Theo một nghiên cứu của John & cs. (2002),
nghiên cứu về hiệu quả của các chất chống oxy
hóa BHA, BHT trong dầu oliu, dầu ngô và hỗn
hợp dầu oliu dầu ngô trong quá trình gia nhiệt
không liên tục ở 175 ± 5°C. BHA và BHT ở nồng
độ 200ppm (0,02%) có tác dụng trong việc chống
lại quá trình oxy hóa của hai loại dầu này. Điều
đó cho thấy các chất bảo quản tổng hợp đã được
nghiên cứu có kết quả tốt trong việc chống lại sự
oxy hóa của một số loại dầu thực vật, tuy nhiên
nó ít được sử dụng hơn do các e ngại về vấn đề
sức khỏe đối với người tiêu dùng. BHA, BHT
cũng đã cho thấy hiệu quả khi bổ sung vào LSO
và WNO ở thí nghiệm trên ở nồng độ 200 ppm,
tuy nhiên hiệu quả này ngang bằng so với khi
bổ sung 3% TSO.
Việc sử dụng các chất chống oxy hóa tự
nhiên cũng đã được nghiên cứu thực hiện trong
việc bảo quản dầu. Ying & cs. (2010) cũng đã
nghiên cứu về tính ổn định oxy hóa của dầu hạt
hướng dương khi bổ sung axit carnosic (chiết
xuất từ cây hương thảo) so với các chất chống
oxy hóa tổng hợp. Kết quả nghiên cứu cho thấy
chất chống oxy hóa tự nhiên axit carnosic có tác
dụng chống oxy hóa mạnh hơn so với BHA và
BHT, tuy nhiên hoạt động chống oxy hóa của nó
thấp hơn TBHQ trong dầu hạt hướng dương.
Điều đó cho thấy các nghiên cứu về các chất
chống oxy hóa tự nhiên đã được nghiên cứu về
hiệu quả của nó so với các chất chống oxy hóa
tổng hợp trong bảo quản dầu. Trong nghiên cứu
này, TSO (chất chống oxy hóa tự nhiên) được
đánh giá là có hiệu quả ngang bằng hoặc hơn so
với việc bổ sung các chất chống oxy hóa tổng hợp
như BHA, BHT.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của dầu hạt chè (camellia sinensis o. kuntze) và một số chất chống oxy hóa đến sự thay đổi chất lượng của dầu hạt lanh và dầu hạt óc chó trong quá trình bảo quản, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Vietnam J. Agri. Sci. 2020, Vol. 18, No. 3: 221-229 Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2020, 18(3): 221-229
www.vnua.edu.vn
221
ẢNH HƯỞNG CỦA DẦU HẠT CHÈ (Camellia sinensis O. Kuntze)
VÀ MỘT SỐ CHẤT CHỐNG OXY HÓA ĐẾN SỰ THAY ĐỔI CHẤT LƯỢNG CỦA DẦU HẠT LANH
VÀ DẦU HẠT ÓC CHÓ TRONG QUÁ TRÌNH BẢO QUẢN
Phan Thị Phương Thảo1,2*, Trần Thị Thu Hằng2, Vũ Hồng Sơn1
1Viện Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
2Khoa Công nghệ thực phẩm, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
*Tác giả liên hệ: phanphuongthao@vnua.edu.vn
Ngày nhận bài: 24.02.2020 Ngày chấp nhận đăng: 17.04.2020
TÓM TẮT
Nghiên cứu này được thực hiện để đánh giá hiệu quả của việc bổ sung dầu hạt chè (Tea Seed Oil, TSO) so
với việc bổ sung một số chất bảo quản như butylated hydroxyanisole (BHA), butylated hydroxytoluene (BHT), d-α-
tocopherol trong quá trình bảo quản các loại dầu dễ bị oxy hóa như dầu hạt lanh (linseed oil, LSO) và dầu hạt óc
chó (walnut oil, WNO). Các trị số peroxit (peroxide value, PV) và p-anisidine (p-AV) được theo dõi trong quá trình
oxy hóa của hai loại dầu tại thời điểm 0 và 12 ngày bảo quản. Giá trị Totox đánh giá sự tạo thành các sản phẩm
oxy hóa bậc một và bậc hai của LSO sau 12 ngày bảo quản ở công thức không bổ sung chất bảo quản và các
công thức bổ sung 0,02% (BHA + BHT), 0,03% d-α-tocopherol, 3% TSO, 6% TSO lần lượt là 176,06; 139,3;
154,38; 138,34 và 110,31. Với, WNO chỉ số này có giá trị lần lượt là 204,56; 173,12; 177,93; 170,46 và 154,29.
Qua nghiên cứu này, TSO được đánh giá có tiềm năng cao hơn so với BHA, BHT, tocopherol khi bổ sung 6% và
khi bổ sung 3% TSO đã cho thấy kết quả bảo quản tốt tương đương BHA+BHT ở nồng độ 0,02% và d-α-
tocopherol 0,03% trong quá trình làm kìm hãm sự oxy hóa của LSO và WNO.
Từ khóa: Dầu hạt chè, chất chống oxy hoá, dầu hạt lanh, dầu hạt óc chó.
Effects of Tea (Camellia Sinensis O. Kuntze) Seed Oil and Some Antioxidant Substances
on the Change of Quality of Linseed Oil and Walnut Oil During Storage Time
ABSTRACT
This study was conducted to evaluate the effectiveness of tea seed oil (TSO) compared with the addition of
some antioxidant substances such as BHA, BHT, d-α-tocopherol during storage time (at 60C for 12 days according
to the Schaal experiment, 2010) for susceptible oils such as linseed oil (LSO) and walnut oil (WNO). Peroxide (PV)
and Para-anisidine (P-av) values were monitored during oxidation of the two oils at 0 and 12 days of storage. The
Totox value has assessed the formation of LSO first and second oxidation products after 12 days of storage in the
control and formula supplemented with 0.02% BHA + BHT, 0.03% tocopherol, 3% TSO, 6% TSO respectively 176.06;
139.3; 154.38; 138.34 and 110.31. In WNO, this value was 204.56 respectively; 173.12; 177.93; 170.46 and 154.29.
In this study, TSO was shown to have higher potential than BHA, BHT, tocopherol when blended with 6% TSO.
Blending 3% TSO had preservation effect as good as BHA + BHT at the concentrations of 0.0 2% and
D-α-tocopherol at 0.03% in inhibiting the oxidation of LSO and WNO.
Keywords: Tea seed oil, antioxidant substance, linseed oil, walnut oil.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Dầu hạt lanh (linum usitatissimum) và dầu
hạt óc chó (juglans regia) được đánh giá là hai
loại dầu có giá trị dinh dưỡng cao do hàm lượng
axit béo không bão hòa đa (polyunsaturated
fatty acid, PUFA) chiếm tỷ lệ lớn. Đặc biệt hai
loại axit béo omega 3 và omega 6 là hai loại axit
béo không bão hòa đa mà cơ thể không tự sản
xuất nhưng cần thiết cho sức khỏe con người,
chúng chiếm tỷ lệ cao trong hai loại dầu này
trong khi nhiều loại dầu khác như dầu hướng
Ảnh hưởng của dầu hạt chè (Camellia sinensis O. Kuntze) và một số chất chống oxy hóa đến sự thay đổi chất lượng
của dầu hạt lanh và dầu hạt óc chó trong quá trình bảo quản
222
dương, dầu hạt vừng hầu như chứa rất ít hoặc
không chứa axit béo omega 3. Dầu hạt lanh
(linseed oil, LSO) chứa 73% axit béo không bão
hòa đa (Cunnane & cs., 1993). Trong số tất cả
các axit béo của dầu hạt lanh, axit α-linolenic là
axit béo chính dao động từ 39,00-60,42%, sau đó
là axit oleic 13,44-19,33%, axit linoleic 12,25-
17,44%, axit palmitic và axit stearic (Campos &
cs., 2019). Dầu óc chó (walnut oil, WNO) gồm
các thành phần 4% axit linolenic, 14-15% axit
oleic, 78-83% axit linoleic. Dầu óc chó giúp bổ
sung vitamin E, omega 3, các loại axit hữu cơ và
photpho có tác dụng lớn trong việc phát triển
não bộ, do đó được tin dùng cho các bà mẹ mang
thai hoặc trẻ ăn dặm (Arnarson, 2019). Tuy
nhiên, vì hàm lượng PUFA cao nên cả LSO và
WNO rất dễ bị oxy hóa, quá trình oxy hóa
không chỉ làm giảm chất lượng dinh dưỡng, gây
ra mùi ôi khó chịu mà còn gây ra các tác động có
hại cho sức khỏe người tiêu dùng. Do vậy, việc
nghiên cứu để kéo dài thời gian bảo quản hai
loại dầu có chất lượng cao như LSO và WNO là
vấn đề rất được quan tâm.
Trong thực phẩm, chất chống oxy hóa được
chia thành hai loại: chất chống oxy hóa tự nhiên
và chất chống oxy hóa tổng hợp. Một số chất
chống oxy hóa tổng hợp thường gặp: butylated
hydroxyanisole (BHA), butylated hydroxy
toluene (BHT), tert-butyl hydroquinone
(TBHQ),... Trong đó, BHA và BHT có thể dùng
riêng hoặc phối trộn với nhau theo tỷ lệ tiêu
chuẩn trong bảo quản thực phẩm (Nguyễn Duy
Thịnh, 2004). Theo nghiên cứu của John & cs.
(2002) đã chứng minh việc bổ sung BHA, BHT có
tác dụng làm giảm sự oxy hóa của dầu ở nồng độ
200 ppm, cụ thể nghiên cứu cho thấy BHA thể
hiện tác dụng rõ rệt đối với dầu ô liu và BHT làm
giảm quá trình oxy hóa của dầu ngô. Tuy vậy,
việc lạm dụng chất bảo quản hóa học có thể gây
hại sức khỏe và là một trong những nguyên nhân
chính gây ngộ độc thực phẩm. Ngày nay, cùng với
chất chống oxy hóa tổng hợp mạnh nhất là
TBHQ, cả BHA và BHT đã bị hạn chế ở Nhật
Bản, Canada, Mỹ và nhiều nước châu Âu
(Upadhyay & Mishra, 2015). Vì vậy, việc thay
thế chất chống oxy hóa tổng hợp bằng các chất
chống oxy hóa tự nhiên là vấn đề cần thiết.
Một số chất chống oxy hóa tự nhiên phổ
biến được sử dụng trong thực phẩm như: axit
ascorbic (vitamin C), tocopherol (vitamin E),
carotenoid,... Trong đó δ-tocopherol là chất
kháng oxy hóa quan trọng nhất hòa tan trong
chất béo (Nguyễn Duy Thịnh, 2004). Ngày nay,
có nhiều nghiên cứu cho thấy hàm lượng
polyphenol trong dầu chè rất cao, do đó TSO có
khả năng bảo quản tốt và cùng pha dầu dễ phối
trộn đồng thời đảm bảo an toàn thực phẩm như
một chất kháng oxy hóa tự nhiên. Theo nghiên
cứu của Sahari & cs. (2008), dầu hạt chè có chứa
các chất chống oxy hóa như β-caroten, vitamin
E và polyphenolvới hàm lượng trung bình lần
lượt là 251,3 ± 2,5; 389,3 ± 3,0; 24,81 ± 2,0
mg/kg. Sahari & cs. (2004) đã nghiên cứu tuổi
thọ của dầu hạt chè C. sinensis so với dầu
hướng dương và dầu oliu. Kết quả cho thấy, tuổi
thọ của dầu hạt chè C. sinensis cao hơn so với
dầu hướng dương và tương đương dầu oliu. Khi
phối trộn dầu hướng dương với 5% dầu hạt chè
C. sinensis, theo thời gian bảo quản thì chỉ số
peroxit tăng ít hơn so với dầu hướng dương
nguyên chất. Điều này chứng tỏ dầu hạt chè có
tác dụng tốt trong việc bảo quản các loại dầu
thực vật khác. Do vậy, nghiên cứu này được
thực hiện để đánh giá ảnh hưởng của dầu hạt
chè và một số chất bảo quản khác trong việc bảo
quản dầu hạt lanh và dầu hạt óc chó.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu nghiên cứu
2.1.1. Dầu hạt chè
TSO được tách chiết bằng phương pháp trích
ly theo hình 1 (nhóm nghiên cứu xây dựng dựa
trên kết quả tối ưu hoá các thông số của quá
trình trích ly để có hiệu suất trích ly và khả năng
kháng oxy hoá của dầu hạt chè cao).
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện trên nguồn
nguyên liệu là: dầu hạt lanh, dầu hạt óc chó, dầu
hạt chè, các chất bảo quản. Dầu hạt lanh được
nhập từ Mouscron, Bỉ, được sản xuất bằng
phương pháp ép. Dầu hạt óc chó được ép tại Công
ty Linh Chi Eco (Hưng Yên) với nguyên liệu là
hạt óc chó nguồn gốc từ Mỹ. Dầu hạt chè (hạt chè
giống Trung du Phú Thọ, thu hoạch vào tháng
11/2018, sấy khô đến độ ẩm 7-8%, bảo quản ở -
Phan Thị Phương Thảo, Trần Thị Thu Hằng, Vũ Hồng Sơn
223
20C đến khi sử dụng mới đem nghiền) được
trích ly theo quy trình trên và được xác định các
chỉ tiêu hóa lý sau trích ly với kết quả phân tích
đạt tiêu chuẩn dầu thực vật theo TCVN
7597:2007. Chất bảo quản BHT, BHA được mua
từ Công ty ∞-SIGMA, Bỉ, d-α-tocopherol mua từ
công ty SIGMA - ALOAICH, Mỹ.
2.2. Địa điểm nghiên cứu
Phòng thí nghiệm Khoa Công nghệ thực
phẩm, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo chế độ đã được
nghiên cứu về sự ổn định của chất béo trong quá
trình bảo quản trong lò Shaal của Công ty
Eastman về ngành hóa chất tại Mỹ vào năm
2010: theo nghiên cứu này, dầu được bảo quản 1
ngày điều kiện 60 2°C sẽ có biến đổi về chất
lượng tương với 1 tháng bảo quản ở điều kiện
thường. Theo đó chúng tôi thực hiện theo dõi quá
trình oxy hóa của LSO và WNO trong điều kiện
bảo quản 60 2°C trong 12 ngày (tương đương
với dầu bảo quản 12 tháng ở điều kiện thường).
LSO và WNO được cho vào các ống fancol
dung tích 50mL, được bổ sung dầu hạt chè và
chất bảo quản BHA, BHT và tocopherol, sau đó
được bảo quản trong điều kiện 60C trong tủ
nuôi không thông khí, không có ánh sáng trong
12 ngày, mở nắp ống. Thể tích dầu được rót vào
mỗi ống fancol là 40mL.
Hình 1. Sơ đồ tách chiết dầu hạt chè
Thu hồi
dung môi
Hạt chè
Sấy khô
(50± 5C tới độ ẩm 7-8%)
Tách vỏ
Nhân hạt
Nghiền ở kích thước 0,5 mm
Vỏ
Trích ly 40C± 0,5C/8 h
Tỷ lệ NL/DM: 1/11
EtOH:EtOAC
v/v: 3/1
Lọc
Cô đuổi dung môi
40C ± 0,5C
Dầu hạt chè
Ảnh hưởng của dầu hạt chè (Camellia sinensis O. Kuntze) và một số chất chống oxy hóa đến sự thay đổi chất lượng
của dầu hạt lanh và dầu hạt óc chó trong quá trình bảo quản
224
Các chỉ tiêu theo dõi được xác định ở các
thời điểm 0 và 12 ngày bảo quản. Dầu sẽ được
bảo quản ở -80C cho đến khi phân tích. Các chỉ
tiêu theo dõi chất lượng dầu là: trị số peroxit và
chỉ số para-anisidine, giá trị totox, các chỉ số
này trên mỗi mẫu dầu được phân tích lặp lại
3 lần.
Các công thức thí nghiệm:
Công thức 0 (LSO 0, WNO 0): 100g
dầu không bổ sung chất bảo quản (công thức
đối chứng).
Công thức 1 (LSO 1, WNO 1): 99,98g dầu +
0,015g BHA + 0,005g BHT (bổ sung 0,015%
BHA + 0,005% BHT).
Công thức 2 (LSO 2, WNO 2): 99,97g dầu +
0,03g d-α-tocopherol (bổ sung 0,03% tocopherol).
Công thức 3 (LSO 3, WNO 3): 97g dầu + 3g
TSO (bổ sung 3% dầu hạt chè).
Công thức 4 (LSO 4, WNO 4): 94g dầu + 6g
TSO (bổ sung 6% dầu hạt chè).
2.3.2. Phân tích
- Đánh giá cảm quan: Theo TCVN
2627:1993 đánh giá chất lượng cảm quan dầu
dựa vào các yếu tố màu sắc, mùi và độ trong.
- Xác định chỉ số peroxit (PV) theo TCVN
6121:2010
- Phương pháp xác định chỉ số p-anisidine
(p-AV) theo TCVN 9670:2013
- Phương pháp xác định giá trị Totox
Khi đánh giá sự hư hỏng của dầu do oxy
hóa thì có thể dùng giá trị tổng giá trị oxy hóa
của dầu. Công thức để xác định như sau:
Totox = P-av + 2PV
Trong đó: P-av: trị số para-anisidine;
PV: trị số peroxit
2.3.3. Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu là trung bình của 3 lần lặp lại
(n = 3) được xử lý bằng phần mềm Exel 2010. Sự
khác nhau giữa các giá trị trung bình được phân
tích theo phân tích phương sai một yếu tố
oneway ANOVA ở mức ý nghĩa α = 5% bằng
phần mềm Minitab 16.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Kết quả đánh giá ảnh hưởng của các
chất bảo quản đến một số chỉ tiêu cảm
quan của dầu trong quá trình bảo quản
60°C, 12 ngày
Chất lượng cảm quan được xem là một trong
những chỉ tiêu quan trọng nhất đối với thực
phẩm nói chung và các sản phẩm dầu nói riêng.
Yếu tố này liên quan trực tiếp đến khả năng
thương mại hóa của sản phẩm và khả năng chấp
nhận sản phẩm của người tiêu dùng. Chất lượng
cảm quan của hai loại dầu được theo dõi thông
qua các chỉ tiêu: màu sắc, mùi và độ trong.
Sau quá trình bảo quản, chất lượng cảm
quan của LSO và WNO có sự biến đổi rõ rệt. Sự
thay đổi về cảm quan của các công thức được thể
hiện trong hình 2, 3.
Ở ngày 0 của quá trình bảo quản, tất cả các
công thức của LSO và WNO hầu như không có
sự khác nhau về màu sắc. Sau 12 ngày bảo
quản, ở cả dầu hạt lanh và dầu hạt óc có đều
nhận thấy sự thay đổi về màu sắc, mùi, độ trong
của dầu khi so sánh các công thức, tuy nhiên ở
dầu hạt óc chó nhận thấy sự khác biệt rõ rệt
hơn. Ở công thức 100% WNO, sau 12 ngày,
WNO đều bị suy giảm chất lượng cảm quan, dầu
có màu sắc nhạt đi do tác động của nhiệt độ, các
hợp chất màu như carotenoid bị phân hủy. Đồng
thời, sau 12 ngày bảo quản, WNO xuất hiện mùi
ôi khét do trong quá trình oxy hóa, dầu tạo ra
các hợp chất gây mùi như andehyt hay xeton.
Khi được bổ sung các chất bảo quản tổng hợp
hay dầu hạt chè, chất lượng cảm quan của WNO
được cải thiện rõ rệt về cả màu sắc, mùi và độ
trong. Đặc biệt khi được bổ sung TSO, WNO giữ
được màu vàng sáng như ban đầu. Các chất bảo
quản và dầu hạt chè đã có tác dụng trong việc
giữ được chất lượng cảm quan của WNO.
Trong khi đó, ở dầu hạt lanh, ít nhận thấy
sự thay đổi về màu sắc, mùi và độ trong sau 12
ngày bảo quản. Chứng tỏ chất lượng cảm quan
của dầu hạt lanh không có sự biến đổi nhiều sau
12 ngày bảo quản như ở dầu hạt óc chó. Quá
trình biến đổi chất lượng cảm quan LSO diễn ra
chậm hơn và các chất bảo quản không ảnh
hưởng nhiều đến giá trị cảm quan của LSO.
Hình 2. K
Hình 3. K
3.2. Kết qu
chất bảo qu
và WNO trong quá trình b
độ 60°C, 12 ngày
Trị s
thường đư
nhất là đánh giá đ
xúc với oxy không khí, các axit béo, nh
axit béo không no s
phẩm đầu tiên t
peroxit bị
và xeton. Tr
dầu càng kém trong giai đo
oxy hóa. Do đó, PV là m
đối với sự
trình oxy hóa (Kshitij & cs., 201
Kết qu
của LSO và WNO khi b
ở thời điểm 0 và 12 ngày b
ở hình 4.
Ở thờ
LSO và WNO không có s
công thức
ết qu
ết qu
ả đánh giá
ản đến tr
ố peroxit là ch
ợc dùng để
ộ b
ẽ
ạo ra là các peroxit, sau đó
phân hủy ti
ị số peroxit càng tăng cao ch
ổn định trong giai đo
ả nghiên c
i điểm 0 ngày b
ở mức ý nghĩa
Ngày 0
ả sự thay đ
Ngày 0
ả sự thay đ
ảnh hư
ị số peroxit c
ảo qu
ỉ số r
đánh giá ch
ền oxy hóa. Khi có s
dễ dàng b
ếp, tạo thành các aldehyt
ạn đầ
ột chỉ số
ạ
5).
ứu sự thay đ
ổ sung các ch
ảo quả
ảo quản, tr
ự khác bi
α = 5% khi v
ổi màu s
ổi màu sắ
ởng của các
ủa LSO
ản ở nhi
ất quan tr
ất lượng d
ự
ất là các
ị oxy hóa. S
ất lư
u của quá trình
rất quan tr
n đầu của quá
ổi trị số
ất bảo qu
n được thể hi
ị số PV c
ệt giữa các
ừa bổ sung
Phan Th
ắc dầu hạt lanh sau 12 ngày b
c dầu hạt óc chó sau 12 ngày b
ệt
ọng
ầu,
tiếp
ản
ợng
ọng
PV
ản
ện
ủa
các ch
bình
LSO là 3,47 (meq/kg). Tuy nhiên, sau 12 ngày
bảo qu
đổi rõ r
số PV tăng nhanh
dầu) và gi
sung 0,03% tocopherol, 0,02% (BHA
TSO, và tr
TSO. Đi
kết qu
chậ
hơn so v
sung 3% TSO có k
bằng so v
hơn so v
3.3. Đ
quả
WNO trong quá trình b
60°
thành các s
p-anisidine đánh giá s
ị Phương Th
ất bảo qu
ở ngày 0 c
ản, trị số
ệt ở cả d
ảm d
ị số
ều này ch
ả bảo qu
m, các sản ph
ới các công th
ới khi b
ới 0,03% D
ánh giá
n đến trị
C, 12 ngày
Trong khi tr
ản ph
ảo, Trần Thị
Ngày 12
ảo qu
Ngày 12
ả
ản ở tỷ lệ th
ủa WNO là 4,15 (meq/kg), c
PV ở các công th
ầu hạt lanh và d
ở công th
ần theo thứ
này thấp nh
ứng tỏ khi b
ản tốt nhấ
ẩm oxy hóa b
ức còn l
ết quả
ổ sung 0,02% BHA
-α-tocopherol.
ảnh hưởng c
số p-anisidine c
ị số peroxit đánh giá s
ẩm oxy hóa b
ự tạo thành các s
Thu Hằng, Vũ H
ản ở 60
o quản ở 60
ấp. Trị số
ức đã có s
ầu hạt óc ch
ức đối chứ
tự ở các công th
+
ất ở công th
ổ sung 6% TSO cho
t, trị số Peroxit tăng
ậc 1 đượ
ại. Ở công th
bảo quản t
+ BHT và t
ủa các ch
ủa
ảo quản ở
ậc 1 thì tr
ồng Sơn
225
°C
°C
PV trung
ủa
ự thay
ó. Trị
ng (100%
ức bổ
BHT), 3%
ức 6%
c tạo ra ít
ức bổ
ốt ngang
ốt
ất bảo
LSO và
nhiệt độ
ự tạo
ị số
ản phẩm
Ảnh hưởng của dầu hạt chè (Camellia sinensis O. Kuntze) và một số chất chống oxy hóa đến sự thay đổi chất lượng
của dầu hạt lanh và dầu hạt óc chó trong quá trình bảo quản
226
oxy hóa bậc 2 của quá trình oxy hóa dầu.
Hydroperoxit không ổn định bị phân hủy thành
các gốc kiềm, dẫn đến sự hình thành các
aldehyd không bão hòa, aldehyt không bay hơi,
xetone, axit, este, alcohol và hydrocarbon chuỗi
ngắn ở nhiệt độ cao (Choe & Min, 2006). Trị số
p-AV càng cao, các sản phẩm oxy hóa bậc 2 tạo
ra càng nhiều và chất lượng dầu càng kém.
Kết quả đánh giá sự thay đổi trị số P-av
được thể hiện ở hình 5.
Ghi chú: Cột đầu tiên trong mỗi nhóm dầu thể hiện trị số peroxit của dầu nguyên
liệu; Trong cùng một nhóm dầu, các số liệu mang chữ cái khác nhau thì khác
nhau ở mức ý nghĩa α = 5%
Hình 4. Đồ thị đánh giá ảnh hưởng của chất bảo quản đến trị số peroxit
của LSO và WNO sau 12 ngày bảo quản ở 60°C
Ghi chú: Cột đầu tiên trong mỗi nhóm dầu thể hiện trị số p-anisidine của dầu
nguyên liệu; Trong cùng một nhóm dầu, các số liệu mang chữ cái khác nhau thì
khác nhau ở mức ý nghĩa α = 5%
Hình 5. Đồ thị đánh giá ảnh hưởng của chất bảo quản đến trị số p-anisidine
của LSO và WNO sau 12 ngày bảo quản ở 60°C
e
d
c
b
d
c
b
b
a
a
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
PV (meq O2/kg)
W
N
W
N
O
W
N
O
W
N
O
W
N
O
W
N
O
LS LS0
LSO
LSO
LSO
3
LSO
d
c
b
abc
bc
b
ab
a a
0
5
10
15
20
25
30
35
40
45
50
P-av (UA/g)
W
N
O
W
N
O
0
W
N
O
1
W
N
O
2
W
N
O
3
W
N
O
4
LSO
LSO
0
LSO
LSO
2
LSO
3
LSO
4
Phan Thị Phương Thảo, Trần Thị Thu Hằng, Vũ Hồng Sơn
227
Cũng giống như chỉ số PV, trị số p-AV tăng
nhanh sau 12 ngày bảo quản 60°C ở tất cả các
công thức, tuy nhiên sự biến động giữa các công
thức là khác nhau ở cả LSO và WNO. Trị số
p-AV tăng nhiều nhất ở công thức 100% dầu và
giảm dần ở các thức bổ sung tocopherol,
(BHA+BHT), 3% TSO và cuối cùng là 6% TSO.
Qua đồ thị có thể thấy rằng ở cả dầu hạt lanh và
dầu hạt óc thì hiệu quả bổ sung 3% TSO ngang
bằng với 0,02% (BHA + BHT) và có kết quả tốt
hơn so với 0,03% tocopherol. Đặc biệt ở công thức
bổ sung 6% TSO cho kết quả tốt nhất về trị số
p-AV. Các chất bảo quản có tác dụng làm giảm
trị số p-AV của các loại dầu, làm giảm sự tạo
thành các sản phẩm oxy hóa bậc 2, đặc biệt dầu
hạt chè (chất chống oxy hóa tự nhiên) có tác dụng
tốt so với các chất chống oxy hóa khác trong việc
kìm hãm quá trình oxy hóa của WNO và LSO.
3.4. Đánh giá ảnh hưởng của các chất bảo
quản đến giá trị Totox của LSO và WNO
trong quá trình bảo quản ở nhiệt độ 60°C,
12 ngày
Giá trị Totox được thể hiện để đánh giá
tổng thể về tốc độ oxy hóa của dầu khi tiếp xúc
với oxy không khí, tạo ra các sản phẩm oxy hóa
bậc một và bậc hai. Giá trị Totox được sử dụng
như một phép đo thực nghiệm của các tiền chất
của cacbonyl không ổn định có trong dầu đã chế
biến và với bất kỳ sản phẩm oxy hóa nào được
tạo ra trong quá trình bảo quản và sử dụng
(Edyta & Katarzyna, 2017). Sự thay đổi của giá
trị Totox bị ảnh hưởng bởi 2 chỉ số là PV và
p-AV nên khi giá trị Totox càng cao chứng tỏ
chất lượng dầu càng kém.
Ở các công thức bổ sung TSO cho kết quả
giá trị Totox nhỏ hơn so với bổ sung BHA + BHT
và tocopherol. Công thức bổ sung 3% TSO đã
cho giá trị Totox của cả hai loại dầu nhỏ hơn
hoặc ngang bằng với việc bổ sung các chất bảo
quản tổng hợp BHA + BHT và tocopherol (với
WNO công thức bổ sung 3% cho giá trị thấp hơn
công thức bổ sung BHA + BHT và tocopherol, 3
công thức có sự khác biệt ở mức ý nghĩa 5%;
LSO cho kết quả giá trị Totox không có sự khác
biệt giữa công thức bổ sung 3% TSO và công
thức sử dụng BHA + BHT, đồng thời cho giá trị
Totox có sự khác biệt và thấp hơn công thức bổ
sung tocopherol). Đặc biệt ở công thức bổ sung
6% TSO cho kết quả giảm sự oxy hóa dầu tốt
nhất. Bên cạnh đó, giá trị Totox còn cho thấy
LSO có độ bền oxy hóa cao hơn dầu óc chó khi ở
tất cả các công thức sau 12 ngày bảo quản có giá
trị Totox thấp hơn.
Ghi chú: Cột đầu tiên trong mỗi nhóm dầu thể hiện chỉ số peroxit của dầu
nguyên liệu; Trong cùng một nhóm dầu, các số liệu mang chữ cái khác nhau
thì khác nhau ở mức ý nghĩa α = 5%
Hình 6. Đồ thị đánh giá ảnh hưởng của chất bảo quản đến giá trị Totox
của LSO và WNO sau 12 ngày bảo quản ở 60°C
e
c d b
a
d
b
c
b
a
000
050
100
150
200
250
W
N
O
W
N
O
0
W
N
O
1
W
N
O
2
W
N
O
3
W
N
O
4
L
S
O
L
S
O
0
L
S
O
1
L
S
O
2
L
S
O
3
L
S
O
4
Totox
Ảnh hưởng của dầu hạt chè (Camellia sinensis O. Kuntze) và một số chất chống oxy hóa đến sự thay đổi chất lượng
của dầu hạt lanh và dầu hạt óc chó trong quá trình bảo quản
228
4. THẢO LUẬN
Theo một nghiên cứu của John & cs. (2002),
nghiên cứu về hiệu quả của các chất chống oxy
hóa BHA, BHT trong dầu oliu, dầu ngô và hỗn
hợp dầu oliu dầu ngô trong quá trình gia nhiệt
không liên tục ở 175 ± 5°C. BHA và BHT ở nồng
độ 200ppm (0,02%) có tác dụng trong việc chống
lại quá trình oxy hóa của hai loại dầu này. Điều
đó cho thấy các chất bảo quản tổng hợp đã được
nghiên cứu có kết quả tốt trong việc chống lại sự
oxy hóa của một số loại dầu thực vật, tuy nhiên
nó ít được sử dụng hơn do các e ngại về vấn đề
sức khỏe đối với người tiêu dùng. BHA, BHT
cũng đã cho thấy hiệu quả khi bổ sung vào LSO
và WNO ở thí nghiệm trên ở nồng độ 200 ppm,
tuy nhiên hiệu quả này ngang bằng so với khi
bổ sung 3% TSO.
Việc sử dụng các chất chống oxy hóa tự
nhiên cũng đã được nghiên cứu thực hiện trong
việc bảo quản dầu. Ying & cs. (2010) cũng đã
nghiên cứu về tính ổn định oxy hóa của dầu hạt
hướng dương khi bổ sung axit carnosic (chiết
xuất từ cây hương thảo) so với các chất chống
oxy hóa tổng hợp. Kết quả nghiên cứu cho thấy
chất chống oxy hóa tự nhiên axit carnosic có tác
dụng chống oxy hóa mạnh hơn so với BHA và
BHT, tuy nhiên hoạt động chống oxy hóa của nó
thấp hơn TBHQ trong dầu hạt hướng dương.
Điều đó cho thấy các nghiên cứu về các chất
chống oxy hóa tự nhiên đã được nghiên cứu về
hiệu quả của nó so với các chất chống oxy hóa
tổng hợp trong bảo quản dầu. Trong nghiên cứu
này, TSO (chất chống oxy hóa tự nhiên) được
đánh giá là có hiệu quả ngang bằng hoặc hơn so
với việc bổ sung các chất chống oxy hóa tổng hợp
như BHA, BHT.
TSO cũng đã được nghiên cứu về khả năng
chống oxy hóa của nó trong bảo quản dầu hạt
hướng dương và dầu oliu. Ở tỷ lệ bổ sung 5%
TSO vào dầu hạt hướng dương, nó giúp tăng
thời gian sử dụng của dầu hạt hướng dương
trong quá trình bảo quản 63°C (Sahari & cs.,
2004). Trong nghiên cứu ở 60°C trong 12 ngày
của chúng tôi, ở tỷ lệ bổ sung 3% TSO đã giúp
tăng độ bền oxy hóa, kéo dài thời gian sử dụng
của WNO và LSO.
Một nghiên cứu của Bera & cs. (2006) cũng
đã nghiên cứu về tác dụng của chất chống oxy
hóa tự nhiên để ổn định chất lượng LSO trong
quá trình bảo quản và so sánh với chất chống oxy
hóa tổng hợp. Nghiên cứu chỉ ra rằng, quá trình
oxy hóa LSO có thể được làm chậm lại khi bổ
sung chất chống oxy hóa tự nhiên mới được tách
chiết từ cây hoa trachyspermum Am-mi (một loại
thảo dược truyền thống của Ấn Độ). Khi so sánh
với các chất chống oxy hóa tổng hợp khác như
TBHQ, BHT, được bổ sung vào LSO bảo quản ở
các nhiệt độ khác nhau, công thức bổ sung TBHQ
cho thấy kết quả chống oxy hóa tốt hơn, tuy
nhiên khi so sánh về giá thành, độ an toàn và
hương vị thực phẩm, chất chống oxy hóa tự nhiên
được ưu tiên lựa chọn. Điều đó cho thấy khả năng
và xu hướng bổ sung chất chống oxy hoá tự nhiên
trong bảo quản dầu thực vật không những giúp
tăng độ bền oxy hóa cho dầu, mà còn đảm bảo
chất lượng cảm quan, được tin dùng hơn so với
các chất chống oxy hóa tổng hợp.
5. KẾT LUẬN
Từ các kết quả nghiên cứu, có thể thấy rằng
TSO có thể được sử dụng như một chất bảo quản
có nguồn gốc tự nhiên, ở tỷ lệ bổ sung TSO 3% và
6% có tác dụng bảo quản tốt tương tự các chất
bảo quản hóa học như (BHA+BHT) 0,02%, d-α-
tocopherol 0,03% trong với quá trình bảo quản
dầu hạt lanh và dầu hạt óc chó ở nhiệt độ 60°C.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Atli Arnarson (2019). Walnuts 101: Nutrition facts and
health benefits, healthyline. Truy cập từ
https://www.healthline.com/nutrition/foods/walnuts,
ngày 20/11/2019.
Bộ Khoa học Công nghệ và môi trường (1993). TCVN
2627:1993. Dầu thực vật - Phương pháp xác định
màu sắc, mùi và độ trong. Truy cập từ
https://vanbanphapluat.co/tcvn-2627-1993-dau-
thuc-vat-phuong-phap-xac-dinh-mau-sac-mui-va-
do-trong, ngày 25/10/2019.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2010). TCVN 6121:2010.
Dầu mỡ động vật và thực vật - Xác định trị số
peroxit. Truy cập từ https://vanbanphapluat.
co/tcvn-6121-2010-dau-mo-dong-vat-va-thuc-vat-
xac-dinh-chi-so-peroxit, ngày 25/10/2019.
Phan Thị Phương Thảo, Trần Thị Thu Hằng, Vũ Hồng Sơn
229
Bộ Khoa học và Công nghệ (2013). TCVN 9670:2013.
Dầu mỡ động vật và thực vật - Phương pháp xác
định trị số Para-anisidine. Truy cập từ
https://vanbanphapluat.co/tcvn-9670-2013-dau-
mo-dong-vat-thuc-vat-xac-dinh-tri-so-anisidin,
ngày 25/10/2019.
Bera D., Lahiri D. & Nag A. (2006). Studies on a
natural antioxidant for stabilization of edible oil
and comparison with synthetic antioxidants.
Journal of Food Engineering. 74(4): 542-545.
Campos J.R., Severino P., Ferreira C.S., Zielinska A.,
Santini A., Souto S.B. & Souto E.B. (2019).
Linseed Essential Oil - Source of Lipids as Active
Ingredients for Pharmaceuticals and
Nutraceuticals. Current Medicinal Chemistry.
26(24): 1-22.
Choe E. & Min D. B. (2006), Mechanisms and Factors
for Edible Oil Oxidation. Food Science and Food
Safety. 5: 169-186.
Cunnane S.C., Ganguli S., Menard C., Liede A.C.,
Hamadeh M.J., Chen Z.Y., Wolever T.M.S. &
Jenkins D.J.A. (1993). High α–linolenic acid
flaxseed (Linum usitatissimum): some nutritional
properties in human. British Journal of Nutrition.
69 (2): 443-453.
Edyta S. & Katarzyna R. (2017). Oxidative Stability
and the chemical composition of market cold-
pressed linseed oil. European Journal of Lipid
Science and Technology. 119(11).
John T., Stavros L. & Evangelia P. (2002).
Effectiveness of the antioxidants BHA and BHT
in selected vegetable oils during intermittent
heating. Technologycal Education Institution of
Athens, Department of Food Technology.
53(2): 199-205.
Kshitij B., Narsingh V., Trived R.K., Shipra B. & Neha
S. (2015). A novel approach for improvement of
Oxidative stability of flaxseed oil by blending with
palm oil. International Journal of Advanced
research. 3(11): 1399-1407.
Nguyễn Duy Thịnh (2004). Bài giảng Các chất phụ gia
dùng trong sản xuất thực phẩm, Trường Đại học
Bách khoa Hà Nội. Truy cập từ
2.27/handle/TVDHBRVT/4605, ngày 22/11/2019.
Sahari M.A., Ataii D. & Hamedi M. (2004). Charac-
teristics of Tea Seed Oil in Comparison with
Sunflower and Olive Oils and Its Effect as a
Natural Antioxidant. Journal of the American Oil
Chemists’ Society. 81: 585-588.
Sahari M.A., Fazel M., & Barzegar M. (2008).
Determination of Main Tea Seed Oil Antioxidants
and their Effects on Common Kilka Oil.
International Food Research Journal. 15(2): 209-217.
Upadhyay & Mishra (2015), Multivariate Analysis for
Kinetic modeling of Oxidative Stability and shelf
life Estimation of Sunflower oil Blended with Sage
(Salvia officinalis) Extract under rancimat
conditions. Food and Bioprocess technology.
8: 801-810.
Ying Z., Lei Y., Yuangang Z., Xiaoqiang C., Fuji W. &
Fang L. (2010). Oxidative stability of sunflower oil
supplemented with carnosic acid compared with
synthetic antioxidants during accelerated storage.
Food Chemistry. 118(3): 656-662.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
anh_huong_cua_dau_hat_che_camellia_sinensis_o_kuntze_va_mot.pdf