KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
4.1. Kết luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy giữa các công thức
xử lý khác nhau cho tỷ lệ nảy mầm và sức sống của
hạt giống khác nhau.
Sau thời gian 3 tháng bảo quản ở điều kiện
thường, tỷ lệ nảy mầm và sức sống của hạt giống giữa
các công thức xử lý so với đối chứng (không xử lý) là
không đáng kể và tỷ lệ nảy mầm của các công thức
sử lý cao hơn so với không xử lý từ 0,7% - 1,5% và
chiều dài thân lá dài hơn từ 0,5 - 3,3 cm.
Sau thời gian 6 tháng bảo quản ở điều kiện
thường cho thấy, trong 7 công thức xử lý khác nhau
thì công thức CT4 (Cruiser plus + Thiam-ethoxam
+ Copper oxychloride) duy trì được tỷ lệ nảy mầm
cao hơn công thức CT1 (không xử lý) 5,0% (89,80%
so với 94,80%) và CT7 (Polymer + Thiam + ethoxam
+ Copper oxychloride) cao hơn CT1 (không xử lý)
5,7% (89,80% so với 95,50%).
4.2. Đề nghị
Tiếp tục nghiên cứu đối với các loại hóa chất khác
để đưa ra công thức xử lý và bảo quản thích hợp cho
từng giống ngô khác nhau.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 13 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của các công thức xử lý khác nhau đến chất lượng hạt giống ngô, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
88
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 3(100)/2019
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CÔNG THỨC XỬ LÝ KHÁC NHAU
ĐẾN CHẤT LƯỢNG HẠT GIỐNG NGÔ
Nguyễn Hữu Hùng1, Đỗ Văn Dũng1, Lương Thái Hà1,
Hoàng Kim Thoa1, Nguyễn Phương Thảo1
TÓM TẮT
Phần lớn hạt giống ngô lai trên thế giới được xử lý bằng thuốc trừ nấm bệnh hoặc kết hợp thuốc trừ nấm và thuốc
trừ sâu trước khi bảo quản. Lợi ích của việc xử lý là: Hạn chế sự lây lan nguồn bệnh; bảo vệ hạt giống tránh sự xâm
nhập của côn trùng; tăng tỷ lệ nảy mầm; bảo vệ hạt giống tránh sự thâm nhập của côn trùng trong bảo quản. Nghiên
cứu được thực hiện tại Viện Nghiên cứu Ngô với mục tiêu đánh giá ảnh hưởng của 7 công thức xử lý khác nhau đến
chất lượng hạt giống ngô trong thời gian 6 tháng bảo quản ở điều kiện thường. Kết quả nghiên cứu cho thấy giữa
các công thức xử lý khác nhau cho tỷ lệ nảy mầm và sức sống của hạt giống khác nhau, trong đó CT4 (Cruiser plus
+ Thiam-ethoxam + Copper oxychloride) duy trì được tỷ lệ nảy mầm cao hơn công thức CT1 (không xử lý) 5,0% và
CT7 (Polymer + Thiam + ethoxam + Copper oxychloride) cao hơn CT1 5,7%.
Từ khóa: Xử lý hạt giống, polymer, tỷ lệ nảy mầm
1 Viện Nghiên cứu Ngô
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngô (Zea mays L.) là cây lương thực quan trọng
thứ ba trong nền kinh tế thế giới. Nó đóng vai trò
quan trọng trong làm lương thực cho con người,
thức ăn cho gia súc bởi là nguồn cung cấp dồi dào
tinh bột, protein, chất béo, dầu và đường. Hạt ngô
rất giàu vitamin A, C, E, carbohydrate, chất khoáng
cần thiết và có chứa khoảng 8 - 10% protein. Ngô có
năng suất cao, dễ chế biến và chi phí ít hơn so với các
loại cây lương thực khác. Hạt giống là cơ thể sống,
nhưng sức sống của hạt giống sẽ giảm dần theo thời
gian. Đặc biệt ở các nước vùng nhiệt đới ẩm thì sức
sống của hạt giống suy giảm nhanh do quá trình tác
động của nhiệt độ, ẩm độ cao cũng như sự phát triển
và hoạt động của các loại nấm bệnh và những côn
trùng gây hại đối với hạt giống.
Với diện tích gieo trồng ngô hàng năm khoảng
1,1 triệu ha, Việt Nam cần khoảng 22.000 - 26.000
tấn hạt ngô giống. Để cung cấp cho sản xuất hạt
giống ngô đảm bảo chất lượng thì công tác sản xuất,
sấy, chế biến, xử lý và bảo hạt giống cần được thực
hiện tốt. Thể chất hạt giống có ý nghĩa quan trọng
đối với chất lượng hạt giống ngô. Một lô hạt giống
với đầy đủ tiêu chuẩn về tỷ lệ nảy mầm, sức sống, độ
thuần nhưng nếu bị nhiễm mầm bệnh, sâu mọt mà
không được xử lý thuốc thì lô hạt giống đó sẽ nhanh
chóng giảm chất lượng hay thậm trí có thể gây thiệt
hại cho nông dân bởi sự lây lan những bệnh dịch
đó. Hạt giống bị ảnh hưởng bởi mầm bệnh (nấm,
vi khuẩn, virus), sâu mọt trong suốt quá trình sống
đặc biệt là từ sau thu hoạch đến khi gieo trồng.
Ở Việt Nam với điều kiện nóng ẩm rất phù hợp
cho các loại nấm bệnh, sâu mọt phát triển và lây lan
trong quá trình bảo quản hạt giống, làm cho hạt
giống nhanh chóng giảm chất lượng và mất sức nảy
mầm. Vì vậy, việc đầu tư nghiên cứu những hóa chất
và công thức xử lý nhằm duy trì chất lượng hạt giống
ngô là điều cần thiết.
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là giống ngô lai LVN092.
- Hóa chất sử dụng: Thiam-ethoxam, Copper
oxychloride, Cruiser plus và Polymer.
2.2. Phương pháp thực hiện thí nghiệm
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu
- Trước khi xử lý với hóa chất ở các công
thức khác nhau, hạt giống ngô LVN092 được lấy
mẫu, đánh giá và thử tỷ lệ nảy mầm. Kết quả cho
thấy tỷ lệ nảy mầm của giống LVN092 đạt 97,5%.
- Hạt giống được xử lý với hóa chất ở 7 công
thức (CT1, CT2, CT3, CT4, CT5, CT6, CT7) cụ thể
như sau: CT1: không xử lý; CT2: Cruiser plus (1);
CT3: Cruiser plus (1) + Thiam-ethoxam (2);
CT4: Cruiser plus (1) + Thiam-ethoxam (2) + Copper
oxychloride (3); CT5: Polymer (4); CT6: Polymer
(4) + Thiam-ethoxam (2); CT7: Polymer (4) +
Thiam-ethoxam (2) + Copper oxychloride (3).
Trong đó, (1), (2), (3), (4) là các nồng độ khác
nhau, cụ thể: (1) 2 ml Cruiser plus cho 1 kg hạt
giống; (2) 3 ml Thiam-ethoxam 30% FS cho 1 kg
89
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 3(100)/2019
hạt giống; (3) 0,5 g Copper oxychloride cho 1 kg hạt
giống; (4) 2 ml Polymer cho 1 kg hạt giống.
- Thí nghiệm được thiết kế theo khối ngẫu nhiên
hoàn thiện (RCBD) với 4 lần nhắc lại, ở mỗi công
thức sau khi xử lý, hạt giống được đựng trong 2 lớp
túi (polyethylene và bao dứa) và bảo quản trong điều
kiện thường, theo định kỳ sau 3 tháng và 6 tháng
tiến hành lấy mẫu để đánh giá tỷ lệ nảy mầm và các
chỉ số về sức sống của hạt giống. Ở mỗi công thức
xử lý lấy mẫu 400 hạt để thử nảy mầm (mỗi lần nhắc
100 hạt), sau đó hạt giống được ủ nảy mầm trong
phòng có điều khiển nhiệt độ (ở nhiệt độ 28oC).
Hằng ngày, tiến hành theo dõi, đếm cây và xác định
tỷ lệ nảy mầm. Sau 10 ngày cây con được thu hoạch
để xác định các chỉ tiêu sinh trưởng.
2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu
- Tỷ lệ nảy mầm (%): Tỷ lệ nảy mầm (GP) được
thực hiện theo Scott và cộng tác viên (1984); ISTA
(1999) và tính bằng công thức:
GP (%) = ˟ 100
Tổng số hạt nảy mầm
Tổng số hạt đem thử
- Tốc độ nảy mầm: Tốc độ nảy mầm (SG) được
thực hiện theo Jones và Sanders (1987) và được tính
bằng công thức sau:
SG = S[n1/d1 + n2 - n1/d2 + ... + nn – nn-1/dn]
Trong đó: n là số hạt nảy mầm trong một ngày;
d là số ngày.
- Thời gian nảy mầm trung bình (ngày): Thời gian
nảy mầm trung bình (MGT) được thực hiện theo
Orchard (1977) và được tính bằng công thức sau:
MGT = Sfx/Sf
Trong đó: f là số hạt nảy mầm ở ngày x.
- Chỉ số cường lực của cây con (SVI): Chỉ số
cường lực được thực hiện theo Abdul-Baki và
Anderson (1973) và được tính theo công thức sau:
SVI = tỷ lệ nảy mầm (%) ˟ chiều dài mầm
- Ngày đầu nảy mầm (ngày): Ngày đầu nảy
mầm (FDG) là ngày mà mầm đầu tiên xuất hiện
Kader (1998).
- Ngày cuối nảy mầm (ngày): Ngày cuối nảy
mầm (LDG) là ngày mà mầm cuối cùng xuất hiện
Kader (1998).
- Hệ số tốc độ nảy mầm: Hệ số tốc độ nảy mầm
(CVG) được thực hiện theo Jones và Sanders (1987)
và được tính bằng công thức:
CVG = N1 + N2 + ... + Ni/100 ˟ N1T1 + ... + NiTi
Trong đó: N là số hạt nảy mầm mỗi ngày; T là số
ngày tương ứng với N.
- Chỉ số nảy mầm: Chỉ số nảy mầm (GI) được
thực hiện theo Bench Arnold và cộng tác viên
(1991) và được tính bằng công thức:
GI = (10 ˟ N1) + (9 ˟ N2) + .... + (1 ˟ N10)
Trong đó: N1, N2 ... N10 là số hạt nảy mầm ở ngày
thứ 1, 2 ... 10.
- Chỉ số tỷ lệ nảy mầm (% ngày): Chỉ số tỷ lệ nảy
mầm (GRI) được thực hiện theo Esechi (1994) và
được tính bằng công thức:
GRI = G1/1 + G2/2 + ... + Gx/x
Trong đó: G1 là phần trăm nảy mầm ˟ 100 ở ngày
thứ nhất sau khi thử nảy mầm; G2 là phần trăm nảy
mầm ˟ 100 ở ngày thứ hai sau khi thử nảy mầm.
- Thời gian nảy mầm (ngày): Thời gian nảy mầm
(TSG) là khoảng thời gian giữa ngày đầu và ngày
cuối suất hiện mầm Kader (1998).
- Chiều dài rễ (cm): 5 cây con được lựa chọn ngẫu
nhiên ở mỗi công thức và ở cả 4 lần nhắc lại ở ngày
thứ 10. Chiều dài rễ được đo từ cổ rễ đến chóp rễ dài
nhất và tính bằng centimet.
- Chiều dài thân lá (cm): 5 cây con được lựa chọn
ngẫu nhiên ở mỗi công thức và ở cả 4 lần nhắc lại ở
ngày thứ 10. Chiều dài thân lá được đo từ cổ rễ đến
chóp lá dài nhất và tính bằng centimet.
- Khối lượng chất tươi cây con (g): 5 cây con đã
được đo chiều dài rễ và chiều dài thân lá sau đó đem
cân và được tính bằng gam.
- Khối lượng chất khô cây con (g): 5 cây con đã
được đo chiều dài rễ và chiều dài thân lá được cho
vào túi giấy đưa vào tủ sấy ở nhiệt độ 72oC trong thời
gian 24 giờ sau đó đem cân và được tính bằng gam.
2.2.3. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được thu thập và xử lý bằng phần mềm
Excel và IRRISTAT 5.0.
2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 6 đến tháng
12 năm 2018 tại Viện Nghiên cứu Ngô, Đan Phượng
- Hà Nội.
90
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 3(100)/2019
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Ảnh hưởng của các công thức xử lý đến giống
ngô LVN092 sau 3 tháng bảo quản
3.1.1. Ảnh hưởng của các công thức xử lý đến tỷ
lệ nảy mầm của giống ngô LVN092 sau 3 tháng
bảo quản
Số liệu bảng 1 cho thấy hầu hết các công thức, hạt
giống bắt đầu xuất hiện mầm (ngày đầu nảy mầm)
ở ngày thứ 3 và kết thúc (ngày cuối nảy mầm) ngày
thứ 5 sau khi thử nảy mầm. Như vậy thời gian nảy
mầm của giống LVN092 ở tất cả các công thức là
3 ngày. Tuy nhiên, ở các công thức khác nhau thì
tỷ lệ mầm xuất hiện ở các ngày là khác nhau. Ở
những công thức có số mầm xuất hiện ở những
ngày đầu nảy mầm càng nhiều thì sức sống và tốc
độ nảy mầm ở công thức đó càng tốt. Kết quả cho
thấy công thức CT7 (Polymer + Thiam-ethoxam +
Copper oxychloride) và CT4 (Cruiser plus + Thiam-
ethoxam + Copper oxychloride) có tốc độ nảy mầm
nhanh nhất (29,6 và 28,8), trong khi công thức CT1
(không xử lý) và công thức CT5 (Polymer) có tốc độ
nảy mầm chậm hơn (25,5 và 26,2).
Sau 3 tháng xử lý hóa chất ở điều kiện thường,
tỷ lệ nảy mầm không có sự sai khác có ý nghĩa giữa
công thức xử lý và không sử lý. Tuy nhiên khi so sánh
giữa các công thức thì CT4 (Cruiser plus + Thiam-
ethoxam + Copper oxychloride) và CT7 (Polymer
+ Thiam-ethoxam + Copper oxychloride) vẫn duy
trì đươc tỷ lệ nảy mầm của hạt giống LVN092 như
trước khi xử lý (97,50%), các công thức còn lại có tỷ
lệ nảy mầm dao động từ 96,0% đến 96,75%.
Bảng 1. Ảnh hưởng của các công thức xử lý khác nhau đến tỷ lệ nảy mầm và sức sống
của giống ngô lai LVN092 sau 3 tháng bảo quản ở điều kiện thường
Ngày nảy mầm Đơn vị tính
Trước
khi
xử lý
Công thức xử lý
LSD0,05
CV
(%)CT1 CT2 CT3 CT4 CT5 CT6 CT7
Ngày 1 % 0 0 0 0 0 0 0 0 - -
Ngày 2 % 0 0 0 0 0 0 0 0 - -
Ngày 3 % 64,25 22,00 47,25 46,00 54,00 28,25 32,75 62,25 - -
Ngày 4 % 32,25 68,25 45,75 49,50 43,00 64,25 62,00 35,00 - -
Ngày 5 % 1,00 5,75 3,00 0,75 0,25 3,50 2,00 0,25 - -
Ngày 6 % 0 0 0 0 0 0 0 0 - -
Ngày 7 % 0 0 0 0 0 0 0 0 - -
Ngày 8 % 0 0 0 0 0 0 0 0 - -
Ngày 9 % 0 0 0 0 0 0 0 0 - -
Ngày 10 % 0 0 0 0 0 0 0 0 - -
Chỉ số
Tỷ lệ nảy mầm % 97,50 96,00 96,00 96,25 97,25 96,00 96,75 97,50 4,7 11,2
Ngày đầu nảy mầm ngày 3,0 3,0 3,0 3,0 3,0 3,0 3,0 3,0 - -
Ngày cuối nảy mầm ngày 5,0 5,0 5,0 5,0 5,0 5,0 5,0 5,0 - -
Thời gian nảy mầm ngày 3,0 3,0 3,0 3,0 3,0 3,0 3,0 3,0 - -
Thời gian nảy mầm
trung bình ngày 3,4 3,8 3,5 3,5 3,4 3,7 3,7 3,4 - -
Chỉ số nảy mầm 745,8 688,3 716,3 719,0 734,5 696,8 708,0 744,5 - -
Chỉ số tỷ lệ nảy mầm % ngày 29,7 25,5 27,8 27,9 28,8 26,2 26,8 29,6 - -
Tốc độ nảy mầm 29,7 25,5 27,8 27,9 28,8 26,2 26,8 29,6 - -
Hệ số tốc độ
nảy mầm 29,8 26,1 28,3 28,3 29,0 26,7 27,2 29,7 - -
Chỉ số cường lực 4.592 3.672 4.030 4.141 4.479 3.958 4.247 4.507 - -
91
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 3(100)/2019
Chỉ số cường lực là một trong yếu tố đánh giá
sức sống của hạt giống. Kết quả theo dõi cho thấy
chỉ số cường lực của hạt giống ở các công thức xử lý
dao động từ 3.672 - 4.507, trong đó công thức CT1
(không xử lý) có chỉ số cường lực thấp nhất (3.672),
tiếp đến là CT5 (3.958), trong khi công thức CT7
(Polymer + Thiam-ethoxam + Copper oxychloride)
có chỉ số cường lực cao nhất (4.507) (Bảng 1).
3.1.2. Ảnh hưởng của các công thức xử lý đến
khả năng sinh trưởng của giống ngô LVN092 sau
3 tháng bảo quản
Chiều dài thân lá của giống LVN092 ở các
công thức xử lý sau 3 tháng bảo quản giao động từ
20,20 - 24,33 cm, trong đó công thức CT1 (không
xử lý) có chiều dài ngắn nhất (20,20 cm), công thức
CT4 (Cruiser plus + Thiam-ethoxam + Copper
oxychloride) và CT7 (Polymer + Thiam-ethoxam +
Copper oxychloride) có chiều dài thân lá dài nhất
(24,33 cm). Chiều dài rễ ở các công thức xử lý sau
3 tháng bảo quản có xu hướng giảm so với lúc
trước khi xử lý, tuy nhiên mức giảm không đáng kể
(Bảng 2).
Bảng 2. Ảnh hưởng của các công thức xử lý khác nhau
đến khả năng sinh trưởng của giống ngô lai LVN092
sau 3 tháng bảo quản ở điều kiện thường
Công thức
Chiều dài (cm) Khối
lượng
chất
tươi
(g/cây)
Khối
lượng
chất
khô
(g/cây)
Thân
lá Rễ Tổng
Trước khi
xử lý 24,7 22,4 47,1 1,655 0,615
Sau khi xử
lý 3 tháng
CT1 20,20 18,05 38,25 1,400 0,430
CT2 21,18 20,80 41,98 1,450 0,480
CT3 22,43 20,60 43,03 1,510 0,505
CT4 24,33 19,68 44,00 1,640 0,598
CT5 22,05 19,18 41,23 1,430 0,445
CT6 23,33 20,58 43,90 1,520 0,510
CT7 24,33 21,90 46,23 1,645 0,601
LSD0,05 3,11 2,98 - 0,289 0,085
CV (%) 13,4 11,4 - 8,17 14,2
Khối lượng vật chất khô của cây là chỉ tiêu cơ bản
để đánh giá khả năng sinh trưởng và tích lũy của cây
con. Số liệu bảng 2 cho thấy ở các công thức xử lý
khác nhau thì có khối lượng chất khô khác nhau và
dao động từ 0,430 g/cây đến 0,601 g/cây.
3.2. Ảnh hưởng của các công thức xử lý đến giống
ngô LVN092 sau 6 tháng bảo quản
3.2.1. Ảnh hưởng của các công thức xử lý đến tỷ
lệ nảy mầm của giống ngô LVN092 sau 6 tháng
bảo quản
Sau thời gian 6 tháng bảo quản hầu hết các công
thức xử lý, hạt giống vẫn duy trì được thời gian nảy
mầm trong 3 ngày. Tuy nhiên, ở ngày đầu xuất hiện
nảy mầm (ngày đầu nảy mầm), tỷ lệ cây mọc đã suy
giảm so với ở thời kỳ trước và sau 3 tháng xử lý. Trong
thời gian 3 ngày nảy mầm (ngày thứ 3 đến ngày
thứ 5) thì cây con xuất hiện chủ yếu ở ngày thứ 4.
Ở các công thức khác nhau thì tỷ lệ mầm xuất hiện
ở các ngày cũng khác nhau. Ở những công thức có
chỉ số nảy mầm và hệ số tôc độ nảy mầm cao đồng
nghĩa với có sức sống cao. Kết quả cho thấy trong số
các công thức xử lý sau 6 tháng bảo quản thì CT7
(Polymer + Thiam-ethoxam + Copper oxychloride)
và CT4 (Cruiser plus + Thiam-ethoxam + Copper
oxychloride) có chỉ số nảy mầm cao nhất (712,5 và
705,4) đồng thời cũng cho hệ số tốc độ nảy mầm
nhanh nhất (28,3 và 28,1).
Chỉ số cường lực cũng là một trong những yếu tố
cơ bản để đánh giá sức sống của hạt giống. Kết quả
sau 6 tháng bảo quản cho thấy giữa các công thức xử
lý khác nhau có chỉ số cường lực khác nhau và dao
động từ 3.193 - 4.194 trong đó công thức CT1 (không
xử lý) có chỉ số cường lực thấp nhất (3.193) và CT7
(Polymer + Thiam-ethoxam + Copper oxychloride)
có chỉ số cường lực cao nhất (4.194).
Sau 6 tháng xử lý hóa chất ở điều kiện thường,
tỷ lệ nảy mầm ở các công thức xử lý khác nhau là
khác nhau. Trong đó, công thức CT4 (Cruiser plus
+ Thiam-ethoxam + Copper oxychloride) và CT7
(Polymer + Thiam-ethoxam + Copper oxychloride)
duy trì được tỷ lệ nảy mầm ở mức cao so với trước
khi xử lý (CT4 = 94,80 %; CT7 = 95,50%). Công thức
CT1 có tỷ lệ nảy mầm thấp nhất (89,80%).
Như vậy, sau 6 tháng bảo quản ở điều kiện
thường, khi so sánh với công thức CT1 (không xử lý)
thì công thức CT4 (Cruiser plus + Thiam-ethoxam +
Copper oxychloride) duy trì được tỷ lệ nảy mầm cao
hơn 5,0% (89,80% so với 94,80%) và CT7 (Polymer
+ Thiam-ethoxam + Copper oxychloride) cao hơn
5,7% (89,80% so với 95,50%).
92
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 3(100)/2019
Bảng 3. Ảnh hưởng của các công thức xử lý khác nhau đến tỷ lệ nảy mầm và sức sống
của giống ngô lai LVN092 sau 6 tháng bảo quản ở điều kiện thường
Ngày nảy mầm Đơn vị tính
Trước
khi
xử lý
Công thức xử lý
LSD0,05 CV%CT1 CT2 CT3 CT4 CT5 CT6 CT7
Ngày 1 % 0 0 0 0 0 0 0 0 - -
Ngày 2 % 0 0 0 0 0 0 0 0 - -
Ngày 3 % 64,25 16,50 41,09 40,12 48,55 31,25 35,50 50,25 - -
Ngày 4 % 32,25 63,30 43,50 46,75 39,50 53,00 50,25 39,00 - -
Ngày 5 % 1,00 10,00 8,00 7,50 6,75 9,00 8,25 6,25 - -
Ngày 6 % 0 0 0 0 0 0 0 0 - -
Ngày 7 % 0 0 0 0 0 0 0 0 - -
Ngày 8 % 0 0 0 0 0 0 0 0 - -
Ngày 9 % 0 0 0 0 0 0 0 0 - -
Ngày 10 % 0 0 0 0 0 0 0 0 - -
Chỉ số
Tỷ lệ nảy mầm % 97,50 89,80 92,59 94,37 94,80 93,25 94,00 95,50 5,1 9,7
Ngày đầu nảy mầm ngày 3,0 3,0 3,0 3,0 3,0 3,0 3,0 3,0 - -
Ngày cuối nảy mầm ngày 5,0 5,0 5,0 5,0 5,0 5,0 5,0 5,0 - -
Thời gian nảy mầm ngày 3,0 3,0 3,0 3,0 3,0 3,0 3,0 3,0 - -
Thời gian nảy mầm
trung bình ngày 3,4 3,9 3,6 3,7 3,6 3,8 3,7 3,5 - -
Chỉ số nảy mầm 745,8 634,8 681,2 693,2 705,4 675,0 685,3 712,5 - -
Chỉ số tỷ lệ nảy mầm % ngày 29,7 23,3 26,2 26,6 27,4 25,5 26,0 27,8 - -
Tốc độ nảy mầm 29,7 23,3 26,2 26,6 27,4 25,5 26,0 27,8 - -
Hệ số tốc độ
nảy mầm 29,8 25,5 27,5 27,4 28,1 26,6 27,0 28,3 - -
Chỉ số cường lực 4.573 3.193 3.614 3.857 3.963 3.614 3.920 4.194 - -
3.2.2. Ảnh hưởng của các công thức xử lý đến
khả năng sinh trưởng của giống ngô LVN092 sau
6 tháng bảo quản
Số liệu bảng 4 cho thấy sau 6 tháng bảo quản,
chiều dài cây con của giống LVN092 ở các công
thức xử lý dao động từ 35,58 - 43,91 cm. Trong
số 7 công thức thì CT1 (không xử lý) có chiều
dài cây con ngắn nhất (35,58 cm), công thức CT7
(Polymer + Thiam-ethoxam + Copper oxychloride)
có chiều dài cây con dài nhất (43,91 cm) tiếp đến
là CT4 (Cruiser plus + Thiam-ethoxam + Copper
oxychloride) với 42,81 cm.
Khối lượng chất tươi và khối lượng chất khô của
cây giảm sau 6 tháng bảo quản ở điều kiện thường.
Tuy nhiên mức độ giảm ở các công thức xử lý khác
nhau là khác nhau. Số liệu bảng 4 cho thấy trước
khi xử lý thì khối lượng chất khô cây con của giống
LVN092 là 0,615 g/cây, sau 6 tháng thì ở công thức
CT1 còn là 0,417 g/cây, trong khi công thức CT7 vẫn
duy trì ở mức 0,530 g/cây. Khối lượng chất tươi và
chất khô của cây là chỉ tiêu để đánh giá khả năng sinh
trưởng và tích lũy của cây con. Ở những công thức
vẫn duy trì được khối lượng chất tươi và chất khô cao
cho thấy sức sống của hạt giống cao hơn ở các công
thức có khối lượng chất tươi và chất khô thấp.
93
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 3(100)/2019
Bảng 4. Ảnh hưởng của các công thức xử lý khác nhau
đến khả năng sinh trưởng của giống ngô lai LVN092
sau 6 tháng bảo quản ở điều kiện thường
Công
thức
Chiều dài (cm) Khối
lượng
chất
tươi
(g/cây)
Khối
lượng
chất
khô
(g/cây)
Thân
lá Rễ Tổng
Trước khi
xử lý 22,2 24,7 46,9 1,655 0,615
Sau khi xử
lý 6 tháng
CT1 18,79 16,79 35,58 1,355 0,417
CT2 19,69 19,35 39,04 1,390 0,450
CT3 21,30 19,57 40,87 1,400 0,465
CT4 23,11 19,70 42,81 1,525 0,520
CT5 20,73 18,02 38,75 1,390 0,435
CT6 22,16 19,55 41,71 1,405 0,455
CT7 23,09 20,82 43,91 1,530 0,530
LSD0,05 3,36 3,02 0,275 0,085
CV (%) 12,7 10,8 9,54 12,8
IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
4.1. Kết luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy giữa các công thức
xử lý khác nhau cho tỷ lệ nảy mầm và sức sống của
hạt giống khác nhau.
Sau thời gian 3 tháng bảo quản ở điều kiện
thường, tỷ lệ nảy mầm và sức sống của hạt giống giữa
các công thức xử lý so với đối chứng (không xử lý) là
không đáng kể và tỷ lệ nảy mầm của các công thức
sử lý cao hơn so với không xử lý từ 0,7% - 1,5% và
chiều dài thân lá dài hơn từ 0,5 - 3,3 cm.
Sau thời gian 6 tháng bảo quản ở điều kiện
thường cho thấy, trong 7 công thức xử lý khác nhau
thì công thức CT4 (Cruiser plus + Thiam-ethoxam
+ Copper oxychloride) duy trì được tỷ lệ nảy mầm
cao hơn công thức CT1 (không xử lý) 5,0% (89,80%
so với 94,80%) và CT7 (Polymer + Thiam + ethoxam
+ Copper oxychloride) cao hơn CT1 (không xử lý)
5,7% (89,80% so với 95,50%).
4.2. Đề nghị
Tiếp tục nghiên cứu đối với các loại hóa chất khác
để đưa ra công thức xử lý và bảo quản thích hợp cho
từng giống ngô khác nhau.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Abdul-Baki, A. S. and Anderson, J. D., 1973. Vigour
determination in soybean by multiple criteria.
Crop Sci., 13: 630-633.
Bench A.R., Fenner, M. and Edwards, P., 1991. Changes
in germinability, ABA content and ABA embryonic
sensitivity in developing seeds of Sorghum bicolor
(L.) Moench induced by water stress during grain
filling. New Phytologist, 118: 339-347.
Esechie, H., 1994. Interaction of salinity and
temperature on the germination of sorghum. Journal
of Agronomy and Crop Science, 172: 194-199.
ISTA, 1999. International Rules for Seed Testing. Seed
Sci. and Technol., Supplement Rules, 27: 25-30.
Jones, K. and Sanders, D., 1987. The influence of
soaking pepper seed in water or potassium salt
solutions on germination at three temperatures.
Journal of Seed Technology, 11: 97-102.
Kader (Al-Mudaris), M., Omari, M. and Hattar, B.,
1998. Maximizing germination percentage and
speed of four Australian indigenous tree species.
Dirasat Agricultural Sciences, 25: 157-169.
Orchard, T., 1977. Estimating the parameters of plant
seedling emergence. Seed Science and Technology,
5: 61-69.
Scott, S., Jones, R. and Williams, W., 1984. Review of
data analysis methods for seed germination. Crop
Science, 24: 1192-1199.
Effect of different seed treatments on storability and seed quality of maize
Nguyen Huu Hung, Do Van Dung, Luong Thai Ha,
Hoang Kim Thoa , Nguyen Thi Thao
Abstract
Most of hybrid maize seeds were treated with fungicides or combined fungicides and pesticides before planting and
storage. The benefit of seed treatment is to limit the spread of pathogens, protection of seed from insect invasion,
increase germination rate and prevent of insects infection during seed storage. The study was conducted at Maize
Research Institute with the aim of assessing the effect of 7 different treatments on maize seed quality during 6 months
of storage in normal conditions. The results showed that germination rate and vigour of maize seeds were affected
by the treatments. Among them, the treatments CT7 (Polymer + Thiam + ethoxam + Copper oxychloride) and
CT4 (Cruiser plus + Thiam-ethoxam + Copper oxychloride) maintained the germination rate were 5.7% and 5.0%
respectively higher in comparison to treatment CT1 (untreated).
Keywords: Seed treatment; polymer; germination rate
Ngày nhận bài: 15/2/2019
Ngày phản biện: 23/2/2019
Người phản biện: TS. Nguyễn Tiến Trường
Ngày duyệt đăng: 11/3/2019
Các file đính kèm theo tài liệu này:
anh_huong_cua_cac_cong_thuc_xu_ly_khac_nhau_den_chat_luong_h.pdf