Gợi ý giải pháp
Trước những ảnh hưởng của di cư lao động
đến trồng trọt của các hộ nông dân, chính quyền
địa phương cần quan tâm đến một số giải pháp
để hạn chế tác động của hiện tượng này như sau:
- Khuyến khích các hộ có nguồn lao động
gia đình dồi dào tiếp tục duy trì và mở rộng diện
tích trồng trọt thông qua việc củng cố và nâng
cao chất lượng hoạt động của các tổ chức dịch vụ
nông nghiệp như: dịch vụ vật tư, giống, thủy lợi,
bảo vệ thực vật, công tác thú y, mạng lưới
khuyến nông.
- Xây dựng cơ chế phù hợp để các hộ nông
dân thuận tiện trong việc cho thuê, cho mượn,
dồn đổi đất sản xuất nông nghiệp theo hướng hộ
không có nhu cầu sử dụng đất chuyển đổi cho hộ
có nhu cầu mở rộng diện tích sản xuất; qua đó
hạn chế hiện tượng ruộng đất bỏ hoang.
- Tăng cường áp dụng cơ giới hóa trong
nông nghiệp thông qua các chương trình trợ giá,
trợ cấp cho hộ nông dân mua máy móc phục vụ
sản xuất, hạn chế sự ảnh hưởng của thiếu lao
động do di cư.
- Khuyến khích hộ nông dân trồng các
giống lúa mới ngắn ngày và chất lượng cao
nhằm giảm sự thâm dụng lao động nhưng vẫn
nâng cao được thu nhập.
4. KẾT LUẬN
Di cư lao động là xu thế tất yếu của bất kỳ
quốc gia nào trong thời kỳ phát triển kinh tế
theo hướng công nghiệp. Di cư lao động một mặt
mang lại lợi ích kinh tế cho nơi họ dời đi thông
qua tiền gửi về, nhưng mặt khác cũng để lại
khoảng trống không nhỏ trong sự thiếu hụt lao
động gia đình, đặc biệt cho sản xuất nông
nghiệp. Các hộ nông dân có lao động di cư trên
địa bàn xã Phượng Mao đã phải thích ứng với sự
thay đổi quy mô lao động gia đình như thu hẹp
diện tích trồng trọt bằng cách cho thuê mượn
đất; thuê thêm lao động thời vụ; chỉ tập trung
cấy 2 vụ lúa phục vụ nhu cầu gia đình thay vì
trồng cả cây vụ đông như các hộ không có lao
động di cư. Các hộ có nguồn thu nhập gửi về từ
lao động di cư càng cao thì càng có xu hướng
chuyển trồng 2 vụ lúa, bỏ vụ màu. Sự thích ứng
của các hộ nông dân xã Phượng Mao cho thấy xu
hướng kết hợp hài hòa giữa hoạt động trồng trọt
với di cư lao động nhằm nâng cao thu nhập
nhưng vẫn đảm bảo an toàn lương thực cho hộ.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 51 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của di cư lao động đến sản xuất trồng trọt của các hộ nông dân: Nghiên cứu tại xã Phượng Mao, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Vietnam J. Agri. Sci. 2020, Vol. 18, No. 9: 696-704 Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2020, 18(9): 696-704
www.vnua.edu.vn
696
ẢNH HƯỞNG CỦA DI CƯ LAO ĐỘNG ĐẾN SẢN XUẤT TRỒNG TRỌT CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN:
NGHIÊN CỨU TẠI XÃ PHƯỢNG MAO, HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
Nguyễn Thị Hải Ninh*, Trần Hương Giang
1Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
*Tác giả liên hệ: nthaininh@vnua.edu.vn
Ngày nhận bài: 12.06.2020 Ngày chấp nhận đăng: 20.07.2020
TÓM TẮT
Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa khiến một bộ phận lớn nông dân mất đất canh tác, trở nên không có
công ăn việc làm, cần di cư kiếm sống. Đây là hai yếu tố hàng đầu thúc đẩy lao động nông thôn di cư ở Việt Nam nói
chung và ở tỉnh Bắc Ninh nói riêng. Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu phân tích ảnh hưởng của di cư lao
động đến hoạt động trồng trọt của các hộ nông dân. Dựa trên số liệu sơ cấp thu thập được ở 80 hộ nông dân xã
Phượng Mao, nghiên cứu cho thấy các hộ nông dân có lao động di cư đã thích ứng với sự thay đổi quy mô lao động
gia đình như thu hẹp diện tích trồng trọt; thuê lao động thời vụ; tập trung cấy 2 vụ lúa đáp ứng nhu cầu gia đình thay
vì trồng cả cây vụ đông. Ngoài ra, mô hình lượng hóa các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động trồng trọt chỉ ra rằng các
hộ có nguồn thu nhập gửi về từ lao động di cư càng cao thì càng có xu hướng chuyển sang trồng 2 vụ lúa. Sự thích
ứng của các hộ nông dân trong bối cảnh di cư lao động minh chứng xu hướng kết hợp hài hòa giữa sản xuất nông
nghiệp với di cư lao động nhằm nâng cao thu nhập nhưng đảm bảo an ninh lương thực.
Từ khóa: Di cư lao động, sản xuất trồng trọt, hộ nông dân, ảnh hưởng.
Effects of Labor Migration on Crop Production at Farm Households:
A Case Study in Phuong Mao Commune, Que Vo District, Bac Ninh Province
ABSTRACT
The rapid development of industrial zones and urbanization in Vietnam lead to a large proportion of farmers who
have lost farmland, become unemployed and have to migrate to other places to earn their living. These are two
important reasons motivating migrant workers in Vietnam in general and in Bac Ninh province in particular. This study
aimed to analyze the effects of labor migration on crop production at farm households of Bac Ninh. Based on the
primary data collected through interviews with 80 farmer households in Phuong Mao commune, Que Vo district, the
study showed that farm households with migrant laborers had several ways to adapt to the lack of family laborers,
such as shrinking cultivated areas; hiring additional seasonal workers; focusing on two rice crop production to meet
family needs instead of 3 crop seasons (including winter season). Moreover, the results of applying the binary logistic
model indicated that the higher the income of the remittance households, the more likely they were to switch to
growing two rice crops and leaving out the winter crops. The adaptation of farm households in the context of labor
migration illustrated the trend of flexible combinations between agricultural production with labor migration in order to
increase income while ensuring food security.
Keywords: Labor migration, crop production, farm household, impact.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiến trình công nghiệp hóa của Việt Nam từ
sau “Đổi mới” đã góp phần tạo nên một làn sóng
di cư lao động từ khu vực nông thôn ra thành
thị để tìm kiếm cơ hội việc làm với mức thu
nhập cao hơn. Nghiên cứu cho thấy, lao động di
cư thường là những người trẻ, có sức khỏe, kỹ
năng và trình độ (UNFPA, 2016). Sự di cư của
họ đã để lại khoảng trống lớn trong thị trường
lao động nông thôn, đặc biệt là tình trạng lao
động không qua đào tạo và lao động lớn tuổi
trong sản xuất nông nghiệp (ILO, 2011). Nói
cách khác, di cư lao động ở cấp độ vĩ mô là lý do
Nguyễn Thị Hải Ninh, Trần Hương Giang
697
khiến chất lượng nguồn nhân lực cho nông
nghiệp sụt giảm, đồng thời cũng là nguyên nhân
gây ra sự thiếu hụt lao động nông nghiệp ở
nhiều vùng nông thôn Việt Nam (Worlbank,
2008). Ở cấp độ hộ, di cư lao động làm giảm sút
số lượng lao động gia đình, qua đó làm tăng nhu
cầu thuê mướn lao động cho sản xuất nông
nghiệp hoặc thay đổi cơ cấu sản xuất để thích
ứng. So với chăn nuôi thì trồng trọt là hoạt động
chịu nhiều ảnh hưởng từ di cư lao động bởi sự
phụ thuộc lớn hơn vào nguồn lao động gia đình
(Nguyen & cs., 2015)
Quế Võ là huyện còn duy trì diện tích trồng
trọt lớn nhất của tỉnh Bắc Ninh với gần 14 nghìn
hecta (Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh, 2019). Song
song với đó, Quế Võ cũng là huyện có nhiều khu
công nghiệp thu hút số lượng đáng kể lao động
địa phương, tạo ra sự di cư lao động lớn trong
toàn huyện. Không chỉ di chuyển trong huyện,
người lao động của Quế Võ còn góp mặt đông đảo
tại các thị trường lao động lớn trong nước như Hà
Nội, Bình Dương, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí
Minh hoặc nước ngoài như Nhật Bản, Đài Loan,
Hàn Quốc (Lê Thái Thị Băng Tâm, 2011). Mặc
dù còn duy trì được diện tích trồng lúa và cây vụ
đông lớn nhưng di cư lao động đã có những tác
động nhất định đến hoạt động trồng trọt của các
hộ nông dân của huyện trên các phương diện:
diện tích, cơ cấu cây trồng, cơ cấu lao động và thu
nhập từ trồng trọt.
Trước thực tế này, việc đánh giá ảnh hưởng
của di cư lao động đến sản xuất trồng trọt của
các hộ nông dân trên địa bàn huyện là cần thiết
để đề xuất giải pháp duy trì sản xuất, bảo đảm
an ninh lương thực của địa phương trong bối
cảnh lao động di cư ngày một gia tăng.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm nghiên cứu
Huyện Quế Võ có 20 xã và 01 thị trấn.
Phượng Mao là xã nằm kề thị trấn Phố Mới và
cách thành phố Bắc Ninh 10km, do đó người lao
động trong xã có nhiều cơ hội di chuyển để tìm
kiếm việc làm phi nông nghiệp. Bên cạnh đó, xã
Phượng Mao được bao quanh bởi nhiều khu công
nghiệp khiến cho sự di cư của người lao động
cũng trở nên đa dạng. Ở Phượng Mao không chỉ
có lao động di cư nước ngoài, lao động di cư
trong nước mà còn có một số lượng đông đảo lao
động không còn tham gia sản xuất nông nghiệp
nhưng vẫn sống tại địa phương.
2.2. Thu thập và phân tích thông tin
Số liệu thống kê về lao động di cư trên địa
bàn xã Phượng Mao được thu thập dựa trên các
báo cáo của huyện Quế Võ và của Ủy ban nhân
dân xã. Bên cạnh đó, thông tin sơ cấp về di cư
lao động và hoạt động trồng trọt của các hộ nông
dân được thu thập thông qua phỏng vấn bằng
bảng hỏi với chủ hộ và phỏng vấn sâu một số lao
động di cư. Để đảm bảo tính đại diện, 60 hộ có
lao động di cư (sau đây được hiểu ngắn gọn là hộ
di cư) và 20 hộ không có lao động di cư (sau đây
được hiểu ngắn gọn là hộ không di cư) đã được
lựa chọn cho mẫu điều tra. Những hộ không có
lao động di cư có sinh kế dựa trên sự kết hợp
giữa sản xuất nông nghiệp và các hoạt động phi
nông nghiệp khác.
Số liệu sơ cấp được làm sạch, xử lý và phân
tích dựa trên các phương pháp thống kê mô tả
và so sánh. Ngoài ra, nghiên cứu sử dụng mô
hình binary logistic để lượng hóa ảnh hưởng của
di cư lao động đến sản xuất trồng trọt tại các hộ
nông dân. Mô hình có biến phụ thuộc Yi là biến
dummy đại diện cho sản xuất trồng trọt, nhận
giá trị 0 nếu hộ sản xuất đủ 3 vụ/năm (bao gồm
cả lúa, rau màu) và nhận giá trị 1 nếu hộ chỉ
trồng lúa. Biến độc lập (Xi) bao gồm giới tính
(X1: nhận giá trị 0 nếu chủ hộ là nữ và giá trị 1
nếu chủ hộ là nam); tuổi (X2: tuổi); nghề nghiệp
của chủ hộ (X3: nhận giá trị 0 nếu chủ hộ làm
nông nghiệp và giá trị 1 nếu chủ hộ làm phi
nông nghiệp); số lao động di cư (X4: người), số
lao động gia đình của hộ (X5: người); thu nhập
từ lao động di cư (X6: triệu đồng/tháng); diện
tích canh tác (X7: m
2).
Ln[(P(Y=1)/P(Y=0)] = β0 + β1X1+ + βiXi
(với i = 1-7)
Trong đó P(Y = 0) là xác suất hộ sản xuất
đủ 3 vụ/năm và P(Y = 1) = P0 là xác suất hộ chỉ
trồng lúa. Nếu coi P0 là xác suất ban đầu để hộ
trồng lúa thì xác suất thay đổi hoạt động trồng
trọt được tính theo công thức:
P1 = P0 × e
β/[1 - P0(1 - e
β)] (Đinh Phi
Hổ, 2011).
Ảnh hưởng của di cư lao động đến sản xuất trồng trọt của các hộ nông dân: Nghiên cứu tại xã Phượng Mao, huyện
Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
698
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thực trạng di cư lao động trên địa bàn
xã Phượng Mao
3.1.1. Khái quát về lao động xã Phượng Mao
Trong khoảng thời gian 3 năm, từ
2017-2019, số lượng lao động nông nghiệp xã
Phượng Mao giảm với tỷ lệ bình quân
10,3 %/năm. Ngược lại là xu hướng tăng lên của
lao động di cư với tỷ lệ 13,3 %/năm, hầu hết là
dịch chuyển để làm việc trong khu vực phi nông
nghiệp (Hình 1). Sự dịch chuyển lao động này
đến từ các nguyên nhân chính tương đồng với
các nghiên cứu có liên quan khác như: đất canh
tác của hộ gia đình bị thu hẹp để xây dựng khu
công nghiệp và đô thị khiến số lao động gia đình
tham gia nông nghiệp giảm, trong bối cảnh này,
lao động nông nghiệp dư thừa buộc phải di cư để
tìm công việc mới; thu nhập từ sản xuất nông
nghiệp thấp hơn nhiều so với hoạt động phi
nông nghiệp cũng như cơ hội tìm kiếm việc làm
phi nông nghiệp ngày càng thuận lợi đã thúc
đẩy lao động trong hộ di cư mặc dù vẫn có đủ
đất canh tác (Trần Nguyệt Minh Thu, 2013).
Xét về độ tuổi và giới tính, số liệu thống kê
năm 2019 của xã Phượng Mao cho thấy lao động
nam giới di cư nhiều hơn nữ giới, đặc biệt tập
trung ở độ tuổi 25-44 (Hình 2). Hiện trạng này
phù hợp với những kết quả nghiên cứu về lao
động di cư khu vực đồng bằng sông Hồng cho
rằng “lao động nam giới có nhiều ưu thế hơn nữ
giới khi di cư để tìm việc làm” và hệ quả là xuất
hiện “xu hướng nữ hóa và già hóa trong lực
lượng lao động cho sản xuất nông nghiệp ở nông
thôn” (Nguyen & cs., 2015; Hoang, 2009). Bên
cạnh đó, lao động trong khoảng tuổi từ 25 đến
44 cũng có cơ hội tìm kiếm việc làm lớn hơn các
độ tuổi khác vì họ có sức khỏe, sự nhanh nhẹn
và chín chắn khi làm việc.
3.1.2. Di cư lao động tại các hộ điều tra
Trong các cuộc điều tra dân số ở Việt Nam,
di cư được định nghĩa là sự di chuyển của con
người từ một đơn vị hành chính này đến một
đơn vị hành chính khác, đó là chuyển đến một
xã khác, huyện khác, thành phố hoặc một tỉnh
khác trong một khoảng thời gian nhất định
(UNFPA, 2016). Cụ thể hơn, lao động di cư
trong nước là người di chuyển từ địa phương này
sang địa phương khác trong một thời gian nhất
định với mục đích lao động, làm việc (Nguyễn
Hữu Chí, 2017). Với định nghĩa này, tổng số lao
động di cư ở 60 hộ điều tra tại Phượng Mao là
159 người, trong đó có 66 lao động xuất khẩu
(chiếm 41,5%) và 93 lao động di cư trong nước
(chiếm 58,5%).
Nguồn: UBND xã Phượng Mao (2019).
Hình 1. Xu hướng di cư lao động tại xã Phượng Mao qua các năm
Nguyễn Thị Hải Ninh, Trần Hương Giang
699
Hình 2. Phân bố tuổi và giới tính của lao động di cư xã Phượng Mao 2019
Công việc của lao động di cư khá đa dạng
(Bảng 1), tập trung ở một số loại hình như: nhân
viên văn phòng (chiếm tỷ lệ thấp vì lao động cần
có trình độ đào tạo nhất định); công nhân (là
công việc phổ biến của xấp xỉ 51% lao động di cư
vì chỉ cần đào tạo trong thời gian ngắn); giúp việc
gia đình (chiếm hơn 15% và tất cả đều là lao
động nữ); lao động tự do như xe ôm, bán hàng
rong, thợ xây và phụ hồ (chiếm 24,5%, chủ yếu là
những người trên 45 tuổi). Đặc điểm công việc
của lao động di cư là một yếu tố quan trọng ảnh
hưởng đến sự tham gia của họ vào sản xuất nông
nghiệp tại gia đình. Với yếu tố thời vụ rõ rệt, hoạt
động trồng trọt không nhất thiết cần sự có mặt
của lao động tại mọi thời điểm của quá trình sản
xuất. Do đó, lao động giúp việc gia đình hoặc làm
nghề tự do vẫn có thể tham gia sản xuất nông
nghiệp khi thời vụ như cấy, gặt lúa hay gieo
trồng và thu hoạch cây vụ đông. Tác động của di
cư lao động tới trồng trọt tại các hộ điều tra sẽ
được phân tích cụ thể ở nội dung tiếp theo.
3.2. Ảnh hưởng của di cư lao động tới trồng
trọt tại các hộ điều tra
3.2.1 Ảnh hưởng của di cư lao động tới sử
dụng đất đai
Cùng với lao động, đất đai là nguồn lực
không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp. Vì
lý do này mà đất sản xuất nông nghiệp là yếu tố
có nhiều biến động sau quá trình di cư lao động
của các hộ gia đình. Theo kết quả khảo sát, biến
động đất nông nghiệp thể hiện trên 2 xu hướng:
cho thuê, mượn đất ở các hộ có nhiều lao động di
cư, thiếu lao động gia đình; và đi thuê, mượn
đất ở những hộ có lao động gia đình dồi dào. Hai
xu hướng này tạo nên mối quan hệ cung và cầu
trên thị trường đất nông nghiệp ở xã Phượng
Mao. Cung đất nông nghiệp phần lớn (45% số
hộ) là những hộ có lao động di cư, diện tích cho
thuê mượn trung bình 744 m2/hộ. Ngược lại,
nhiều hộ không có lao động di cư (40%) có nhu
cầu thuê thêm đất canh tác, diện tích thuê
mượn trung bình mỗi hộ là 2.164m2. Kiểm định
Mann Whitney cho thấy có sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê giữa nhóm hộ có lao động di cư
và nhóm hộ không có lao động di cư về diện tích
đất nông nghiệp thuê thêm (Bảng 2).
Nghiên cứu sâu hơn ở các hộ có lao động di cư
cho thấy, di cư nước ngoài và di cư ngoại tỉnh
khiến lực lượng lao động gia đình sụt giảm tương
đối lớn, nhiều hộ chỉ còn người già và trẻ em ở
nhà nên cho thuê mượn toàn bộ ruộng đất. Tuy
nhiên, đối với nhóm hộ có lao động di cư trong
tỉnh thì xuất hiện xu hướng giữ lại một phần diện
Ảnh hưởng của di cư lao động đến sản xuất trồng trọt của các hộ nông dân: Nghiên cứu tại xã Phượng Mao, huyện
Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
700
tích đất vừa đủ để phục vụ nhu cầu lương thực
cho gia đình. Kết quả này tương đồng với nghiên
cứu của Nguyễn Tuấn Anh & cs. (2015) tại Nghệ
An cho rằng lý do cơ bản hình thành thị trường
thuê mướn đất nông nghiệp ở khu vực nông thôn
là từ sự thay đổi trong quy mô lao động nông
nghiệp của hộ mà trong đó, di cư lao động là yếu
tố chính dẫn tới sự thay đổi quy mô này.
Bảng 1. Thông tin cơ bản về lao động di cư tại các hộ điều tra
Chỉ tiêu Số người Tỷ lệ (%)
Loại hình di cư 159 100
Trong nước 93 58,49
Nước ngoài 66 41,51
Loại hình công việc 159 100
Nhân viên văn phòng 15 9,43
Công nhân 81 50,94
Giúp việc gia đình 24 15,09
Lao động tự do 39 24,53
Bảng 2. Hiện trạng đất nông nghiệp của các hộ điều tra
Chỉ tiêu ĐVT Hộ di cư (n = 60) Hộ không di cư (n = 20) Mann Whitney test
Đất nông nghiệp m
2
2.412 5.152 0,045**
Cho thuê đất
Số hộ hộ 27 2
Diện tích m
2
/hộ 744 720 0,238
Đi thuê đất
Số hộ hộ 0 8
Diện tích m
2
/hộ 0 2164 0,096*
Chú thích: * mức ý nghĩa 10%; ** mức ý nghĩa 5%; *** mức ý nghĩa 1%.
Hình 3. Hiện trạng sử dụng lao động trong trồng trọt
Nguyễn Thị Hải Ninh, Trần Hương Giang
701
Mặc dù có sự tồn tại của thị trường thuê
mượn đất nông nghiệp giữa các hộ di cư lao
động và hộ không di cư lao động, nhưng tất cả
các giao dịch đều dựa trên lòng tin và thỏa
thuận miệng vì hầu hết các hộ đều có quan hệ
họ hàng quen biết. Có thể nói, trong ngắn hạn,
thị trường thuê mượn đất có thể giúp duy trì
diện tích trồng trọt của địa phương vì ruộng đất
không bị các hộ bỏ hoang.
3.2.2. Ảnh hưởng của di cư lao động tới sử
dụng lao động trong trồng trọt
Hoạt động trồng trọt ở Việt Nam nói chung,
sản xuất lúa nói riêng cần nhiều nhân lực hơn so
với một số lĩnh vực nông nghiệp khác bởi yếu tố
thời vụ. Trong bối cảnh thiếu lao động gia đình
do di cư, các hộ thường có sự trao đổi lao động
nông nghiệp ở một mức độ nhất định (Bergstedt,
2012). Điều này khiến cho thị trường lao động
thuê ở khu vực nông thôn trở thành yếu tố quan
trọng nhằm giúp các hộ duy trì các hoạt động
trồng trọt (Mai Văn Hải, 2000).
Kết quả thống kê cho thấy, toàn bộ các hộ
có lao động di cư phải thuê thêm lao động.
Không những thế, 75% số hộ không có lao động
di cư cũng phải tham gia vào thị trường này
(Hình 3). Lý do chính là vào thời điểm mùa vụ,
các hộ đều không có đủ lao động gia đình. Lao
động thường được thuê để cấy và gặt lúa, một số
hộ không có lao động di cư thuê thêm lao động
để trồng và thu hoạch khoai tây vào vụ đông.
Tùy thuộc vào diện tích gieo trồng mà số lượng
lao động thuê của cả 2 nhóm hộ dao động từ 2
đến 5 người/ngày và 1-3 ngày/vụ. Tiền công của
người làm thuê từ 200.000 đến 300.000
đồng/ngày theo loại hình công việc. Các chủ hộ
không có lao động di cư cho rằng họ tham gia thị
trường lao động thuê trong trồng trọt với cả hai
vai trò: cầu và cung lao động. Nói cách khác,
nhiều lao động trong nhóm hộ này vẫn đi làm
thuê cho các hộ có lao động di cư sau khi kết
thúc công việc của nhà mình.
Bên cạnh việc sử dụng lao động thuê, các hộ
có lao động di cư thường cố gắng kết hợp công
việc của lao động di cư với hoạt động nông
nghiệp. Thực trạng này xuất hiện phổ biến
(70%) ở những hộ có lao động di cư trong tỉnh
hoặc làm việc ở những tỉnh lân cận như Hà Nội,
Hải Dương. Những lao động di cư này làm nghề
tự do nên họ thường thu xếp công việc để quay
trở về phụ giúp gia đình vào những lúc thời vụ.
Ngoài ra, thống kê cho thấy 25% hộ có lao động
di cư vẫn dựa vào lao động gia đình để thực hiện
các hoạt động trồng cấy, đó là những người lớn
tuổi, người không đủ sức khỏe hoặc người vợ có
chồng đi làm xa nên phải ở nhà chăm sóc cha
mẹ, con cái. Trên giác độ kinh tế, những người
phụ nữ này cũng là nguồn cung tham gia vào
thị trường lao động làm thuê trong nông nghiệp.
Trên giác độ xã hội, họ góp phần làm ổn định
môi trường xã hội khu vực nông thôn bởi họ duy
trì cuộc sống gia đình, gánh trên vai gánh nặng
nuôi dạy con cái và thường được biết đến với
khái niệm “mồ côi chồng” (Nguyen & cs., 2015).
“Tôi sinh năm 1970, ở tuổi này tôi khó có
khả năng đi ra ngoài tìm kiếm việc làm ở các
công ty may như những người trẻ. Hơn thế nữa,
chồng tôi đi làm bảo vệ ở Hà Nội, con trai thì
xuất khẩu lao động ở Đài Loan nên tôi phải ở
nhà chăm lo cho mẹ chồng và 2 con còn đang đi
học. Khi thời vụ, chồng tôi không thể nghỉ việc
để về nhà nên thường gửi tiền về cho tôi thuê
người cấy, gặt. Do thiếu lao động nên mỗi năm
tôi chỉ cấy 2 vụ lúa trên diện tích đất của nhà
mình, thời gian còn lại tôi làm thuê xung quanh
các thôn trong xã để thuận tiện đi lại trong
ngày, chu toàn được việc nhà cửa” (Phỏng vấn
sâu chủ hộ nữ, xã Phượng Mao, 2019).
3.2.3. Ảnh hưởng của di cư lao động tới cơ
cấu cây trồng
Di cư lao động còn có ảnh hưởng trực tiếp
tới cơ cấu cây trồng của các hộ. Lúa là cây lương
thực chủ đạo nên mặc dù có nhiều lao động di cư
nhưng 100% các hộ di cư vẫn giữ 2 vụ lúa, tuy
nhiên diện tích trồng lúa của nhóm hộ này chỉ
bằng một nửa so với diện tích trồng lúa của
nhóm hộ không có lao động di cư (bảng 3). Đối
với cây vụ đông (khoai tây, bắp cải, cà chua), chỉ
có 5% số hộ có lao động di cư còn duy trì trên
diện tích tương đối nhỏ (dưới 1 sào). Nhóm hộ
không có lao động di cư có sinh kế phụ thuộc
nhiều hơn vào nông nghiệp, do đó 90% số hộ vẫn
duy trì diện tích lớn cây vụ đông. Kiểm định
Mann Whitney cho thấy một sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê về diện tích lúa và diện tích cây
vụ đông giữa hai nhóm hộ.
Ảnh hưởng của di cư lao động đến sản xuất trồng trọt của các hộ nông dân: Nghiên cứu tại xã Phượng Mao, huyện
Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
702
Bảng 3. Cơ cấu và mục tiêu trồng trọt
Chỉ tiêu ĐVT Hộ di cư (n=60) Hộ không di cư (n=20) Mann Whitney test
Diện tích cây trồng
Lúa m
2
2412 5152 0,045**
Tỷ lệ hộ trồng lúa % 100 100
Cây vụ đông m
2
230 3096 0,087*
Tỷ lệ hộ trồng cây vụ đông % 5 90
Mục tiêu trồng trọt
Tiêu dùng gia đình % 100 100
Bán % 5 100
Chú thích: * mức ý nghĩa 10%; ** mức ý nghĩa 5%; *** mức ý nghĩa 1%.
Nguồn lực lao động là nguyên nhân của sự
khác biệt về diện tích trồng trọt giữa 2 nhóm
hộ. Một nguyên nhân khác đến từ mục đích của
việc trồng trọt. Tất cả các hộ có lao động di cư
đều trồng lúa nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng
gia đình. Họ duy trì diện tích lúa để vừa giữ
ruộng, vừa có thóc ăn. Ở Phượng Mao, công tác
dồn điền đổi thửa đã kết thúc nhiều năm, với
diện tích liền mảnh, các hộ nông dân được
chính quyền địa phương khuyến khích trồng
trọt, không bỏ ruộng hoang. Hơn thế nữa, ở
nhóm hộ này, thóc sau khi thu hoạch còn được
cung cấp cho các con đi làm xa. Ngược lại, ở
nhóm hộ không có lao động di cư, sản phẩm
trồng trọt vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng gia
đình, vừa để bán ra thị trường. Thóc lúa
thường được tiêu thụ ở thị trường địa phương
thông qua các trung gian nhỏ, nhưng rau vụ
đông (đặc biệt là khoai tây) thường được thu
mua bởi các công ty lớn làm nguyên liệu cho
công nghiệp chế biến.
3.3. Đánh giá của hộ nông dân về ảnh
hưởng của di cư lao động đến trồng trọt
3.3.1. Đánh giá của hai nhóm hộ điều tra
Chủ hộ có lao động di cư được yêu cầu so
sánh các nội dung cần đánh giá giữa hai thời
điểm trước và sau khi lao động của hộ di cư.
Trong trường hợp hộ có nhiều lao động di cư thì
thời điểm sau sẽ được tính là thời điểm của lao
động di cư cuối cùng. Đối với nhóm hộ không có
lao động di cư, đánh giá sẽ được dựa trên sự so
sánh của chủ hộ với những hộ xung quanh
(hàng xóm, họ hàng) có lao động di cư.
Ở nhóm hộ có lao động di cư, gần 67% chủ
hộ cho rằng việc sử dụng đất nông nghiệp cho
trồng trọt của hộ có xu hướng giảm, song song
với đó là mức độ tăng lên của sử dụng lao động
thuê (75% số hộ đánh giá tăng) và do đó chi phí
đầu tư cho sản xuất cũng tăng ở 80% số hộ. Hệ
quả là, thu nhập từ trồng trọt của phần lớn
nhóm hộ có lao động di cư giảm (Bảng 4). Nhóm
hộ không có lao động di cư có đánh giá tương
đồng với nhóm hộ có lao động di cư khi 50% chủ
hộ cho rằng họ phụ thuộc vào việc thuê mướn
lao động trong trồng trọt. Cơ giới hóa trong nông
nghiệp ngày một trở nên phổ biến đã giúp các hộ
tiết kiệm sức lao động, nhưng kéo theo đó là sự
lệ thuộc không nhỏ vào việc thuê máy móc, đặc
biệt ở khâu làm đất và gặt lúa. Vì thế ngay cả
khi các hộ có đủ lao động gia đình thì hai khâu
sản xuất này vẫn được thuê là chính. Tuy nhiên,
nhóm hộ này có thể tiết kiệm chi phí từ các
khâu sản xuất khác nên chỉ có 20% chủ hộ đánh
giá rằng chi phí sản xuất tăng lên. Như đã đề
cập ở trên, sinh kế của các hộ không có di cư lao
động phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông
nghiệp, trong đó có trồng trọt. Với sự phụ thuộc
này, tất cả các hộ trong nhóm đều có sản phẩm
nông nghiệp bán ra thị trường, do đó so với
nhóm hộ có lao động di cư thì nguồn thu từ
trồng trọt của nhóm hộ không có lao động di cư
tăng lên ở 90% số hộ.
Nguyễn Thị Hải Ninh, Trần Hương Giang
703
Bảng 4. Đánh giá của hộ về ảnh hưởng của di cư lao động đến trồng trọt
Chỉ tiêu
Mức độ đánh giá (%)
Tăng Giữ nguyên Giảm
Hộ di cư (n = 60)
Sử dụng đất đai 0 33,33 66,67
Sử dụng lao động thuê 75 25 0
Chi phí sản xuất 80 10 10
Thu nhập từ trồng trọt 6,67 31,66 61,67
Hộ không di cư (n = 20)
Sử dụng đất đai 40 50 10
Sử dụng lao động thuê 50 25 0
Chi phí sản xuất 20 80 0
Thu nhập từ trồng trọt 90 10 0
Bảng 5. Đánh giá của hộ về ảnh hưởng của di cư lao động đến trồng trọt
Tên biến Hệ số β Significant Exp (b)
Giới tính 0,326 0,659 1,385
Tuổi 0,031 0,571 1,032
Nghề nghiệp 1,211 0,534 3,355
Lao động di cư 0,835*** 0,000 2,304
Lao động gia đình -1,650** 0,006 0,192
Thu nhập từ di cư 0,250* 0,010 1,284
Đất nông nghiệp 0,002** 0,003 1,002
Hệ số tự do 2,057 0,581 -
Kiểm định cho sự phù hợp của mô hình Chi - Square 160,385 Sig 0,000; Nagelkerke R Square 0,810
Chú thích: * mức ý nghĩa 10%; ** mức ý nghĩa 5%; *** mức ý nghĩa 1%.
3.3.2. Mô hình lượng hóa các yếu tố ảnh
hưởng đến trồng trọt của hộ nông dân
Trong phần này, mô hình binary logistic sẽ
được sử dụng để lượng hóa những ảnh hưởng
của di cư lao động đến sản xuất trồng trọt của
hộ nông dân và so sánh yếu tố nào ảnh hưởng
nhiều hơn, từ đó có cơ sở đề xuất các biện pháp
tác động nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của di cư
lao động tới trồng trọt của hộ nông dân nói riêng
và ngành trồng trọt của địa phương nói chung.
Biến phụ thuộc của mô hình đã được mô tả
cụ thể trong phần phương pháp nghiên cứu.
Biến độc lập giới tính và nghề nghiệp của chủ hộ
là biến giả, nhận giá trị 0 và 1. Các biến còn lại
là những biến liên tục.
Kết quả mô hình cho thấy số lượng lao động
di cư, số lượng lao động gia đình, thu nhập từ di
cư và diện tích đất nông nghiệp là các yếu tố có
ảnh hưởng tới hoạt động trồng trọt của hộ, trong
đó lao động di cư thể hiện sự tác động lớn nhất,
kế tiếp là thu nhập từ di cư (Bảng 5). Giả sử xác
suất hộ trồng lúa ban đầu là 30%. Dựa theo
công thức tính đề cập trong phương pháp nghiên
cứu, có thể thấy khi số lượng lao động di cư tăng
lên một người, xác suất để hộ trồng lúa sẽ là
49,7% (tăng 19,7%); khi thu nhập từ di cư tăng
lên 1 triệu đồng/tháng, xác suất để các hộ trồng
lúa sẽ là 35,5% (tăng 5,5%).
3.4. Gợi ý giải pháp
Trước những ảnh hưởng của di cư lao động
đến trồng trọt của các hộ nông dân, chính quyền
địa phương cần quan tâm đến một số giải pháp
để hạn chế tác động của hiện tượng này như sau:
Ảnh hưởng của di cư lao động đến sản xuất trồng trọt của các hộ nông dân: Nghiên cứu tại xã Phượng Mao, huyện
Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
704
- Khuyến khích các hộ có nguồn lao động
gia đình dồi dào tiếp tục duy trì và mở rộng diện
tích trồng trọt thông qua việc củng cố và nâng
cao chất lượng hoạt động của các tổ chức dịch vụ
nông nghiệp như: dịch vụ vật tư, giống, thủy lợi,
bảo vệ thực vật, công tác thú y, mạng lưới
khuyến nông.
- Xây dựng cơ chế phù hợp để các hộ nông
dân thuận tiện trong việc cho thuê, cho mượn,
dồn đổi đất sản xuất nông nghiệp theo hướng hộ
không có nhu cầu sử dụng đất chuyển đổi cho hộ
có nhu cầu mở rộng diện tích sản xuất; qua đó
hạn chế hiện tượng ruộng đất bỏ hoang.
- Tăng cường áp dụng cơ giới hóa trong
nông nghiệp thông qua các chương trình trợ giá,
trợ cấp cho hộ nông dân mua máy móc phục vụ
sản xuất, hạn chế sự ảnh hưởng của thiếu lao
động do di cư.
- Khuyến khích hộ nông dân trồng các
giống lúa mới ngắn ngày và chất lượng cao
nhằm giảm sự thâm dụng lao động nhưng vẫn
nâng cao được thu nhập.
4. KẾT LUẬN
Di cư lao động là xu thế tất yếu của bất kỳ
quốc gia nào trong thời kỳ phát triển kinh tế
theo hướng công nghiệp. Di cư lao động một mặt
mang lại lợi ích kinh tế cho nơi họ dời đi thông
qua tiền gửi về, nhưng mặt khác cũng để lại
khoảng trống không nhỏ trong sự thiếu hụt lao
động gia đình, đặc biệt cho sản xuất nông
nghiệp. Các hộ nông dân có lao động di cư trên
địa bàn xã Phượng Mao đã phải thích ứng với sự
thay đổi quy mô lao động gia đình như thu hẹp
diện tích trồng trọt bằng cách cho thuê mượn
đất; thuê thêm lao động thời vụ; chỉ tập trung
cấy 2 vụ lúa phục vụ nhu cầu gia đình thay vì
trồng cả cây vụ đông như các hộ không có lao
động di cư. Các hộ có nguồn thu nhập gửi về từ
lao động di cư càng cao thì càng có xu hướng
chuyển trồng 2 vụ lúa, bỏ vụ màu. Sự thích ứng
của các hộ nông dân xã Phượng Mao cho thấy xu
hướng kết hợp hài hòa giữa hoạt động trồng trọt
với di cư lao động nhằm nâng cao thu nhập
nhưng vẫn đảm bảo an toàn lương thực cho hộ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bergstedt C. (2012). The Life of the Land: gender,
farmwork, and land in a rural Vietnamese village.
Unpublished PhD thesis. University of Gothenburg.
Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh (2019). Niên giám Thống
kê tỉnh Bắc Ninh. Nhà xuất bản Thống kê.
Đinh Phi Hổ (2011). Phương pháp nghiên cứu định
lượng và những nghiên cứu thực tiễn trong kinh tế
phát triển nông nghiệp. Nhà xuất bản Phương
Đông.
Hoang T.B (2009). Rural employment and life:
Challenges to gender role in Vietnam’s agriculture
at present. Working Paper presented at FAO
and ILO.
ILO (2011). Báo cáo lao động phi chính thức. Nhà xuất
bản Thống kê.
Lê Thái Thị Băng Tâm (2011). Một vài đặc điểm của
hộ gia đình sau khi bị thu hồi quyền sử dụng đất
canh tác. Tạp chí Xã hội học. 3(115): 47-57.
Mai Văn Hải (2000). Quan hệ dòng họ ở châu thổ sông
Hồng. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.
Nguyen A.T (2015). Migration and agricultural
production in a Vietnamese village. Working Paper
No 164 of Max Planck Institute for Social
Anthropology. 42: 24.
Niên giám thống kê tỉnh Bắc Ninh (2019). Nhà xuất
bản Thống kê.
Nguyễn Hữu Chí (2017). Tổng quan về lao động di cư
trong nước và những thách thức đặt ra ở Việt Nam.
Tham luận hội thảo “Vấn đề pháp luật đặt ra với
lao động di cư - Kinh nghiệm Việt Nam và Trung
Quốc” ngày 28/11/2017 tại Hà Nội.
Trần Nguyệt Minh Thu (2013). Vài nét về nhóm
lao động di cư tự do nông thôn - đô thị trong vai
trò hỗ trợ kinh tế gia đình. Tạp chí Xã hội học.
2(122): 1-9.
UBND xã Phượng Mao (2019). Báo cáo tổng kết tình
hình phát triển kinh tế - xã hội xã Phượng Mao.
UNFPA (2016). Di cư và đô thị hóa ở Việt Nam. Nhà
xuất bản Thống kê.
Worldbank (2008). World Development Report 2008:
Agriculture for Development. Washington, DC:
Worldbank Group.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
anh_huong_cua_di_cu_lao_dong_den_san_xuat_trong_trot_cua_cac.pdf