Từ số liệu ở bảng 2 có thể thấy, mật độ các loài bọ xít bắt mồi ở công thức chè KCB đều cao
hơn ở CCB, trừ tập hợp 2 loài bọ xít cổ ngỗng đen và bọ xít cổ ngỗng đỏ. Một trong những lý
do được giải thích làđối với bọ xítbọ xít đầu tròn Orius sauteri và bọ xít giả bắt mồi Nabis
capsiformis thức ăn chính của chúng là bọ trĩ và trứng rầy xanh, trong khi rầy xanh và bọ trĩ ưa
thích ánh sáng trực xạ, gây hại nặng ở các công thức chè KCBđã dẫn đến mật độ của 2 loài bọ
xít này đạt cao. Riêng thức ăn của tập hợp 2 loài bọ xít cổ ngỗng đen và bọ xít cổ ngỗng đỏ bọ
xít cổ ngỗng lại là sâu non hại chè bộCánh vảy không chịu ảnh hưởng ở công thức KCB và
CCB, vì vậy, sự thay đổi của tập hợp 2 loài bọ xít cổ ngỗng là không rõ rệt.
Đối với mật độ các loài bọ rùa bắt mồi, kết quả điều tra không thấy có sự sai khác giữa mật
độ các loài bọ rùa đỏ, bọ rùa 6 vằn và tập hợp các loài bọ rùa giữa 2 công thức thí nghiệm. Điều
này có thể được giải thích do mật độ rệp (là thức ăn chính của bọ rùa) không chịu ảnh hưởng
của cây chè KCB và CCB (Bảng 2).
Ảnh hưởng của cây che bóng đến mối quan hệ giữa một số bọ rùa bắt mồi và rệp hại
trên chè
Trong tự nhiên, sự phát sinh phát triển của mỗi loài côn trùng bắt mồi thường có mối liên hệ
với vật mồi là các loài sâu hại trên chè. Ảnh hưởng của mối quan hệ này được thể hiện ở bảng 3.
Mối quan hệ giữa bọ rùa đỏ, bọ rùa sáu vằn và giữa tập hợp bọ rùa với rệp là mối quan hệ
nghịch và chặt, thể hiện bằng chỉ số tương quan R=(-) 0,90-0,97. Qua chỉ số tương quan cho
thấymối quan hệ giữa một số bọ rùa bắt mồi và rệp hại trên chèkhông có sự sai khác ở công
thức chè KCB và CCB. Số liệu ở bảng 1 cũng chỉ rõ cây che bóng không ảnh hưởng đến bọ rùa
và vật mồi của nó là rệp, cũng như mối tương quan giữa chúng ở trên chè ở các công thức KCB
và CCB.
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 7 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của cây che bóng đến mật độ của các loài côn trùng bắt mồi và sâu hại chính trên chè và mối quan hệ giữa bọ rùa với rệp hại chè tại Phú Thọ, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC VỀ SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT LẦN THỨ 7
1949
ẢNH HƢỞNG CỦA CÂY CHE BÓNG ĐẾN MẬT ĐỘ CỦA CÁC LOÀI CÔN
TRÙNG BẮT MỒI VÀ SÂU HẠI CHÍNH TRÊN CHÈ VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA
BỌ RÙA VỚI RỆP HẠI CHÈ TẠI PHÚ THỌ
Vũ Thị Thƣơng1,3, Trƣơng Xuân Lam2,3
Nguyễn Thị Phƣơng Liên2,3, Bùi Ngân Tâm1
1Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
2
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật,
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
3
Học viện Khoa học và Công nghệ,
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Cây che bóng tạo ra các yếu tố tiểu khí hậu trong các ruộng chè (làm thay đổi cường độ ánh
sáng, nhiệt độ, ẩm độ, tốc độ gió) và ảnh hưởng không nhỏ đến mật độ của quần thể sâu hại và
các loài côn trùng bắt mồi trên chè. Ngoài ra, cây che bóng còn có tác dụng chống xói mòn đất,
cung cấp thêm dinh dưỡng cho đất, cải tạo đất đối với cây che bóng họ đậu.
Theo Nguyễn Văn Thiệp (2000) cây che bóng làm thay đổi cường độ chiếu sáng tới cây chè,
ánh sáng ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống thực vật nên gián tiếp ảnh hưởng đến côn trùng ăn
thực vật. Nguyễn Văn Thiệp (2000), Mkwaila et al. (1979) và Rattan (1992) cho rằng loài bọ trĩ
và rầy xanh hại chè thích ánh sáng trực xạ (không có cây che bóng). Tuy nhiên các nghiên cứu
ảnh hưởng của cây che bóng đến các loài sâu hại khác trên chè còn ít được quan tâm.
Chính vì vậy, trong bài báo này chúng tôi nghiên cứu ảnh hưởng của cây che bóng đến một
số loài côn trùng hại và bắt mồi trên chè, cũng như mối quan hệ giữa chúng nhằm bổ sung các
dẫn liệu nghiên cứu về cây che bóng trên chè ở Việt Nam.
I. ĐỐI TƢỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thời gian tiến hành nghiên cứu từ tháng 8 đến tháng 10năm 2016, tại huyện Hạ Hòa và
huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
Tại mỗi một lô chè lựa chọn các ruộng chè có che bóng bởi cây muồng lá nhọn Indigofera
teysmanni Mig. và đối chứng là các ruộng chè không được che bóng. Trên mỗi ruộng thí
nghiệm đã chọn, tiến hành chọn 5 điểm chéo góc, diện tích của mỗi điểm là 1 m2. Tiến hành
điều tra định kỳ 7 ngày 1 lần, từ tháng 8 cho đến tháng 10. Sử dụng khay đập côn trùng, vợt
hoặc ống hút để thu các mẫu côn trùng bắt mồi và vật mồi (sâu hại) có mặt trên mỗi điểm điều
tra. Mỗi lần điều tra từ 25-30 điểmphụ thuộc vào các thời kỳ phát triển của cây chè. Mật độ sâu
cảnh vẩy và côn trùng bắt mồi tính bằng con/m2, rấy xanh con/khay và rệp, bọ trĩ con/búp. Mối
quan hệ giữa bọ rùa bắt mồi với rệp hại trên chè được biểu hiện qua hệ số tương quan R tính
trong Excell.
II. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1. Ảnh hƣởng của cây che bóng đến mật độ của sâu hại trên chè
Kết quả điều tra theo dõi từ tháng 8 đến tháng 10/2016 về các loài sâu hại chè ở hai điều
kiện có cây cây muồng lá nhọn che bóng và không có cây che bóng cho thấy có sự khác nhau về
mật độ (Bảng 1).
.
TIỂU BAN SINH THÁI HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG
1950
Bảng 1
Ảnh hƣởng của cây che bóng đến mật độ của một số loài sâu hại chè phổ biến tại Phú Thọ
Mật độ sâu hại Công thức
Thời gian
8/2016 9/2016 10/2016
Rầy xanh Empoasca
flavescens(con/khay)
CCB 3,60
b
±0,51 7,75
b
±1.21 6,32
b
±1,16
KCB 4,55
a
±0,23 8,4
a
±0,05 6,8
a
±1,23
LSD0,05 0,55 0,38 0,30
Bọ trĩ Physothrips
setiventris (con/búp)
CCB 5,77
b
±0,18 4,76
b
±1,42 3,68
b
±0,97
KCB 6,04
a
±1,15 5,27
a
±1,13 3,93
a
±0,56
LSD0,05 0,19 0,34 0,16
RệpToxoptera
sp.(con/búp)
CCB 1,58
a
±0,22 1,38
a
±0,21 1,01
a
±0,10
KCB 1,31
a
±0,11 1,12
a
±0,08 0,88
a
±0,04
LSD0,05 0,41 0,36 0,25
Sâu hại chè bộ Cánh
vẩy (sâu cuốn
láGracillaria sp.; bọ
nẹtCania
bilinear)(con/m2)
CCB 1,36
a
±0,14 1,23
a
±0,05 1,38
a
±0,06
KCB 1,38
a
±0,17 1,08
a
±0,04 1,37
a
±0,05
LSD0,05 0,10 0,30 0,19
Ghi chú: CCB: Câychè có che bóng; KCB: Cây chè không che bóng; (a), (b) là sai số theo
cột tính theo ANOVA (0,05%)
Ở ruộng có cây che bóng, mật độ rầy xanh thấp hơn mật độ rầy xanh so với ruộng không có
cây che bóng ở cả 3 tháng. Mật độ rầy xanh vào các tháng 8,9 và 10 tương ứng:
3,60±0,51con/khay; 7,75±1,21 con/khay và 6,32±1,16 con/khay. Còn ở ruộng không có cây che
bóng tương ứng 4,55±0,23 con/khay; 8,4±0,05 con/khay và 6,8±1,23 con/khay.
Kết quả điều tra của chúng tôi cho thấy, mật độ bọ trĩ ở nơi không có cây che bóng luôn cao
hơn ở nơi có cây che bóng trong cả 3 tháng điều tra. Mật độ bọ trĩ vào tháng 8,9 và 10 ở ruộng
có cây che bóng tương ứng là 5,77±0,18 con/búp; 4,76±1,42 con/búp và 3,68±0,97 con/búp,
trong khi đó ở ruộng không có cây che bóng tương ứng là 6,04±1,15 con/búp, 5,27±1,13
con/búp và 3,93±0,56 con/búp. Kết quả này cũng cho thấy bọ trĩ trưởng thành ưa thích những
nơi có cường độ chiếu sáng mạnh, ánh sáng trực xạ, bọ trĩ có tập tính hướng sáng như các
nghiên cứu của Nguyễn Văn Thiệp (2000), Mkwaila et al. (1979).
Đối với rệp và sâu hại chè bộ cánh vảy, kết quả của chúng tôi cho thấy cây che bóng không
có ảnh hưởng tới sự phát sinh, diễn biến mật độ của rệp và sâu hại chè bộ cánh vảy. Rệp thường
xuất hiện nhiều từ tháng 10 năm trước đến tháng 5 năm sau. Trong khoảng thời gian này, cường
độ chiếu sáng yếu hơn so với thời gian khác trong năm, thời tiết mát mẻ, ẩm độ cao, cây che
bóng không thể hiện rõ sự ảnh hưởng tới mật độ rệp. Đối với sâu hại chè bộ cánh vảy cũng chưa
thấy có sự sai khác giữa hai công thức có và không có cây che bóng.
2. Ảnh hƣởng của cây che bóng đến mật độ của một số loài côn trùng bắt mồi phổ biến
trên chè
Trong thời gian từ tháng 8-10, tại Phú Thọ chúng tôi đã xác định điều tra một số loài bọ xít
bắt mồi, bọ rùa bắt mồi và tập hợp hai nhóm bắt mồi này trên 2 công thức có che bóng (CCB)và
không có cây che bóng (KCB) (bảng 2).
.
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC VỀ SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT LẦN THỨ 7
1951
Bảng 2
Ảnh hƣởng của cây che bóng đến sự phát sinh, phát triển của một số côn trùng bắt mồi
phổ biến trên chè tại Phú Thọ
Mật độ
(con/m
2
)
Công
thức
Thời gian
08/2016 09/2016 10/2016
Bọ xít đầu tròn
Orius sauteri
CCB 0,79
a
±0,06 1,33
a
±0,22 1,63
a
±0,07
KCB 0,77
a
±0,07 0,65
b
±0,11 1,03
b
±0,06
LSD0,05 0,12 0,10 0,25
Bọ xít cổ ngỗng
đenSycanus
croceovittatus
và bọ xít cổ
ngỗng
đỏSycanusfanelli
CCB 0,75
a
±0,07 1,18
a
±0,15 1,16
a
±0,06
KCB 0,61
b
±0,12 0,83
b
±0,11 0,80
b
±0,06
LSD0,05 0,15 0,20
0,19
Bọ xít giả bắt
mồi Nabis
capsiformis
CCB 0,84
a
±0,05 0,77
a
±0,22 1,05
a
±0,03
KCB 0,28
b
±0,12 0,57
b
±0,05 0,76
b
±0,02
LSD0,05 0,35 0,01 0,21
Tập hợp bọ xít
bắt mồi
CCB
3,44
a
±0,29 3,54
a
±0,41 4,02
b
±0,10
KCB
2,13
b
±0,45 2,54
b
±0,17 3,25
b
±0,07
LSD0,05 0,40 0,25 0,48
Bọ rùa
đỏMicraspis
discolor
CCB
0,91
a
±0,08 1,56
a
±0,02 1,66
a
±0,04
KCB
0,90
a
±0,09 1,37
b
±0,03 1,40
b
±0,06
LSD0,05 0,13 0,5 0,59
Bọ rùa 6 vằn
Menochilus
sexmaculatus
CCB
0,66
a
±0,15 1,31
a
±0,08 1,27
a
±0,12
KCB
0,71
b
±0,12 1,54
a
±0,03 1,37b
a
±0,05
LSD0,05 0,53 0,60 0,44
Tập hợp bọ rùa
bắt mồi
CCB
1,98
a
±0,23 2,97
a
±0,09 3,33
a
±0,15
KCB
2,51
a
±0,21 3,12
a
±0,06 3,17
a
±0,12
LSD0,05 0,62 0,25 0,40
Ghi chú: CCB: Cây chè có che bóng; KCB: Cây chè không che bóng; (a), (b): Sai số theo cột tính
theo ANOVA (P<0,05)
.
TIỂU BAN SINH THÁI HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG
1952
Từ số liệu ở bảng 2 có thể thấy, mật độ các loài bọ xít bắt mồi ở công thức chè KCB đều cao
hơn ở CCB, trừ tập hợp 2 loài bọ xít cổ ngỗng đen và bọ xít cổ ngỗng đỏ. Một trong những lý
do được giải thích làđối với bọ xítbọ xít đầu tròn Orius sauteri và bọ xít giả bắt mồi Nabis
capsiformis thức ăn chính của chúng là bọ trĩ và trứng rầy xanh, trong khi rầy xanh và bọ trĩ ưa
thích ánh sáng trực xạ, gây hại nặng ở các công thức chè KCBđã dẫn đến mật độ của 2 loài bọ
xít này đạt cao. Riêng thức ăn của tập hợp 2 loài bọ xít cổ ngỗng đen và bọ xít cổ ngỗng đỏ bọ
xít cổ ngỗng lại là sâu non hại chè bộCánh vảy không chịu ảnh hưởng ở công thức KCB và
CCB, vì vậy, sự thay đổi của tập hợp 2 loài bọ xít cổ ngỗng là không rõ rệt.
Đối với mật độ các loài bọ rùa bắt mồi, kết quả điều tra không thấy có sự sai khác giữa mật
độ các loài bọ rùa đỏ, bọ rùa 6 vằn và tập hợp các loài bọ rùa giữa 2 công thức thí nghiệm. Điều
này có thể được giải thích do mật độ rệp (là thức ăn chính của bọ rùa) không chịu ảnh hưởng
của cây chè KCB và CCB (Bảng 2).
3. Ảnh hƣởng của cây che bóng đến mối quan hệ giữa một số bọ rùa bắt mồi và rệp hại
trên chè
Trong tự nhiên, sự phát sinh phát triển của mỗi loài côn trùng bắt mồi thường có mối liên hệ
với vật mồi là các loài sâu hại trên chè. Ảnh hưởng của mối quan hệ này được thể hiện ở bảng 3.
Bảng 3
Ảnh hƣởng của cây che bóng đến mối quan hệ giữa bọ rùa bắt mồi và rệp trên nƣơng ch
tại Phú Thọ
STT Mối quan hệ Hệ số tƣơng quan R
CCB KCB
7 Giữa bọ rùa đỏ với rệp (-)0,90 (-)0,97
8 Giữa bọ rùa 6 vằn với rệp (-)0,92 (-)0,91
9 Giữa tập hợp bọ rùa bắt mồi với rệp (-)0,95 (-)0,95
Ghi chú: CCB: Câychè có che bóng; KCB: Cây chè không che bóng; R: Hệ số tương quan (p<0,05);
(-): Nghịch
Mối quan hệ giữa bọ rùa đỏ, bọ rùa sáu vằn và giữa tập hợp bọ rùa với rệp là mối quan hệ
nghịch và chặt, thể hiện bằng chỉ số tương quan R=(-) 0,90-0,97. Qua chỉ số tương quan cho
thấymối quan hệ giữa một số bọ rùa bắt mồi và rệp hại trên chèkhông có sự sai khác ở công
thức chè KCB và CCB. Số liệu ở bảng 1 cũng chỉ rõ cây che bóng không ảnh hưởng đến bọ rùa
và vật mồi của nó là rệp, cũng như mối tương quan giữa chúng ở trên chè ở các công thức KCB
và CCB.
III. KẾT LUẬN
Mật độ rầy xanh và bọ trĩ giảm ở ruộng chè CCB, còn mật độ của rệp và sâu hại chè bộ cánh
vảy không có sự sai khác giữa ruộng chè KCB và CCB
Có sự tăng và giảm mật độ các loài bọ xít bắt mồi ở chè có cây che bóng theo vật mồi. Điều
này không xuất hiện ở bọ rùa đỏ, bọ rùa 6 vằn và tập hợp bọ rùa giữa ruộng chè KCB và CCB.
Giữa bọ rùa đỏ, bọ rùa 6 vằn và giữa tập hợp bọ rùa có mối quan hệ chặt và nghịch với rệp
hại chè ở cả ruộng chè CCB và KCB (R= (-) 0,90-0,97).
.
HỘI NGHỊ KHOA HỌC TOÀN QUỐC VỀ SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT LẦN THỨ 7
1953
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Vũ Thị Thƣơng, Trƣơng Xuân Lam, Nguyễn Thị Phƣơng Liên, 2015. Nghiên cứu bước
đầu thành phần bọ rùa, bọ xít bắt mồi và mối quan hệ giữa một số loài bắt mồi phổ biến với
sâu hại trên cây chè ở Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ. Báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên
sinh vật hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ 6, trang 1712-1718.
2. Nguyễn Văn Thiệp, 2000. Nghiên cứu cơ sở khoa học phòng trừ rầy xanh và bọ trĩ hại chè
vùng Phú Thọ. Luận án tiến sĩ nông nghiệp, trang 50-100.
3. Mkwaila B., Rattan P. S., Grice W. J., 1979. Tea thrips incidence, crop loss and control
measure. Quart. Newsl. TRF of Central African (Malawi). No 53, Jan., p. 4-10.
4. Rattan, P. S., 1992. Pest and disease control in Africa. In tea Cultivation to Consumption.
Edt. by Willson & Cliford. Chapman. & Hall, London, p. 331-352
THE EFFECTS OF SHADE TREE ON THE DENSITY OF PREDATORY
INSECT, PEST AND RELATIONSHIP BETWEEN LADYBIRDS WITH
APHIDS ON TEAS IN PHU THO PROVINCE
Vu Thi Thuong, Truong Xuan Lam, Nguyen Thi Phuong Lien, Bui Ngan Tam
SUMMARY
The study sites were in Ha Hoa district and Yen Lap district, Phu Tho province. We
conducted the investigation during 7 days/one-time from August until October, 2016. We used
insect tray, insect net to collect preys and predators on each site. The density of prey and
predator were calculated by individual/m
2
, individual /trays and individual /buds.
The results in shady trees showed that the density of Empoasca flavescens and Physothrips
setiventrisreduce. But the density of aphids and larval of Lepidoptera was the same in shady
trees and not shady trees. The density of assassin bugs (Sycanus
croceovittatusandSycanusfanelli) were increased, but density of ladybirds was same in shady
trees and not shady trees.
The relationship between Micraspis discolor, Menochilus sexmaculatus with Toxoptera sp.
was closely and the same in shady trees and not shady trees.
.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
anh_huong_cua_cay_che_bong_den_mat_do_cua_cac_loai_con_trung.pdf