Hiệu quả chuyển hóa thức ăn
Lượng thức ăn ăn vào (g/con/ngày) ở các lô
thí nghiệm là tăng dần theo tuần tuổi (Bảng 4)
và không có sai khác thống kê theo tuần giữa
các lô thí nghiệm (P >0,05). Lượng thức ăn ăn
vào trung bình cả giai đoạn lần lượt là 106,14;
105,17; 104,82 và 104,91 g/con/ngày. Kết quả về
lượng thức ăn ăn vào của gà ở 12 tuần tuổi
trong nghiên cứu này là tương tự kết quả công
bố của Bùi Hữu Đoàn & Hoàng Thanh (2011)
đạt 121,36 g/con/ngày.
Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng
(kg TA/kg P) từ 5 đến 12 tuần tuổi của các lô
DC, TN1, TN2 và TN3 tăng dần theo tuần tuổi
(Bảng 5) và trung bình cả giai đoạn của lần lượt
là 3,16; 3,13; 3,15 và 3,18kg.
Theo Khuất Thị Minh Tú (2008) và Bùi
Hữu Đoàn & Hoàng Thanh (2011), tiêu tốn thức
ăn của gà F1(Hồ × Lương Phượng) ở 12 tuần tuổi
tương ứng là 4,23 và 3,71kg. Kết quả về tiêu tốn
thức ăn ở 12 tuần tuổi trong nghiên cứu này
nằm trong khoảng của các công bố trên. Như
vậy, bổ sung giàn đậu và/hoặc chế phẩm không
ảnh hưởng đến thức ăn ăn vào và tiêu tốn thức
ăn của gà thí nghiệm, điều này phù hợp với kết
quả công bố của Zhao & cs. (2013).
4. KẾT LUẬN
Bổ sung giàn đậu ngang và/hoặc chế phẩm
vi sinh vật tổng hợp lên đệm lót nền chuồng đã
cải thiện một số chỉ tiêu phúc lợi động vật như
tỷ lệ sạch lông cao hơn và tổn thương mào giảm.
Bổ sung giàn đậu ngang và/hoặc chế phẩm
không ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của gà
lông màu như tỷ lệ nuôi sống, tốc độ sinh trưởng
tương đối, tuyệt đối và hiệu quả sử dụng
thức ăn.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của đệm lót chuồng lên men vi sinh vật và giàn đậu đến một số chỉ tiêu phúc lợi và khả năng sinh trưởng của gà thịt lông màu, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Vietnam J. Agri. Sci. 2020, Vol. 18, No.10: 839-846 Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2020, 18(10): 839-846
www.vnua.edu.vn
839
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỆM LÓT CHUỒNG LÊN MEN VI SINH VẬT VÀ GIÀN ĐẬU
ĐẾN MỘT SỐ CHỈ TIÊU PHÚC LỢI VÀ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA GÀ THỊT LÔNG MÀU
Nguyễn Công Oánh*, Hán Quang Hạnh, Nguyễn Đình Tiến, Nguyễn Thị Phương, Vũ Đình Tôn
Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
*Tác giả liên hệ: ncoanh@vnua.edu.vn
Ngày nhận bài: 18.08.2020 Ngày nhận bài: 14.09.2020
TÓM TẮT
Ảnh hưởng của đệm lót nền chuồng lên men vi sinh vật và giàn đậu đến chất lượng phúc lợi và khả năng sinh
trưởng được thực hiện trên gà lông màu, 360 gà lai (Hồ × Lương Phượng) ở 4 tuần tuổi được chia làm 4 lô, 30 con
mỗi lô với 3 lần lặp lại, theo dõi trong 9 tuần. Bốn lô gồm đối chứng (DC, đệm lót thường, không bổ sung chế phẩm vi
sinh vật), TN1 (DC + bổ sung giàn đậu), TN2 (DC + bổ sung chế phẩm) và TN3 (DC + bổ sung giàn đậu và chế
phẩm). Khối lượng gà được cân hàng tuần để đánh giá khả sinh trưởng. Kết thúc thí nghiệm, gà được đánh giá một
số chỉ tiêu phúc lợi động vật. Kết quả nghiên cứu cho thấy, gà nuôi trong lô TN1 và TN3 có tỷ lệ sạch lông cao hơn,
tổn thương mào thấp hơn, biến dạng xương ức cao hơn so với lô DC và TN2 (P <0,05). Bổ sung giàn đậu/chế phẩm
không ảnh hưởng đến tổn thương khuỷu chân và bàn chân (P >0,05), không ảnh hưởng đến tỷ lệ nuôi sống, tốc độ
sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn (P >0,05). Kết quả chỉ ra, bổ sung giàn đậu hoặc giàn đậu kết hợp đệm lót nền lên men
vi sinh vật có tiềm năng đảm bảo phúc lợi động vật và không ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà lông màu.
Từ khóa: Sinh trưởng, phúc lợn động vật, giàn đậu, chất đệm chuồng lên men vi sinh vật.
Effects of Microbial Fermented Litter and Perches on Welfare and Growth Performances
of Colored Broilers
ABSTRACT
Effects of microbial fermented litter and perches on the welfare quality and growth performance were studied in
colored broiler. A total of 360 broiler chickens (Ho × Luong Phuong) at four- weeks- old were housed in 4 treatment
groups, 30 broilers per group and 3 replication pens, under semi-commercial conditions over 9 weeks. Birds were
housed in one of 4 treatment groups including the control group (DC, chickens raising under rice husk bedding), TN1
(DC + bamboo perches), TN2 (DC + microbial fermented litter), and TN3 (combined both TN1 and TN2). The weight
of bird individuals from pens was recorded weekly for performance assessment. At the end of the experiment, bird
individuals from pens were held and kept for assessment of comb scratches, plumage cleanliness, hock burns,
footpad dermatitis, and breast deformities. Results showed that the birds housed with TN1 and TN3 groups had a
greater proportion of plumage cleanliness, crooked breast and a lower proportion of comb scratches compared to
birds with DC and TN2 groups (P <0.05). Treatments did not significantly affect hock burns and footpad dermatitis
(P >0.05). In addition, the treatment groups had no significant effect on parameters such as mortality rates, growth
performances, and feed conversion ratio (P >0.05). It was concluded that colored broilers housed in pens
supplemented with bamboo perches and both bamboo perches and fermented microbial litter under semi-commercial
conditions have the potential of improving animal welfare without positive effects on the performance.
Keywords: Growth performance, welfare, perches, fermented microbial litter.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Phúc lợi động vật ngày càng được quan tâm
nhiều hơn và hiểu được khái niệm này là rất
quan trọng cho sự phát triển thực hành sản
xuất bền vững (Ryan & cs., 2015). Phúc lợi động
vật đề cập chủ yếu ba khía cạnh gồm sức khỏe
tốt, cảm giác tốt và thể hiện tốt được các tập
tính tự nhiên đặc trưng của loài (Fraser, 2008).
Đảm bảo phúc lợi không chỉ cải thiện sức khỏe,
giảm chi phí sử dụng thuốc, mà còn tạo ra sản
phẩm chất lượng, nâng cao thu nhập và đảm
Ảnh hưởng của đệm lót chuồng lên men vi sinh vật và giàn đậu đến một số chỉ tiêu phúc lợi và khả năng sinh trưởng
của gà thịt lông màu
840
bảo đạo đức cho người chăn nuôi (Nguyễn Xuân
Trạch, 2017). Nhu cầu tiêu dùng của con người
đối với những sản phẩm chăn nuôi từ hệ thống
chăn nuôi đảm bảo phúc lợi động vật ngày càng
cao (Erian & Phillips, 2017; Lusk, 2018;
Widmar & cs., 2013).
Trong chăn nuôi gà thịt, chuồng nuôi chật
chội đã hạn chế các hành vi tự nhiên của gà như
bay, đậu trên giàn hay sào, vỗ cánh, tự do di
chuyển, hệ quả là vật nuôi phải chịu ảnh
hưởng kéo dài cả về mặt thể chất lẫn tinh thần
và các hành vi bản năng khác, điều này dẫn đến
tình trạng chân yếu, rụng lông và rối loạn
chuyển hóa. Gà nuôi nhốt đã làm hạn chế phúc
lợi động vật bởi gà ít được vận động (Weeks &
Nicol, 2006), trong khi gà nuôi thả nhanh nhẹn
hoạt bát hơn (Nguyễn Thị Xuân & cs., 2018).
Một số giải pháp nhằm đảm bảo phúc lợi động
vật và nâng cao khả năng sản xuất của gà thịt
như nuôi theo phương thức bán chăn thả, sử
dụng giàn đậu, hay bổ sung chế phẩm vi sinh
vật vào lớp đệm lót chuồng... Theo Pavlovski &
cs. (2009), gà nuôi bán thâm canh có thể cải
thiện phúc lợi động vật và tạo ra nhiều sản
phẩm chất lượng. Nguyễn Thị Xuân & cs. (2018)
cho biết, bổ sung giàn đậu trong chuồng nuôi đã
cải thiện phúc lợi của gà, giàn đậu không chỉ là
nơi đậu mà còn là nơi mang lại sự an toàn cho
những cá thể gà yếu hơn trong đàn. Bổ sung
giàn đậu cho gà thịt không chỉ làm giảm sự thất
vọng, sợ hãi mà còn cải thiện sức khỏe chân,
giảm tỷ lệ chết và kích thích sinh trưởng (Bailie
& cs., 2018; Jones, 1994). Theo Sahoo & cs.
(2017), bổ sung phèn và natri sunfat vào lớp
đệm chuồng cải thiện được không khí chuồng
nuôi, nâng cao được khả năng sản xuất và tránh
làm tổn thương bàn chân và vùng ức của gà thịt.
Bổ sung chế phẩm vi sinh vật lên lớp đệm lót
chuồng làm giảm mùi hôi trong không khí
chuồng nuôi và nâng cao tốc độ sinh trưởng của
gà thịt (Nguyen Thi Tuyet Le, 2017).
Ở Việt Nam, khái niệm phúc lợi động vật
được du nhập vào chưa lâu và phúc lợi động vật
mới đưa vào Luật Chăn nuôi được Quốc hội thông
qua ngày 19/11/2018 và có hiệu lực từ ngày
01/01/2020. Do đó, thông tin khoa học liên quan
đến đảm bảo phúc lợi động vật trong chăn nuôi
gà thịt còn hạn chế. Mục đích của nghiên cứu này
nhằm đánh giá ảnh hưởng của bổ sung giàn đậu
và đệm lót lên men vi sinh vật đến một số chỉ
tiêu phúc lợi động vật, tốc độ sinh trưởng và tiêu
tốn thức ăn của gà thịt lông màu.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành trên 360 gà lai
(Hồ × Lương Phượng) ở 4 tuần tuổi chia ngẫu
nhiên làm 4 lô đồng đều về khối lượng và giới
tính (Bảng 1). Tổng số 12 ô chuồng nuôi, mỗi ô
có diện tích chuồng (1,5 × 3m) và sân chơi (1,5 ×
9m). Chuồng nuôi lợp mái fibro xi măng, nền bê
tông, vách bằng lướt sắt, thông thoáng tự nhiên
nằm trong khuôn viên của một trang trại tư
nhân chăn nuôi gà thịt thương phẩm ở huyện
Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Gà được nuôi 1
trong 4 lô gồm lô đối chứng (DC) có đệm lót nền
chuồng bằng trấu dày 3cm, 1 máng ăn chống bới
và 1 máng uống tự động, lô thí nghiệm 1 bổ
sung giàn đậu (TN1 = DC + giàn đậu), lô thí
nghiệm 2 bổ sung chế phẩm vi sinh vật tổng hợp
lên men đệm lót chuồng (TN2 = DC + chế phẩm)
và lô thí nghiệm 3 bổ sung cả giàn đậu và chế
phẩm (TN3 = DC + giàn đậu + chế phẩm). Gà
được nuôi bằng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và
ăn tự do, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng và phòng
bệnh của các lô là như nhau. Khẩu phần ăn
chứa 18% protein (CP, %), 2.800kcal năng lượng
trao đổi (ME, kcal/kg thức ăn). Thời gian thí
nghiệm là 9 tuần (từ tháng 01 đến tháng
03/2019). Lô TN2 và TN3 được bổ sung chế
phẩm bằng cách rắc trực tiếp lên trên lớp đệm
lót chuồng và trộn đều bằng tay (1kg chế phẩm
chứa Bacillus subtilis 5,8 × 108 CFU,
Saccharomyces cerevisiae 3,7 × 108 CFU,
Streptococcus lactis 4,9 × 10⁸ CFU, Thiobacillus
spp. 1,6 × 10⁸ CFU). Tỷ lệ rắc chế phẩm
1kg/50m2 chuồng nuôi được thực hiện vào buổi
tối. Đệm lót được bảo dưỡng định kỳ 2 tuần/lần
bằng việc bổ sung thêm trấu cho tất cả các lô và
chế phẩm cho TN2 và TN3. Lô TN1 và TN3 bổ
sung giàn đậu hai tầng làm bằng tre với kích
thước 0,2 × 2,5m, khe hở giữa các thanh giàn
khoảng 1,5-2cm, thiết kế tầng dạng cầu thang
và mỗi tầng cách nhau 30cm.
Nguyễn Công Oánh, Hán Quang Hạnh, Nguyễn Đình Tiến, Nguyễn Thị Phương, Vũ Đình Tôn
841
Bảng 1. Bố trí thí nghiệm
Lô thí nghiệm Đối chứng Thí nghiệm 1 Thí nghiệm 2 Thí nghiệm 3
Số lượng gà (con) 30 30 30 30
Giống H × LP H × LP H × LP H × LP
Số lần lặp lại 3 3 3 3
Thời gian theo dõi Tuần 4-12 Tuần 4-12 Tuần 4-12 Tuần 4-12
Thức ăn TAHH TAHH TAHH TAHH
Giàn đậu - Giàn đậu - Giàn đậu
Đệm lót chuồng - - Chế phẩm VSV Chế phẩm VSV
Ghi chú: H × LP: gà Hồ lai Lương Phượng; TAHH: thức ăn hỗn hợp; -: không
2.2. Chỉ tiêu theo dõi
2.2.1. Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng
phúc lợi động vật
Chất lượng phúc lợi được dựa trên 4 tiêu
chuẩn để đánh giá gồm thức ăn, chuồng trại,
sức khỏe vật nuôi và tập tính tự nhiên của
chúng. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập
trung đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung giàn
đậu và/hoặc chế phẩm đến một số chỉ tiêu chất
lượng phúc lợi gà thịt. Các chỉ tiêu đánh giá
gồm tổn thương mào, độ sạch lông, tổn thương
khuỷu chân, tổn thương bàn chân và tổn thương
vùng ức được thực hiện vào ngày cuối của thí
nghiệm theo phương pháp của Welfare
Quality® (2009). Các chỉ tiêu được đánh giá
thông qua việc cho điểm bắt đầu từ điểm 0 là tốt
nhất và điểm 1, 2, 3, 4 lần lượt phản ánh mức độ
tổn thương tăng dần. Vết thương ở mào: quan
sát bị tổn thương hay không và cho điểm theo
thang điểm từ 0-2 điểm (Điểm 0: không tổn
thương; điểm 1: ít hơn ba vết thương; điểm 2:
nhiều hơn hoặc bằng ba vết thương). Độ sạch
của lông: quan sát ở lông vùng ức, cổ, lưng về độ
sạch, mượt, nhiều lông hay ít lông và cho điểm
theo thang điểm từ 0-3 (Điểm 0: lông sạch và
mượt; điểm 1: lông hơi xơ hoặc bẩn; Điểm 2: lông
xơ, bẩn; và điểm 3: lông rất xơ, bẩn). Vết chai
khuỷu chân: quan sát khuỷu chân gà có bị tổn
thương hay không và cho điểm theo thang điểm
từ 0-4 (Điểm 0: không chai; điểm 1: một vết chai
nhỏ; điểm 2: một vết chai lớn; điểm 3: nhiều vết
chai nhỏ; điểm 4: nhiều vết chai lớn). Vết chai
bàn chân: quan sát lòng bàn chân gà có bị tổn
thương hay không và cho điểm theo thang điểm
từ 0-4 (Điểm 0: không chai; điểm 1: một vết chai
nhỏ; điểm 2: một vết chai lớn; điểm 3: một vết
chai rất lớn; điểm 4: nhiều vết chai lớn). Vùng
ức: nhìn và sờ vào vùng ức gà xem có biến dạng
hay không, chấm theo thang điểm 0 và 2 (Điểm
0: không biến dạng; điểm 2: biến dạng).
2.2.2. Đánh giá tỷ lệ nuôi sống, khả năng
sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn
Khối lượng cơ thể gà ở các lô thí nghiệm
được cân từng cá thể (cân điện tử, độ chính xác
0,1g) theo tuần và được cân cố định vào buổi
sáng của ngày trong tuần trước khi cho gà ăn để
tính tốc độ sinh trưởng. Thức ăn cho ăn được
cân hàng tuần để tính hiệu quả sử dụng thức ăn
theo giai đoạn. Theo dõi số lượng gà còn sống và
chết trong thời gian thí nghiệm để tính tỷ lệ
nuôi sống theo giai đoạn. Các chỉ tiêu sinh
trưởng, tiêu tốn thức ăn và tỷ lệ nuôi sống được
xác định theo phương pháp mô tả của Bùi Hữu
Đoàn & cs. (2011).
2.2.3. Xử lý số liệu
Toàn bộ số liệu được xử lý thống kê bằng
phần mềm Minitab 16. Số liệu về chất lượng
phúc lợi động vật được kiểm định chi bình
phương (2 - chi square) và so sánh cặp đôi dựa
vào chênh lệch tỷ lệ với sai số chuẩn của sự
khác biệt. Số liệu sinh trưởng và tiêu tốn thức
ăn được xử lý theo phương pháp phân tích
phương sai ANOVA một nhân tố. Tham số
thống kê về sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn gồm
giá trị trung bình (Mean), sai số chuẩn (SE) và
dùng phép thử Tukey để so sánh các giá trị
trung bình với mức ý nghĩa P <0,05.
Ảnh hưởng của đệm lót chuồng lên men vi sinh vật và giàn đậu đến một số chỉ tiêu phúc lợi và khả năng sinh trưởng
của gà thịt lông màu
842
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Phúc lợi của gà thịt thương phẩm
Một số chỉ tiêu đánh giá phúc lợi động vật
của gà thịt được trình bày ở bảng 2. Mào gà bị
tổn thương ở mức cao và có sự sai khác thống kê
(P <0,05) về điểm số giữa của các lô thí nghiệm.
Tỷ lệ mào gà số điểm 0 và 1 ở lô TN1, TN2 và
TN3 có xu hướng cao hơn so với lô DC, ngược lại
điểm 2 ở lô DC cao hơn hẳn so với các lô còn lại
(P <0,05). Kết quả cho thấy việc bổ sung giàn
đậu, nhất là kết hợp giàn đậu với chế phẩm đã
làm giảm số lượng vết thương ở mào gà. Điều
này có thể là do bổ sung giàn đậu đã giúp gà có
chỗ trú, ít mổ cắn nhau hơn, nên số lượng vết
thương giảm.
Bộ lông của gà không chỉ có tác dụng điều
hòa nhiệt, bảo vệ cơ thể bởi tác động môi trường
và xã hội, mà còn phản ánh tình trạng sức khỏe
của gà và chất lượng phúc lợi (Han Quang Hanh
& cs., 2019). Kết quả đánh giá về độ sạch lông
của gà ở các lô thí nghiệm đạt điểm 0 và điểm 1
khá cao và không có lô nào đạt điểm 3, điều này
cho thấy gà thí nghiệm nuôi theo hình thức bán
chăn thả và chất lượng đệm lót chuồng nuôi phù
hợp cho sự phát triển về bộ lông. Khi so sánh
giữa các lô, có sự sai khác thống kê về độ sạch
lông (P <0,05), trong đó tỷ lệ điểm 0 cao hơn ở lô
TN1 và TN3 và tỷ lệ điểm 1 cao hơn ở lô ĐC và
TN2. Kết quả cho thấy, lô TN3 bổ sung cả giàn
đậu và chế phẩm cho tỷ lệ gà sạch và mượt lông
hơn cả, tiếp đến lô TN1 bổ sung giàn đậu, lô đối
chứng cho tỷ lệ thấp nhất. Theo Han Quang
Hanh & cs. (2019), tỷ lệ gà đạt điểm 0, 1, 2, 3
lần lượt là 17, 44,2, 24,2 và 14,1% ở gà thịt
Lương Phượng nuôi nhốt. So sánh với nghiên
cứu trên, số liệu của nghiên cứu này đạt cao hơn
là do gà nuôi theo hình thức bán chăn thả nên
tỷ lệ lông sạch và mượt hơn so với nuôi nhốt.
Như vậy, kiểu chuồng và phương thức chăn nuôi
ảnh hưởng quan trọng đến tỷ lệ sạch và mượt
của bộ lông. Việc bổ sung giàn đậu và chế phẩm
lên đệm lót chuồng đã cải thiện chất lượng phúc
lợn động vật.
Bảng 2. Một số chỉ tiêu chất lượng phúc lợi của gà thịt thương phẩm
Điểm Đối chứng (n = 87) Thí nghiệm 1 (n = 89) Thí nghiệm 2 ( n = 89) Thí nghiệm 3 (n = 87) P
Tổn thương mào
0 6,9
abc
13,48
ab
3,37
c
14,94
a
0,03
1 18,39
c
30,34
bc
35,96
ab
36,78
a
0,03
2 74,71
a
56,18
b
60,67
b
48,28
b
0,004
Độ sạch lông
0 21,84
b
47,19
a
25,84
b
49,43
a
< ,0001
1 73,56
a
51,69
b
74,16
a
50,57
b
0,0002
2 4,6
a
1,12
ab
0
b
0
b
0,03
Tổn thương khuỷu chân
0 65,52 74,16 68,54 79,31 0,18
1 31,03 25,84 29,21 20,69 0,43
2 3,45 0 2,25 0 0,14
Tổn thương bàn chân
0 32,18 38,2 34,83 36,78 0,85
1 54,02 44,94 53,93 52,87 0,57
2 13,8 16,86 11,24 10,35 0,14
Tổn thương vùng ức
0 100
a
73,03
b
100
a
85,06
b
<,0001
2 0
b
26,97
a
0
b
14,96
a
<,0001
Ghi chú: Trong cùng một hàng, các giá trị có chữ khác nhau là sai khác có ý nghĩa thống kê (P <0,05).
Nguyễn Công Oánh, Hán Quang Hạnh, Nguyễn Đình Tiến, Nguyễn Thị Phương, Vũ Đình Tôn
843
Bảng 3. Sinh trưởng tích lũy (g/con) gà thí nghiệm qua các tuần tuổi
Tuần
tuổi
Lô đối chứng Lô thí nghiệm 1 Lô thí nghiệm 2 Lô thí nghiệm 3
P
n Mean ± SE n Mean ± SE n Mean ± SE n Mean ± SE
KLBD 90 580,0 ± 11,4 90 557,8 ± 25,5 90 581,7 ± 12,3 90 559,4 ± 12,9 0,61
5 90 814,7 ± 13,6 90 794,7 ± 16,7 90 780,7 ± 16,5 90 806,3 ± 15,5 0,44
6 90 1084,3 ± 28,4 90 1053,0 ± 21,8 90 1043,7 ± 29,6 90 1059,7 ± 30,2 0,75
7 90 1348,3 ± 26,7 90 1306,7 ± 24,3 90 1301,7 ± 29,5 90 1310,0 ± 23,3 0,57
8 90 1595,0 ± 26,8 90 1560,0 ± 33,1 90 1558,3 ± 32,3 90 1553,3 ± 27,2 0,74
9 88 1820,0 ± 25,6 90 1796,7 ± 29,0 90 1795,0 ± 29,2 90 1791,7 ± 25,7 0,88
10 88 2041,7 ± 25,4 90 2023,3 ± 31,6 90 2016,7 ± 29,4 88 2011,7 ± 23,3 0,87
11 87 2258,3 ± 32,3 90 2250,0 ± 37,4 90 2230,0 ± 27,4 87 2223,3 ± 24,5 0,83
12 87 2466,7 ± 29,5 89 2463,3 ± 34,5 89 2443,3 ± 30,8 87 2428,3 ± 25,7 0,78
Ghi chú: KLBD: khối lượng ban đầu.
Đối với mức độ tổn thương khuỷu chân/bàn
chân, kết quả cho thấy phần lớn gà có tỷ lệ không
hoặc ít chai khuỷu chân/bàn chân đạt điểm 0 và
1, một tỷ lệ thấp đạt điểm 2 và 3, và không có lô
nào có điểm 3 hoặc 4. Tỷ lệ đạt điểm 0 và 1 có
phần cao hơn ở lô bổ sung giàn đậu hoặc/và chế
phẩm so với lô đối chứng nhưng không sai khác
thống kê (P >0,05). Như vậy, bổ sung giàn đậu và
chế phẩm ảnh hưởng không rõ rệt đến mức độ
tổn thương khuỷu chân và bàn chân của gà, điều
này cũng tương tự với kết quả nghiên cứu của
Bailie & cs. (2018) cho rằng giàn đậu không cải
thiện được sức khỏe chân. Hơn nữa, Han Quang
Hanh & cs. (2019) cho biết không có sự khác
nhau về mức độ tổn khuỷu chân của gà thịt
thương phẩm nuôi nhốt và nuôi bán chăn thả.
Về mức độ tổn thương vùng ức, ở đây chúng
tôi đánh giá mức độ ngực vẹo của gà ở các lô thí
nghiệm. Bảng 2 cho thấy tỷ lệ ngực vẹo là khác
nhau có ý nghĩa thống kê (P <0,05) giữa các lô
thí nghiệm. Tỷ lệ ngực vẹo ở lô TN1 và TN3 cao
hơn so với lô DC và TN2. Theo Biegert (1937), tỷ
lệ ngực vẹo của gà Leghorn không ảnh hưởng
bởi giới tính mà ảnh hưởng bởi việc bổ sung giàn
đậu, điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu
của chúng tôi. Ngoài ra, Bailie & cs. (2018) cho
biết gà thịt thích nằm trên giàn đậu ngang và
thực hiện các hành vi tự nhiên tốt hơn so với
giàn đậu khác (thanh đơn, gậy, hình chữ A, các
thanh đơn, giàn đậu dốc). Như vậy, sử dụng
giàn đậu ngang có ảnh hưởng đến ngực vẹo
nhưng không ảnh hưởng đến sức khỏe của gà và
đảm bảo phúc lợi động vật tốt hơn.
Một công bố gần đây của Nguyễn Thị
Phương & cs. (2020) cho biết các hộ chăn nuôi gà
có quan tâm đến một số chỉ tiêu phúc lợi động vật
như đảm bảo nhu cầu thức ăn và nước uống hay
tình trạng sức khỏe của gà. Tuy nhiên, phương
thức nuôi bán thả gà lông màu vẫn chưa chú
trọng nhiều đến việc bổ sung giàn đậu hay bố trí
sân chơi để duy trì một số tập tính tự nhiên. Theo
Nguyễn Xuân Trạch (2017) cho biết đảm bảo
phúc lợi tốt cho vật nuôi sẽ mang lại lợi ích kinh
tế trực tiếp cho người chăn nuôi bởi vật nuôi ít
bệnh, năng suất tăng lên, cho nhiều sản phẩm có
chất lượng cao hơn nên bán giá cao hơn và lợi
nhuận cao hơn, đặc biệt thị trường xuất khẩu có
thể là nguồn tiềm năng để tăng thu nhập. Vì vậy,
cần phổ biến rộng rãi hơn những kiến thức về
phúc lợi động vật để người chăn nuôi nhận thức
và hiểu rõ về khái niệm và thực hành nhằm đảm
bảo phúc lợi động vật tốt hơn cho vật nuôi.
3.2. Tỷ lệ nuôi sống, khả năng sinh trưởng
và hiệu quả sử dụng thức ăn
3.2.1. Tỷ lệ nuôi sống
Tỷ lệ nuôi sống gà lai Hồ × Lương Phượng
đạt ở mức cao trong giai đoạn từ 5 đến 12 tuần
tuổi và không có sai khác thống kê giữa các lô thí
nghiệm (P >0,05). Theo tuần tuổi, tỷ lệ nuôi sống
các lô đạt 100% giai đoạn 5-8 tuần tuổi, đạt
97,78-98,86% giai đoạn 9-12 tuần tuổi. Theo
Bailie & cs. (2018), không có sai khác thống kê về
tỷ lệ nuôi sống giữa các lô bổ sung giàn đậu và lô
đối chứng, điều này phù hợp với nghiên cứu này.
Ảnh hưởng của đệm lót chuồng lên men vi sinh vật và giàn đậu đến một số chỉ tiêu phúc lợi và khả năng sinh trưởng
của gà thịt lông màu
844
Bảng 4. Thức ăn ăn vào (g/con/ngày) của gà ở các lô thí nghiệm qua các tuần tuổi
Tuần tuổi
Lô đối chứng (n = 3) Lô thí nghiệm 1 (n = 3) Lô thí nghiệm 2 (n = 3) Lô thí nghiệm 3 (n = 3)
P
Mean ± SE Mean ± SE Mean ± SE Mean ± SE
5 71,27 ± 0,79 70,60 ± 0,79 68,92 ± 0,93 70,46 ± 0,83 0,25
6 87,94 ± 1,10 85,95 ± 1,25 85,13 ± 1,40 84,44 ± 1,09 0,21
7 96,98 ± 0,86 96,98 ± 1,03 96,11 ± 0,88 95,71 ± 0,99 0,71
8 110,79 ± 0,76 108,68 ± 0,89 108,95 ± 0,89 109,08 ± 0,55 0,27
9 115,24 ± 0,72 114,76 ± 0,81 113,25 ± 0,86 113,89 ± 0,91 0,34
10 119,28 ± 0,69 118,73 ± 0,62 119,29 ± 0,45 117,62 ± 0,78 0,23
11 122,12 ± 0,62 121,40 ± 0,62 121,46 ± 0,42 122,22 ± 0,73 0,67
12 125,48 ± 0,44 124,00 ± 0,65 125,44 ± 0,36 125,87 ± 0,61 0,17
Bảng 5. Hiệu quả sử dụng thức ăn (kg TA/kg tăng KL)
của gà ở các lô thí nghiệm qua các tuần tuổi
Tuần tuổi
Lô đối chứng (n = 3) Lô thí nghiệm 1 (n = 3) Lô thí nghiệm 2 (n = 3) Lô thí nghiệm 3 (n = 3)
P
Mean ± SE Mean ± SE Mean ± SE Mean ± SE
5 2,13 ± 0,07 2,14 ± 0,02 2,10 ± 0,08 2,07 ± 0,08 0,87
6 2,29 ± 0,10 2,33 ± 0,07 2,29 ± 0,21 2,30 ± 0,14 0,99
7 2,58 ± 0,13 2,67 ± 0,02 2,64 ± 0,23 2,70 ± 0,18 0,96
8 3,14 ± 0,06 3,08 ± 0,10 2,98 ± 0,12 3,16 ± 0,18 0,67
9 3,56 ± 0,09 3,40 ± 0,18 3,35 ± 0,11 3,37 ± 0,23 0,79
10 3.68 ± 0,03 3,68 ± 0,16 3,77 ± 0,13 3,72 ± 0,08 0,93
11 3,83 ± 0,03 3,76 ± 0,18 3,97 ± 0,14 3,92 ± 0,14 0,71
12 4,02 ± 0,07 4,02 ± 0,05 4,07 ± 0,15 4,15 ± 0,13 0,80
3.2.2. Sinh trưởng tích lũy
Sinh trưởng tích lũy của gà ở các lô thí
nghiệm được thể hiện ở bảng 3. Lúc bắt đầu thí
nghiệm, khối lượng gà của các lô là tương tự
nhau (P >0,05). Khối lượng cơ thể gà tăng qua
các tuần tuổi và không có sự sai khác thống kê
từ tuần 5 đến tuần 12 (P >0,05) giữa các lô thí
nghiệm. Kết quả cho thấy, bổ sung giàn đậu
hoặc/và chế phẩm ảnh hưởng chưa rõ rệt đến
sinh trưởng tích lũy của gà thịt. Ngoài ra, khối
lượng gà lai (Hồ × Lương Phượng) lúc 12 tuần
tuổi trong nghiên cứu này cao hơn công bố của
Bùi Hữu Đoàn (2010), Bùi Hữu Đoàn & Hoàng
Thanh (2011) và Khuất Thị Minh Tú (2008) lần
lượt là 1.997, 1.915, và 2.050 g/con. Điều này có
thể là do gà nuôi theo hình thức bán chăn thả
kết hợp với đảm bảo phúc lợi động vật đã cải
thiện được khả năng sinh trưởng của gà, điều
này phù hợp với công bố của Nguyễn Xuân
Trạch (2017).
3.2.3. Hiệu quả chuyển hóa thức ăn
Lượng thức ăn ăn vào (g/con/ngày) ở các lô
thí nghiệm là tăng dần theo tuần tuổi (Bảng 4)
và không có sai khác thống kê theo tuần giữa
các lô thí nghiệm (P >0,05). Lượng thức ăn ăn
vào trung bình cả giai đoạn lần lượt là 106,14;
105,17; 104,82 và 104,91 g/con/ngày. Kết quả về
lượng thức ăn ăn vào của gà ở 12 tuần tuổi
trong nghiên cứu này là tương tự kết quả công
bố của Bùi Hữu Đoàn & Hoàng Thanh (2011)
đạt 121,36 g/con/ngày.
Nguyễn Công Oánh, Hán Quang Hạnh, Nguyễn Đình Tiến, Nguyễn Thị Phương, Vũ Đình Tôn
845
Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng
(kg TA/kg P) từ 5 đến 12 tuần tuổi của các lô
DC, TN1, TN2 và TN3 tăng dần theo tuần tuổi
(Bảng 5) và trung bình cả giai đoạn của lần lượt
là 3,16; 3,13; 3,15 và 3,18kg.
Theo Khuất Thị Minh Tú (2008) và Bùi
Hữu Đoàn & Hoàng Thanh (2011), tiêu tốn thức
ăn của gà F1(Hồ × Lương Phượng) ở 12 tuần tuổi
tương ứng là 4,23 và 3,71kg. Kết quả về tiêu tốn
thức ăn ở 12 tuần tuổi trong nghiên cứu này
nằm trong khoảng của các công bố trên. Như
vậy, bổ sung giàn đậu và/hoặc chế phẩm không
ảnh hưởng đến thức ăn ăn vào và tiêu tốn thức
ăn của gà thí nghiệm, điều này phù hợp với kết
quả công bố của Zhao & cs. (2013).
4. KẾT LUẬN
Bổ sung giàn đậu ngang và/hoặc chế phẩm
vi sinh vật tổng hợp lên đệm lót nền chuồng đã
cải thiện một số chỉ tiêu phúc lợi động vật như
tỷ lệ sạch lông cao hơn và tổn thương mào giảm.
Bổ sung giàn đậu ngang và/hoặc chế phẩm
không ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của gà
lông màu như tỷ lệ nuôi sống, tốc độ sinh trưởng
tương đối, tuyệt đối và hiệu quả sử dụng
thức ăn.
LỜI CẢM ƠN
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn Dự án
Việt Bỉ (ARES-CCD) đã hỗ trợ kinh phí để thực
hiện nghiên cứu này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bailie C.L., Baxter M. & O’Connell N.E. (2018).
Exploring perch provision options for commercial
broiler chickens. Applied Animal Behaviour
Science. 200: 114-122.
Biegert H. (1937). Occurrence of crooked breastbone in
White and Brown Leghorn fowls. Archiv Fur
Geflugelkunde. 11: 209-248.
Bùi Hữu Đoàn (2010). Đánh giá khả năng sản xuất và
chất lượng thịt của gà lai F1(Hồ × Lương Phượng).
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
5: 60-64.
Bùi Hữu Đoàn, Nguyễn Thị Mai, Nguyễn Thanh Sơn &
Nguyễn Huy Đạt (2011). Các chỉ tiêu nghiên
cứu trong chăn nuôi gia cầm. Nhà xuất bản
Nông nghiệp.
Bùi Hữu Đoàn & Hoàng Thanh (2011). Khả năng sản
xuất của gà F1 (Hồ × Lương Phượng) và gà lai
Lương Phượng x F1(Hồ × Lương Phượng). Tạp chí
Khoa học Công nghệ Chăn nuôi. 31: 12-20.
Erian I. & Phillips C.J.C. (2017). Public understanding
and attitudes towards meat chicken production and
relations to consumption. Animals. 7(20).
Fraser D. (2008). Understanding animal welfare. Acta
Veterinaria Scandinavica. 50(1): S1.
Han Quang Hanh, Nguyen Thi Xuan & Vu Dinh Ton
(2019). Integration of animal welfare into
assessment of broiler chicken production systems
toward sustainable development in Vietnam.
Livestock Research for Rural Development. 31(5).
Jones R.B. (1994). Effect of age and presence of
perches during rearing on tonic immobility fear
reactions of broiler breeder pullets. Poultry
Science. 73: 1470-1474.
Khuất Thị Minh Tú (2008). Nghiên cứu khả năng sản
xuất của tổ hợp lai giữa gà Hồ và gà Lương
Phượng. Luận án Thạc sỹ khoa học nông nghiệp.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Lusk J.L. (2018). Consumer preferences for and beliefs
about slow growth chicken. Poultry Science.
97: 4159-4166.
Nguyễn Thị Phương, Nguyễn Đình Tiến, Hán Quang
Hạnh & Vũ Đình Tôn (2020). Tình hình chăn nuôi
và thực trạng phúc lợi động vật của gà tại tỉnh Hải
Dương. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi.
255: 79-85.
Nguyen Thi Tuyet Le (2017). Effect of using litters
fermented with micrioorganisms on performance
and odor emissions in Broiler production.
International Conference on Animal Production in
Southeast Asia: Current Status and Future. Hanoi.
pp. 58-65.
Nguyễn Thị Xuân, Hán Quang Hạnh & Vũ Đình Tôn
(2018). Ảnh hưởng của việc bổ sung giàn đậu và
hố tắm cát tới tập tính và phúc lợi của gà thịt
thương phẩm ở hệ thống nuôi nhốt hoàn toàn và
bán chăn thả. Hội thảo Khoa học nữ cán bộ viên
chức năm 2018. Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
tr. 120-125.
Nguyễn Xuân Trạch (2017). Phúc lợi động vật: Khái
niệm và thực hành. Hội nghị khoa học Chăn nuôi -
Thú y toàn quốc. Cần Thơ.
Pavlovski Z., Škrabić Z., Lukić M., Petričević V. &
Trenkovski S. (2009). The effect of genotype and
housing system on production results of fattening
chickens. Biotechnology in Animal husbandry.
35(3-4): 259-282.
Ảnh hưởng của đệm lót chuồng lên men vi sinh vật và giàn đậu đến một số chỉ tiêu phúc lợi và khả năng sinh trưởng
của gà thịt lông màu
846
Ryan E.B., Fraser D. & Weary D.M. (2015). Public
attitudes to housing systems for pregnant pigs. Plos
One. 10(11): e0141878.
Sahoo S.P., Kaur D., Sethi A.P.S., Sharma A., Chandra
M. & Chandrahas (2017). Effect of chemically
amended litter on litter quality and broiler
performance in winter. Journal of Applied Animal
Research. 45(1): 533-537.
Weeks C.A. & Nicol C.J. (2006). Behavioural needs,
priorities and preferences of laying hens. World’s
Poultry Science. 62: 296-07.
Welfare Quality® (2009). Welfare quality® assessment
protocol for poultry (broilers, laying hens).
poultry_protocol.pdf
Widmar N.J.O., McKendree M.G.S. & Croney C.C.
(2013). Consumer preferences for and perceptions of
livestock production process attributes: Animal
welfare and food safety attributes. Proceedings of the
American Meat Science Association 66th Reciprocal
Meat Conference. Aubum University, Alabama.
Zhao J.P., Jiao H.C., Jiang Y.B., Song Z.G., Wang X.J.
& Lin H. (2013). Cool perches improve the growth
performance and welfare status of broiler chickens
reared at different stocking densities and high
temperatures. Poultry Science. 92: 1962-1971.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
anh_huong_cua_dem_lot_chuong_len_men_vi_sinh_vat_va_gian_dau.pdf