƣợng cá chết. Với độ muối 0‰: Kiểm tra và
ghi nhận thời gian sống của cá ở các nghiệm
thức. Với độ muối 5 và 10‰: Xác định thời
gian để cá ở một trong các nghiệm thức chết
Hồ Sơn Lâm, Phan Thị Ngọc
62
100%. Từ đó tính tỉ lệ chết tích lũy của cá ở
các nghiệm thức còn lại.
Thí nghiệm II (thí nghiệm sốc đồng
(CuSO4)): Sau 8 tuần thí nghiệm, chọn 24 cá
thể của mỗi nghiệm thức (tƣơng đƣơng 8 cá
thể/bể 30 L) chuyển sang nuôi trong môi
trƣờng chứa độc tố đồng với nồng độ Cu2+ bằng
giá trị LC50 đã xác định đƣợc. Trong thời gian
thí nghiệm cá không đƣợc cho ăn. Quan sát, ghi
lại tỉ lệ sống của cá sau 96 h.
đồ khối nội dung nghiên cứu đƣợc thể hiện ở Hình 1:
Hình 1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Chọn 550 cá thể nemo có kích cỡ thƣơng mại (≥ 30mm), khỏe mạnh có chiều dài trung
bình là 33,05 ± 3,29 mm cho nghiên cứu này. Trong đó:
0 5 10
Ảnh hƣởng của Astaxanthin bổ sung vào thức ăn lên sự tích lũy sắc tố trong cơ-da, khả năng
chịu sốc độ muối và kháng lại độc tố đồng của cá khoang cổ nemo, Amphiprion ocellaris
thƣơng mại
100 cá nemo
450 con → 15 bể, mật độ 30 con/bể 120 L
Ăn thức ăn bổ sung Astaxanthin
Ăn thức ăn không bổ sung Astaxanthin
6 tuần
Nuôi trong bể 300 L
Sốc Cu2+ (mg/L)(5 con/bể, 3 lần lặp) 8 tuần
0,05
(g/kg)
0,10
(g/kg)
0,15
(g/kg)
0,20
(g/kg)
0
(g/kg)
Kết quả
Xác định LC50 Cu2+ - 96 h
Tích lũy sắc tố
trong cơ-da
Khả năng chịu
sốc độ muối
(‰)
Khả năng
kháng lại độc
tố đồng
Mỗi nghiệm thức
3 lần lặp, 5 con/bể
30 L
Mỗi nghiệm thức
3 lần lặp, 8 con/bể
30 L
Sốc Cu2+ (LC50)
Kết luận và đề xuất ý kiến
0,5 1
1,5
2
2,5
ình 1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Thu thập số liệu. Các chỉ tiêu môi trường:
Nhiệt độ (oC), pH, độ mặn (‰), đƣợc xác định
bằng máy Horiba U10 (1 lần/ngày vào lúc14 h),
chỉ số TAN xác định bằng phƣơng pháp
Indophenol blue. Trong quá trình nuôi thí
nghiệm các yếu tố môi trƣờng nƣớc ít dao động
(bảng 1), nằm trong giới hạn thích ứng cho sự
sinh trƣởng và phát triển của cá khoang cổ
nemo.
Sau 8 tuần thí nghiệm, cá ở các nghiệm thức
thí nghiệm đạt tỷ lệ sống cao, trên 90% (bảng 2),
số cá này đƣợc sử dụng để đánh giá hàm lƣợng
Astaxanthin tích lũy trong da - cơ cá và khả năng
chịu sốc của cá với độ muối và độc tố đồng.
Phân tích hàm lƣợng Astaxanthin tích lũy
trong cơ, da (sử dụng 9 cá thể cho mỗi nghiệm
thức) của cá theo phƣơng pháp của Chen và
Meyers (1984) [19].
Ảnh hưởng của Astaxanthin bổ sung vào
63
Bảng 1. Các yếu tố môi trƣờng trong thời gian nuôi thí nghiệm
Nhiệt độ (
o
C) Độ mặn (‰) pH NH3/NH4
+
(mg/l) DO (mg/l)
27 – 29
(28,51 ± 0,12)
33 – 35
(33,51 ± 0,16)
7,8 – 8,3 0 – 0,01
4,5 – 5,8
(4,92 ± 0,26)
Bảng 2. Ảnh hƣởng của Astaxanthin đến tỷ lệ sống của cá khoang cổ nemo
Tỷ lệ sống Lô 1 Lô 2 Lô 3 Lô 4 Lô 5
S (%) 94,33 ± 2,963
95,33 ± 2,333
96,67 ± 2,028
96,67 ± 2,028
94,33 ± 1,333
Ghi chú: Số liệu trình bày dƣới dạng giá trị trung bình ± sai số chuẩn.
Hàm lƣợng Astaxanthin đƣợc tính theo côn
thức của Kelly - Harmon 1972 [20]:
4
1%
1
. .10
. .cm
A D
Y
E d G
Trong đó: Y: µg/g Astaxanthin/khối lƣợng
tƣơi; A: Độ hấp thụ của dung dịch ở 476 nm;
D: Thể tích dịch chiết thu đƣợc (ml); G: Khối
lƣợng tƣơi của cơ, da (g); d: Bề dày của cuvet
(d=1 cm); E: Hệ số tắt của Astaxanthin (tức độ
hấp thụ của dung dịch Astaxanthin 1% với
cuvet 1 cm) trong dung môi PE.
Tỷ lệ chết tích lũy đƣợc tính theo công thức:
0
(%) 100
Md
M
N
Trong đó: Md- Số cá chết lũy tính đến thời
điểm d (con); No- Số cá thí nghiệm ban đầu
(con).
Phƣơng pháp xử lý số liệu. Sử dụng phƣơng
pháp phân tích phƣơng sai một yếu tố (one-way
ANOVA) trên phần mềm SPSS 18.0 để so sánh
sự khác nhau giữa các nghiệm thức thí nghiệm
với độ tin cậy 95%. Số liệu đƣợc biểu diễn chủ
yếu dƣới dạng Giá trị trung bình ± Sai số chuẩn
(SE).
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Hàm lƣợng Astaxanthin tích lũy. Phân tích
hàm lƣợng Astaxanthin thực tế trong thức ăn
đƣợc sử dụng cho các nghiệm thức cho thấy:
thức ăn công nghiệp NRD 5/8 (INVE) đƣợc sử
dụng có chứa một lƣợng nhỏ Astaxanthin
(15,17 mg/kg). Sở dĩ trong thức ăn đối chứng
có chứa một lƣợng nhỏ Astaxanthin có thể là
do các thành phần tạo nên thức ăn có chứa
Astaxanthin, mặc dù vậy lƣợng Astaxanthin
này rất nhỏ (15,17 ± 0,52 mg/kg) nên không
ảnh hƣởng đáng kể đến kết quả thí nghiệm.
Đồng thời, chênh lệch giữa liều lƣợng bổ sung
và lƣợng Astaxanthin tƣơng ứng trong thức ăn
không đáng kể (bảng 3). Điều này đảm bảo cho
tính chính xác của nghiên cứu.
Bảng 3. Lƣợng Astaxanthin trong thức ăn và tích lũy trong cơ thể cá
Nghiệm thức (mg/kg) 0 50 100 150 200
Astaxanthin - Thức ăn
(µg/g)
15,17 ± 0,52
a
61,70 ± 0,43
b
114,72 ± 0,46
c
160,52 ± 1,01
d
207,44 ± 0,67
e
Astaxanthin - Cơ, da
cá (µg/g)
2,11 ± 0,13
a
4,88 ± 0,30
b
7,52 ± 0,48
c
10,49 ± 0,16
d
11,15 ± 0,28
d
Ghi chú: Số liệu trình bày dƣới dạng giá trị trung bình ± sai số chuẩn. Số liệu cùng hàng có các
chữ cái khác nhau thể hiện sai khác có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Sau 8 tuần nuôi thử nghiệm, hàm lƣợng sắc
tố Astaxanthin tích lũy trong cơ và da cá nemo
tích lũy thấp nhất ở nghiệm thức đối chứng
2,11 ± 0,13 µg/g, trong khi ở nghiệm thức 200
mg Astaxanthin/kg thức ăn lên đến 11,15 ±
0,28 µg/g (p<0,05). Tuy nhiên, không có sự sai
khác có ý nghĩa thống kê giữa nghiệm thức
thức ăn bổ sung 200 và 150 mg Astaxanthin/kg
thức ăn (p>0,05).
Hồ Sơn Lâm, Phan Thị Ngọc
64
Ảnh hƣởng của Astaxanthin đến khả năng
chịu sốc độ muối của cá nemo. Trong 8 tuần
thí nghiệm, độ muối của môi trƣờng nuôi dao
động từ 33‰ đến 35‰ (bảng 1) và không có sự
khác biệt đang kể giữa các bể nuôi.
Khi chuyển từ bể nuôi sang môi trƣờng có
độ muối 0‰, cá nemo ở các nghiệm thức khác
nhau đều chết trong vòng 1 h (bảng 4). Không
có sự khác biệt có ý nghĩa về thời gian sống
của cá ở các nghiệm thức 0, 50, 100 mg/kg
(p>0,05). Tuy nhiên, ở nghiệm thức cá ăn thức
ăn chứa 150, 200 mg Astaxanthin/kg thức ăn,
cá chống chịu đƣợc lâu hơn (>50 phút) so với
nghiệm thức đối chứng (42,4 phút) (p<0,05).
Bảng 4. Thời gian sống của cá ở các nghiệm thức khác nhau khi sốc độ muối từ 33‰ xuống 0‰
Nghiệm thức (mg/kg) 0 50 100 150 200
Thời gian sống (phút) 42,4 ± 1,44
a
44 ± 1,00
a
46,4 ± 1,63
ab
51,8 ± 2,27
b
50,2 ± 2,87
b
Ghi chú: Số liệu trình bày dƣới dạng giá trị trung bình ± sai số chuẩn. Số liệu cùng hàng có các
chữ cái khác nhau thể hiện sai khác có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
Tỷ lệ chết tích lũy khi độ muối thay đổi
một cách đột ngột từ 33‰ xuống 5‰ sau 5
ngày và 33 xuống 10‰ sau 7 ngày đƣợc thể
hiện ở bảng 5. Không có sự khác biệt có ý
nghĩa về tỉ lệ chết tích lũy của cá ở các nghiệm
thức bổ sung Astaxanthin 0, 50, 100 mg/kg sau
5 ngày chuyển sang môi trƣờng có độ muối 5‰
(p>0,05). Có sự cải thiện đáng kể về tỷ lệ chết
ở nghiệm thức 150 và 200 mg Astaxanthin/kg
thức ăn so với nghiệm thức đối chứng (p<0,05),
tỷ lệ này nhỏ hơn 68% ở nghiệm thức 150 và
200 mg Astaxanthin/kg thức ăn, thay vì 100%
ở nghiệm thức đối chứng. Khi sốc trong môi
trƣờng độ muối 10‰, cá nemo ở nhóm đối
chứng và nghiệm thức bổ sung 50 mg
Astaxanthin/kg thức ăn đều chết 100% trong
vòng 7 ngày. Ở ba nghiệm thức còn lại, tỉ lệ
chết tích lũy của cá thấp hơn đáng kể so với
nghiệm thức đối chứng và nghiệm thức bổ sung
50 mg Astaxanthin/kg thức ăn (p<0,05), tuy
nhiên sự sai khác giữa các nhóm này là không
có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Bảng 5. Tỉ lệ chết tích lũy của cá sau 5 ngày với độ muối 5‰ và 7 ngày với độ muối 10‰
Số ngày chịu sốc Độ muối
Nghiệm thức (mg/kg)
0 50 100 150 200
Tỷ lệ chết
(%)
5 5‰ 100± 0
a
93 ± 7
a
87 ± 7
ab
60 ± 12
c
67 ± 7
bc
7 10‰ 100± 0
a
100± 0
a
73 ± 7
b
67 ± 7
b
67 ± 7
b
Ghi chú: Số liệu trình bày dƣới dạng giá trị trung bình ± sai số chuẩn. Số liệu cùng
hàng có các chữ cái khác nhau thể hiện sai khác có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Ảnh hƣởng của Astaxanthin đến khả năng
kháng lại độc tố đồng CuSO4 của cá nemo.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nồng độ
Cu
2+
càng cao thì tỷ lệ chết càng cao. Nồng độ
Cu
2+
thấp (0,256 mg/L) không ảnh hƣởng đến
tỷ lệ sống của cá (tỷ lệ chết 0%) (hình 2). Giá
trị LC50 của Cu
2+
- 96 h đối với cá nemo trong
nghiên cứu này đƣợc xác định là 1,43 mg/L
(tƣơng đƣơng 5,57 mg/L đối với CuSO4).
Tỉ lệ sống của cá ở các nghiệm thức khi
nuôi trong môi trƣờng chứa Cu2+ đƣợc pha với
nồng độ 1,43 mg Cu2+/L nƣớc sau 96 h đƣợc
ghi nhận ở bảng 6.
Hình 2. Tỷ lệ chết tích lũy của nemo theo nồng
độ đồng thí nghiệm sau 96 giờ
Ở các nghiệm thức bổ sung 0, 50, 100 mg
Astaxanthin/kg thức ăn không có sự sai khác về
Ảnh hưởng của Astaxanthin bổ sung vào
65
tỉ lệ sống của cá sau 96 h nuôi trong môi trƣờng
chứa độc tố đồng (p>0,05). Tỉ lệ sống của cá ở
các nghiệm thức 150, 200 mg/kg tƣơng ứng là
75% và 79% cao hơn hẳn so với nhóm đối
chứng (54%) (p<0,05), tuy nhiên sự sai khác
giữa hai nghiệm thức này là không có ý nghĩa
(p>0,05). Nhƣ vậy có thể thấy, bổ sung
Astaxanthin với hàm lƣợng 150 và 200 mg/kg
trong thức ăn giúp tăng khả năng chống chịu
của cá nemo với độc tố đồng trong môi trƣờng
so với nghiệm thức đối chứng.
Bảng 6. Tỉ lệ sống của cá ở các nghiệm thức sau 96 h nuôi trong môi trƣờng độc tố đồng
Nghiệm thức (mg/kg) 0 50 100 150 200
Tỉ lệ sống (%) 54 ± 4
a
63 ± 7
ab
67 ± 4
ab
75 ± 7
bc
79 ± 4
bc
Ghi chú: Số liệu trình bày dƣới dạng giá trị trung bình ± sai số chuẩn. Số liệu cùng hàng có các
chữ cái khác nhau thể hiện sai khác có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
THẢO LUẬN
Nghiên cứu này đã chứng minh đƣợc mối
liên hệ giữa hàm lƣợng Astaxanthin tích lũy
trong cơ và da cá khoang cổ nemo với liều
lƣợng sắc tố đƣợc bổ sung vào thức ăn. Bổ
sung 150 và 200 mg Astaxanthin/kg thức ăn
mang đến sự tích lũy cao so với các nghiệm
thức bổ sung với hàm lƣợng Astaxanthin thấp
hơn. Tuy nhiên, với lƣợng bổ sung cao hơn
150 mg Astaxanthin/kg thức ăn thì sự tích lũy
sắc tố này tăng thêm không đáng kể. Điều này
hoàn toàn phù hợp với nhận định của Ben và
nnk., (2009), bổ sung Astaxanthin với liều
lƣợng cao hơn mức tối ƣu không làm tăng thêm
hiệu quả Astaxanthin đối với vật nuôi [21]. Kết
quả nghiên cứu này cũng tƣơng tự với nghiên
cứu của Alireza và Bijan (2015) ở tôm thẻ chân
trắng [22], lƣợng Astaxanthin tích lũy trong cơ
thể tôm ăn các khẩu phần chứa Astaxanthin bổ
sung là 100 và 200 mg/kg cao hơn so với nhóm
ăn thức ăn bổ sung 50 mg/kg và nhóm đối
chứng. Tuy nhiên giữa hai nghiệm thức này lại
không có sự khác biệt có ý nghĩa về lƣợng
Astaxanthin tích lũy (p>0,05). Thử nghiệm trên
tôm he Nhật Bản, Yamada và nnk., (1990) cũng
đã kết luận rằng, khi lƣợng Astaxanthin bổ
sung tăng từ 0 đến 200 ppm, sự tích tụ
Astaxanthin cũng tăng lên đạt tối đa là
29,1 mg/kg khối lƣợng thân [23]. Tuy nhiên,
khi lƣợng bổ sung cao hơn 200 ppm thì hàm
lƣợng tích tụ trong mô không tăng, nhƣ vậy
lƣợng Astaxanthin đã đạt tới ngƣỡng bão hòa.
Pan và Yew (2004) cũng đã thu đƣợc kết quả
tƣơng tự khi nghiên cứu về tôm sú [24].
Kết quả nghiên cứu cho thấy, khi chuyển
sang các môi trƣờng có độ muối thay đổi đột
ngột thì độ muối càng thấp, thời gian cá chết
càng nhanh. Tuy nhiên việc bổ sung
Astaxanthin vào thức ăn với các hàm lƣợng
150, 200 mg/kg đã làm tăng cƣờng sức sống và
giảm tỉ lệ chết tích lũy của cá so với nhóm ăn
thức ăn không bổ sung. Kết quả của nghiên cứu
này hoàn toàn tƣơng đồng với nghiên cứu trƣớc
kia của Darachai và nnk., (1998). Darachai và
nnk., (1998) cho rằng bổ sung Astaxanthin vào
thức ăn giúp kéo dài thời gian sống của tôm khi
chịu sốc độ muối (từ 32% xuống 2‰ trong
2 h), các nhóm tôm ăn thức ăn có bổ sung
Astaxanthin có thời gian mà tỉ lệ chết tích lũy
là 50% lâu hơn (37 - 44 phút) so với nhóm đối
chứng (32 phút) [16].
Mặc dù đồng là một nguyên tố vi lƣợng cần
thiết cho các loài sinh vật trong đó có cá, tuy
nhiên, ở nồng độ cao, đồng là một trong các
kim loại độc hại nhất đối với cá vì gây ảnh
hƣởng đến sự tăng trƣởng, hoạt động của
enzyme và sinh sản [25, 26]. Ảnh hƣởng của
nồng độ Cu2+ trong môi trƣờng đến cá nemo
giai đoạn cá bột đã đƣợc nghiên cứu bởi Furuta
và nnk., (2005) cho thấy, nồng độ Cu2+ tăng từ
0-160 µg/l đã làm tăng dần tỉ lệ sống của cá.
Đặc biệt, tỉ lệ sống của cá ở nồng độ 160 µg/l là
80% cao hơn hẳn so với đối chứng (30%). Ở
nồng độ cao hơn thì tỉ lệ sống của cá giảm
nhanh [27]. Các loài khác nhau chịu ảnh hƣởng
của đồng khác nhau phụ thuộc vào độ tuổi, kích
thƣớc, phƣơng pháp thử nghiệm và chất lƣợng
nƣớc [28, 29]. Giá trị LC50 của Cu
2+
- 96 h đối
với cá nemo trong nghiên cứu này đƣợc xác
định là 1,43 mg/L. Kết quả này hoàn toàn phù
hợp với nhận định của Bryan (1976). Theo
Bryan (1976) thì giá trị LC50 - 96 h của Cu
2+
đối
Hồ Sơn Lâm, Phan Thị Ngọc
66
với cá biển và giáp xác dao động từ 0,2 -
3 mg/L [30]. Astaxanthin bổ sung vào thức ăn
với hàm lƣợng 150, 200 mg/kg đã làm tăng tỉ lệ
sống sót của cá nemo so với nhóm đối chứng
khi nuôi trong môi trƣờng chứa Cu2+ nồng độ
1,43 mg/L. Nhƣ vậy, bổ sung Astaxanthin vào
thức ăn làm tăng sức đề kháng của cá nuôi khi
chống chịu với độc tố Cu2+.
Ngoài ra, một số nghiên cứu vai trò của
Astaxanthin lên khả năng chịu sốc một số đối
tƣợng nuôi thuỷ sản đã đƣợc chứng minh.
Chien và nnk., (1999) cho thấy, tôm cho ăn một
khẩu phần có chứa hàm lƣợng cao hơn của
Astaxanthin thì tỉ lệ sống sót cao hơn so với
nhóm đối chứng trƣớc sự thay đổi của nồng độ
oxy hòa tan (< 1 mg/L trong 4 h ) [31]. Nghiên
cứu của Díaz và nnk., (2014) kết luận rằng
Astaxanthin nhƣ một chất bảo vệ giúp tôm
chống lại căng thẳng do nitrit [32].
Theo Darachai và nnk., (1998) sự thay đổi
đột ngột về môi trƣờng đòi hỏi vật nuôi thủy
sản tiêu tốn nhiều năng lƣợng hơn để duy trì sự
ổn định áp suất thẩm thấu. Điều này làm tăng
cƣờng sự có mặt của các gốc oxy hóa trong cơ
thể chúng [16]. Và vì, Astaxanthin trong cấu
trúc có nhiều nối đôi (13 nối đôi) với một quỹ
đạo electron không ổn định nên Astaxanthin là
một chất chống oxy hóa rất mạnh, giúp bảo vệ
cơ thể bằng cách kết hợp với các gốc tự do để
vô hiệu hóa chúng [33]. Vì thế, bổ sung
Astaxanthin giúp tăng cƣờng sức đề kháng của
vật nuôi với căng thẳng do sự thay đổi điều
kiện hóa, lý môi trƣờng gây ra. Điều này giải
thích vì sao bổ sung Astaxanthin vào thức ăn đã
làm tăng khả năng chịu sốc (độ muối và Cu2+)
của cá nemo thƣơng mại.
Astaxanthin bổ sung vào thức ăn với hàm
lƣợng 150, 200 mg/kg đã làm tăng sắc tố tích
lũy trong cơ thể và tăng khả năng chịu sốc (độc
tố đồng và sự thay đổi đột ngột độ muối) so với
nhóm đối chứng. Tuy nhiên giữa hai nghiệm
thức này thì ảnh hƣởng của Astaxanthin lại
không có sự khác biệt. Điều này có thể là do
hàm lƣợng bổ sung Astaxanthin 150 mg/kg đã
tạo nên sự tích lũy cao gần mức bão hòa của
sắc tố này trong cơ và da cá nên việc bổ sung
thêm thì hiệu quả của Astaxanthin cũng không
tăng thêm. Ở các nghiệm thức bổ sung 50,
100 mg/kg thì ảnh hƣởng của Astaxanthin đến
khả năng chịu sốc của cá lại không thể hiện rõ
so với nhóm đối chứng. Nhƣ vậy, việc sử dụng
Astaxanthin dƣới mức yêu cầu cần thiết của cơ
thể vật nuôi thƣờng không mang lại hiệu quả
tối ƣu của Astaxanthin, trong khi sử dụng trên
mức cần thiết giá thành sản xuất sẽ cao do lãng
phí và lợi nhuận sẽ giảm. Liều lƣợng
Astaxanthin trong cơ thể quá cao thì cá và giáp
xác sẽ tự thải ra môi trƣờng và làm tăng chi phí
sản xuất. Vì thế, để mang lại hiệu quả cao và có
lợi nhất chúng tôi khuyến cáo nên bổ sung
Astaxanthin với nồng độ 150 mg/kg thức ăn
trong nuôi cá nemo thƣơng mại.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận. Hàm lƣợng Astaxanthin tích lũy
trong cơ-da ở nghiệm thức bổ sung 150 và
200 mg Astaxanthin/kg thức ăn đạt trên
10 µg/g thay vì 2,11 ± 0,13 µg/g ở nghiệm thức
đối chứng.
Bổ sung 150 và 200 mg Astaxanthin/kg
thức ăn làm tăng khả năng chịu sốc độ muối
của cá nemo. Cá chống chịu đƣợc lâu hơn (>50
phút) so với nghiệm thức đối chứng (42,4 phút)
trong môi trƣởng có độ muối 0‰; Tỷ lệ cá chết
dƣới 68% thay vì 100% ở nghiệm thức đối
chứng sau 5 và 7 ngày nuôi trong môi trƣờng
độ muối 5‰ và 10‰ tƣơng ứng.
Astaxanthin bổ sung vào thức ăn đã cải
thiện khả năng chịu sốc với độc tố đồng của cá
nemo. Tỉ lệ sống của cá ở các nghiệm thức 150,
200 mg Astaxanthin/kg thức ăn tƣơng ứng là
75% và 79% cao hơn hẳn so với nhóm đối
chứng (54%) khi sốc trong môi trƣờng Cu2+ -
96 h của cá nemo.
Hàm lƣợng tối ƣu bổ sung Astaxanthin vào
thức ăn cho cá nemo thƣơng mại là 150 mg/kg
làm tăng sắc tố trong cơ thể và khả năng chịu
sốc (độ muối, đồng) sau 8 tuần nuôi.
Kiến nghị. Cần có những nghiên cứu tiếp theo
để xác định liệu trình sử dụng trong chu kỳ
nuôi thích hợp cho cá nemo thƣơng mại nhằm
giảm chi phí cho ngƣời nuôi nhƣng không làm
giảm vai trò của Astaxanthin.
Cần có những nghiên cứu tiếp theo về vai
trò của Astaxanthin đến khả năng miễn dịch
của cá nemo nói riêng và cá cảnh nói chung.
Lời cảm ơn: Chúng tôi xin chân thành cảm ơn
Ban lãnh đạo Viện Hải dƣơng học, Phòng
Công nghệ Nuôi trồng đã tạo điều kiện thuận
Ảnh hưởng của Astaxanthin bổ sung vào
67
lợi nhất về thời gian, cơ sở vật chất và trang
thiết bị thí nghiệm để chúng tôi hoàn thành
nghiên cứu này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Higuera-Ciapara, I., Felix-Valenzuela, L.,
and Goycoolea, F. M., 2006. Astaxanthin: a
review of its chemistry and applications.
Critical Reviews in Food Science and
Nutrition, 46(2), 185-196.
2. Boonyaratpalin, M., Thongrod, S.,
Supamattaya, K., Britton, G., and
Schlipalius, L. E., 2001. Effects of
β‐ carotene source, Dunaliella salina, and
astaxanthin on pigmentation, growth,
survival and health of Penaeus monodon.
Aquaculture Research, 32(s1), 182-190.
3. Meyers, S. P., 1994. Developments in
world aquaculture, feed formulations and
role of carotenoids. Pure and Applied
Chemistry, 66(5), 1069-1076.
4. Meyers, S. P., and Latscha, T., 1997.
Carotenoids. In advances in world
aquaculture. Vo. 6. Crustacean Nutrition.
World Aquaculture Society.
5. Liñán‐ Cabello, M. A., Paniagua‐ Michel,
J., and Zenteno‐ Savín, T., 2003.
Carotenoids and retinal levels in captive
and wild shrimp, Litopenaeus vannamei.
Aquaculture Nutrition, 9(6), 383-389.
6. Chien, Y. H., Pan, C. H., and Hunter, B.,
2003. The resistance to physical stresses by
Penaeus monodon juveniles fed diets
supplemented with astaxanthin.
Aquaculture, 216(1-4), 177-191.
7. Choubert, G., and Storebakken, T., 1989.
Dose response to astaxanthin and
canthaxanthin pigmentation of rainbow
trout fed various dietary carotenoid
concentrations. Aquaculture, 81(1), 69-77.
8. Torrissen, O. J., Christiansen, R.,
Struksnæs, G., and Estermann, R., 1995.
Astaxanthin deposition in the flesh of
Atlantic salmon, Salmo salar L., in relation
to dietary astaxanthin concentration and
feeding period. Aquaculture Nutrition, 1(2),
77-84.
9. Chatzifotis, S., Pavlidis, M., Jimeno, C. D.,
Vardanis, G., Sterioti, A., and Divanach, P.,
2005. The effect of different carotenoid
sources on skin coloration of cultured red
porgy (Pagrus pagrus). Aquaculture
Research, 36(15), 1517-1525.
10. Pan, C. H., Chien, Y. H., and Hunter, B.,
2003. The resistance to ammonia stress of
Penaeus monodon Fabricius juvenile fed
diets supplemented with astaxanthin.
Journal of Experimental Marine Biology
and Ecology, 297(1), 107-118.
11. Nguyễn Thị Thanh Thủy và Hà Lê Thị Lộc,
2010. Ảnh hƣởng của các loại thức ăn lên
tỷ lệ sống và tốc độ tăng trƣởng của cá
khoang cổ nemo con (Amphirion ocellaris
Cuvier, 1830). Tạp chí Khoa học và Công
nghệ biển, 10(3), 69-75.
12. Tanaka, Y., Yamamoto, A., Kamata, T.,
and Simpson, K. L., 1992. Biochemical
study on the carotenoids in the
anemonefish, Amphiprion spp. Memoirs of
Faculty of Fisheries-Kagoshima University
(Japan).
13. Yasir, I., and Qin, J. G., 2010. Effect of
dietary carotenoids on skin color and
pigments of false clownfish, Amphiprion
ocellaris, Cuvier. Journal of the World
Aquaculture Society, 41(3), 308-318.
14. Ho, A. L., O’Shea, S. K., and Pomeroy, H.
F., 2013. Dietary esterified astaxanthin
effects on color, carotenoid concentrations,
and compositions of clown anemonefish,
Amphiprion ocellaris, skin. Aquaculture
International, 21(2), 361-374.
15. Seyedi, S. M., Sharifpour, I., Ramin, M.,
and Jamili, S., 2013. Effect of dietary
astaxanthin on survival, growth,
pigmentation clownfish, Amphiprion
ocellaris, Cuvier. Indian Journal of
Fundamental Applied Life Sciences, 3(3),
391-395.
16. Darachai, J., Piyatiratitivorakul, S.,
Kittakoop, P., Nitithamyong, C., and
Menasveta, P., 1998. Effects of astaxanthin
on larval growth and survival of the giant
tiger prawn, Penaeus monodon. Advances
in Shrimp Biotechnology. Pp. 117-21.
17. Merchie, G., Kontara, E., Lavens, P.,
Robles, R., Kurmaly, K., and Sorgeloos, P.,
1998. Effect of vitamin C and astaxanthin
on stress and disease resistance of
postlarval tiger shrimp, Penaeus monodon
Hồ Sơn Lâm, Phan Thị Ngọc
68
(Fabricius). Aquaculture research, 29(8),
579-585.
18. Finney, D. J., 1971. Probit Analysis: 3d Ed.
Cambridge University Press.
19. Chen, H. M., and Meyers, S. P., 1984. A
rapid quantitative method for determination
of astaxanthin pigment concentration in oil
extracts. Journal of the American Oil
Chemists Society, 61(6), 1045-1047.
20. Kelley, C. E., and Harmon, A. W., 1972.
Method of determining carotenoid contents
of Alaska pink shrimp and representative
values for several shrimp products. US Natl
Mar Fish Serv Fish Bull.
21. Doolan, B. J., Booth, M. A., Allan, G. L.,
and Jones, P. L., 2008. Effects of dietary
astaxanthin concentration and feeding
period on the skin pigmentation of
Australian snapper Pagrus auratus (Bloch
& Schneider, 1801). Aquaculture Research,
40(1), 60-68.
22. Salarzadeh, A., and Rajabi, B., 2015. The
effects of dietary supplementation synthetic
Astaxanthin on body astaxanthin, survival,
growth of white leg shrimp (Litopenaeus
vannamei). International Journal, 3(3),
797-803.
23. Yamada, S., Tanaka, Y., Sameshima, M.,
and Ito, Y., 1990. Pigmentation of prawn
(Penaeus japonicus) with carotenoids: I.
Effect of dietary astaxanthin, β-carotene
and canthaxanthin on pigmentation.
Aquaculture, 87(3-4), 323-330.
24. Pan, C. H., and Chien, Y. H., 2004. Effects
of dietary astaxanthin on body astaxanthin,
growth and survival of Penaeus monodon
postlarvae. Journal of the Fisheries Society
of Taiwan, 31, 269-280.
25. Sorensen, E. M., 1991. Metal poisoning in
fish. CRC press.
26. Nussey, G., Van Vuren, J. H. J., and Du
Preez, H. H., 1995. Effect of copper on the
haematology and osmoregulation of the
Mozambique tilapia, Oreochromis
mossambicus (Cichlidae). Comparative
Biochemistry and Physiology Part C:
Pharmacology, Toxicology and
Endocrinology, 111(3), 369-380.
27. Furuta, T., Iwata, N., Kikuchi, K., and
Namba, K., 2005. Effects of copper on
survival and growth of larval false clown
anemonefish Amphiprion ocellaris.
Fisheries Science, 71(4), 884-888.
28. McCahon, C. P., and Pascoe, D., 1988. Use
of Gammarus pulex (L.) in safety
evaluation tests: culture and selection of a
sensitive life stage. Ecotoxicology and
Environmental Safety, 15(3), 245-252.
29. Hodson, P. V., Dixon, D. G., Spry, D. J.,
Whittle, D. M., and Sprague, J. B., 1982.
Effect of growth rate and size of fish on
rate of intoxication by waterfoorne lead.
Canadian Journal of Fisheries and Aquatic
Sciences, 39(9), 1243-1251.
30. Bryan, G. T., 1976. Heavy metal
contamination in the sea. Marine Pollution,
3, 185-302.
31. Chien, Y. H., Chen, I. M., Pan, C. H., and
Kurmaly, K., 1999. Oxygen depletion stress
on mortality and lethal course of juvenile
tiger prawn Penaeus monodon fed high
level of dietary astaxanthin. Journal of the
Fisheries Society of Taiwan, 26(2), 85-93.
32. Díaz, A. C., Velurtas, S. M., Espino, M. L.,
and Fenucci, J. L., 2014. Effect of dietary
astaxanthin on free radical scavenging
capacity and nitrite stress tolerance of
postlarvae shrimp, Pleoticus muelleri.
Journal of Agricultural and Food
Chemistry, 62(51), 12326-12331.
33. Stanier, R. Y., Kunisawa, R., Mandel, M.,
and Cohen-Bazire, G., 1971. Purification
and properties of unicellular blue-green
algae (order Chroococcales).
Bacteriological Reviews, 35(2), 120-171.
Ảnh hưởng của Astaxanthin bổ sung vào
69
EFFECT OF DIETARY ASTAXANTHIN ON PIGMENT
ACCUMULATION IN THE MUSCLE-SKIN, RESISTANCE TO
SALINITY STRESS AND COPPER TOXICITY OF COMMERCIAL
CLOWNFISH, Amphiprion ocellaris
Ho Son Lam, Phan Thi Ngoc
Institute of Oceanography, VAST
ABSTRACT: This study examined the influence of Astaxanthin added in feed on pigment
accumulation in the muscle-skin, as well as resistance to salinity stress and copper toxicity of
clownfish (Amphiprion ocellaris). Mean length of fish was 33.05 ± 3.29 mm. Five experiments
were performed with synthetic Astaxanthin contents: 0, 50, 100, 150 and 200 mg/kg diets. After 8
weeks of the experiment, the pigment accumulation of Astaxanthin in the muscle-skin of clownfish
was the lowest in the control treatment of 2.11 ± 0.13 µg/g, while these treatments of 150 and
200 mg/kg diets were over 10 µg/g. The treatments of 150 and 200 mg Astaxanthin/kg increased the
resistance to copper toxicity and salinity stress test of the fish. The resistance of the fish was longer
(>50 minutes) compared to the control (42.4 minutes) in an environment with salinity of 0‰
(p<0.05); The mortality was below 68% instead of 100% in the control after 5 and 7 days of culture
in the environment 5‰ and 10‰, respectively (p<0.05). The survival rate of fish was over 75%,
respectively, significantly higher than the control (54%) when being cultured in the environment of
Cu
2+
- 96 h (p<0.05). However, there were no significant differences in accumulation of Astaxanthin
and resistance to the stress test in two treatments of 150, 200 mg/kg diets (p>0.05). Thus, the
optimal content of astaxanthin supplement in fish food was 150 mg/kg diet, which created high
pigment accumulation in the muscle-skin; increased resistance to salinity stress and copper toxicity.
Keywords: Astaxanthin, clownfish, pigment, salinity stress, copper stress.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
anh_huong_cua_astaxanthin_bo_sung_vao_thuc_an_len_su_tich_lu.pdf