Như vậy có thể thấy, sự phát triển chiều dài
rễ không có sự khác biệt. Tuy vậy, tỷ lệ sống
và năng suất rau thu được (gấp đôi so với đối
chứng rau chỉ được tưới bằng nước máy) thể
hiện các dịch chiết rong ở pH kiềm hoặc pH
trung tính có thể sử dụng như một phân bón
cho rau xanh. Ngoài ra, 2 loại phân bón rong
biển thương mại được sử dụng làm đối chứng
có năng suất không vượt trội so với nhóm
nghiệm thức pH7 và pH11.
Nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với
các nghiên cứu về sử dụng dịch rong biển
trong kích thích phát triển và năng suất cây
trồng. Kết quả của chúng tôi, so với nghiên
cứu của Selvam và Sivakumar, (2013);
Selvam và Balamurugan (2013) có khác biệt
lớn về tỷ lệ nảy mầm của hạt: trong đó nhóm
tác giả này đã công bố dịch U. reticulata cho
tỷ lệ nảy mầm đậu mười đạt 100% (nồng độ
2,5%), 95% ± 2,1 (nồng độ 1%). Điều này có
thể do bản chất sinh học của các loại hạt giống
khác nhau và nồng độ và cách thức chiết rong
khác nhau. Ngoài ra, nồng độ dịch chiết rong
thấp (0.5%) so với nồng độ dịch chiết cao
(1%) cho kết quả thử nghiệm tốt hơn trên thực
vật là một thông tin tương đồng với các kết
quả khảo sát của các nhóm nghiên cứu khác
[7], [11] [13], [14].
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của dịch chiết rong Ulva reticulata lên sự phát triển của rau muống (Ipomoea aquatic), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
10 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 4/2020
ẢNH HƯỞNG CỦA DỊCH CHIẾT RONG Ulva reticulata
LÊN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA RAU MUỐNG (Ipomoea aquatic)
Văn Hồng Cầm1, Khúc Thị An1, Nguyễn Thảo Hiền2, Trần Thị Phương Anh3
1Viện Công nghệ sinh học và môi trường, Trường Đại học Nha Trang
2Sinh viên K56 – Công nghệ sinh học, Trường Đại học Nha Trang
3Khoa Công nghệ thực phẩm, Trường Đại học Nha Trang
Tác giả liên hệ: Văn Hồng Cầm (Email: camvh@ntu.edu.vn)
Ngày nhận bài: 23/12/2019; Ngày phản biện thông qua: 06/11/2020; Ngày duyệt đăng: 24/12/2020
TÓM TẮT
Rong biển đã và đang được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó ngành nông nghiệp có thể
sử dụng rong biển như một loại phân bón hữu cơ. Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích khảo sát điều
kiện thích hợp để thu dịch chiết rong Ulva reticulata, và khảo sát ảnh hưởng dịch chiết rong lên tỷ lệ nảy mầm,
năng suất, chiều dài thân, chiều dài rễ của rau muống (Ipomoea aquatica).
Kết quả khảo sát điều kiện pH và nhiệt độ thích hợp để thu dịch chiết rong biển U. reticulata cho
thấy: dịch chiết thu được tốt nhất là ở điều kiện nhiệt độ 120ºC/1atm (20 phút), pH = 3 hoặc 11. Không có
sự khác biệt giữa các nghiệm thức có bổ sung rong biển và nghiệm thức đối chứng trong ảnh hưởng của
dịch chiết U. reticulata lên tỉ lệ nảy mầm và phát triển rễ ở rau muống. Dịch rong chiết ở pH11 với nồng
độ 0,5 % cho chiều dài thân tốt nhất (34,80 ± 4,69 cm) và có khác biệt với nghiệm thức đối chứng nước
máy (22,00 ± 2,34 cm). Năng suất rau cao nhất thu được ở các chậu rau được bón lá bằng dịch rong chiết
trong môi trường pH7 và pH11 (115,33 ± 21,94 – 137,67 ± 25,42 g/chậu), khác biệt rõ rệt so với đối chứng
nước máy (52,33 ± 30,27 g/chậu) và 2 sản phẩm phân bón rong biển thương mại được thử nghiệm song
song (65,7±9,7 g/chậu).
Từ khóa: Ulva reticulata, phân bón dạng lỏng, phân bón rong biển
ABSTRACT
Seaweeds have been used in many applications including organic fertilizers. The aim of our research
was to evaluate the method to extract Ulva reticulata and the effect of those extracts on the growth
(germination rate, shoot length, root length) and productivity of water spinach (Ipomoea aquatica). The
results showed that the optimal conditions to get extracts were 121ºC/1atm for 20 minutes at pH3 and pH11.
There was no difference between seaweed-extract-added treatments and tap-water control in germination
rate and root length. On the other hand, the shoot length was highest when the plants were sprayed with
0.5 % of pH11-extracted liquid (34.80 ± 4.69 cm) that was signifi cantly different from other treatments. The
highest productivity was achieved in seaweed solutions extracted in pH7 and pH11 (average over 100 g/pot),
which were much higher than other controls including tap water (52.3 ± 30.2 g/pot) and commercial liquid
seaweed fertilizer controls (65.7 ± 9.7 g/pot).
Key words: Ulva reticulata, liquid fertilizer, seaweed fertilizer
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Rong lục võng hay còn được gọi là rong
giấy hoặc rong xanh nhớt Ulva reticulata,
thuộc chi rong xà lách Ulva, thường phát triển
bám trên các bãi đá trong vùng bãi triều. Khi
hàm lượng dinh dưỡng trong nước cao, các
loài thuộc chi Ulva sẽ phát triển mạnh mẽ,
còn được gọi là “thủy triều xanh” – “green
tides” [6]. Hiện tượng thủy triều xanh đã
được ghi nhận và mô tả ở nhiều nơi khác nhau
trên thế giới. Vào đầu những năm 2000, các
bờ biển trong các khu resort ở đảo Boracay
(trung tâm Philippines) đã xuất hiện ồ ạt Ulva
reticulata – nguyên nhân do việc xử lý nước
thải không triệt để [8]. Đảo Mactan (Cebu,
Philippines), cũng đã chi trả một khoảng tiền
lớn cho việc dọn dẹp Ulva reticulata và Ulva
lactuca trong các đợt thủy triều xanh vào năm
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 4/2020
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 11
2003-2004 [8]. Vào thế vận hội Olympics
lần thứ 29 diễn ra tại Qingdao (Thanh Đảo),
Trung Quốc, thủy triều xanh đã gây nhiều
rắc rối cho môn thể thao thuyền buồm. Hơn
10.000 người và 1.400 thuyền được điều
động để dọn dẹp Ulva reticulata chỉ trong
thời gian ngắn trước khi thế vận hội bắt đầu
[9]. Tháng 8 năm 2011, Viscusi cũng đã công
bố trên website Bloomberg.com về việc thủy
triều xanh đã làm khách du lịch rời khỏi vùng
biển Brittany, Pháp [16].
Ulva reticulata phân bố chủ yếu ở miền
Trung và Nam Trung bộ Việt Nam [1]. Trước
đây, U. reticulata xuất hiện tại khu vực bờ
biển Hòn Chồng-Nha Trang với mật độ thấp,
sự có mặt của chúng không đáng kể và vai
trò của chúng cũng không được nhắc đến. Tuy
nhiên trong khoảng thời gian trở lại đây, sau
khi đường Phạm Văn Đồng được xây dựng, số
hộ dân trong khu vực tăng lên, các hoạt động
du lịch tăng mạnh, nguồn nước thải ra biển
xử lý không đầy đủ dẫn đến sự bùng phát của
thủy triều xanh Ulva reticulata (Hình 1). Sự
xuất hiện của U. reticulata trong thời gian qua
đã gây “phiền hà” đến người dân sống trong
khu vực cũng như ảnh hưởng đến hoạt động
du lịch địa phương. Khi rong phân hủy, sẽ gây
mùi khó chịu.
Trước tình hình “thủy triều xanh” xuất
hiện, nhiều nhà khoa học đã bắt đầu các
nghiên cứu hướng đến việc sử dụng U.
reticulata. Selvam và Sivakumar (2013) đã
thử nghiệm dịch chiết Ulva reticulata lên sự
phát triển của đậu mười Vigna mungo. Kết
quả cho thấy, với nồng độ thấp dịch chiết
rong biển U. reticulata có khả năng thúc đẩy
nhanh sự nẩy mầm, sự phát triển, cho năng
suất cũng như chất lượng hạt đậu cao [14].
Magnusson (2016) đã đề xuất mô hình gồm
nhiều cách thức sử dụng khác nhau trong việc
xử lý chi tảo Ulva nở hoa (Hình 2) [10].
Nhóm nghiên cứu của Selvam đã sử dụng
dịch chiết từ rong U. reticulata tác động lên
sự nảy mầm, tăng trưởng của hạt đậu đen
đã cho kết quả tốt, hạt được ngâm với nồng
độ dịch chiết thấp cho tỷ lệ nảy mầm cao
hơn bình thường, lần lượt là 100% (nồng độ
2,5%), 95% ± 2,1 (nồng độ 1%) [13], [14].
Một nghiên cứu khác thuộc nhóm nghiên
cứu Muthezhilan về việc phát triển phân
bón dạng lỏng từ 3 loại rong biển khác nhau
bao gồm Ulva fasciata, Sargassum wightii
và Padina boergesenii nhằm nâng cao năng
suất các loài thực vật bao gồm đậu xanh
(Vigna radiate), đậu mười (Vigna mungo),
cải bẹ xanh (Brassica juncea) và lúa (Oryza
sativa). Kết quả của nghiên cứu này đã
chứng minh rõ ràng công dụng thúc đẩy tăng
trưởng của các nhóm thực vật thử nghiệm,
nhóm nghiên cứu cũng đã đề xuất việc sử
dụng hỗn hợp dịch chiết rong biển (chiết
bằng nước) trong nông nghiệp nhằm nâng
cao mùa vụ sản xuất theo phương thức thân
thiện với môi trường [11].
Hình 1: Rong Ulva spp. dạt lên b ờ biển Phạm Văn Đồng, Nha Trang
12 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 4/2020
Hình 2: Mô hình được đề xuất trong việc xử lý tảo chi Ulva nở hoa [10]
(1) chi Ulva thu hoạch từ tảo nở hoa do phú dưỡng hóa
(2) tảo nuôi trồng.
(3) rửa sinh khối trong nước ngọt,
(4) bốc hơi nước rửa trong các ao bằng năng lượng mặt trời
(5) muối rong biển với tỷ lệ Na: K thấp và hàm lượng Ca và Mg cao và một loạt các nguyên tố vi lượng, và các chất có hoạt tính sinh
học từ các chất xơ hòa tan (ulvan), có thể được kết hợp vào các sản phẩm thực phẩm chế biến.
(6) phân bón hữu cơ, (7) thức ăn gia súc (8) và nhiên liệu sinh học.
Năm 2014, John và Mahadevi đã tiến hành
thí nghiệm nghiên cứu tác động của phân bón
lỏng chiết từ rong Caulerpa peltata lên hạt
đậu xanh, kết quả cho thấy dịch chiết rong
Caulerpa peltata ảnh hưởng tích cực đến sự
nảy chồi và chiều dài rễ của hạt đậu xanh, các
chất sinh hóa (diệp lục, carotenoid,) tăng
lên và hàm lượng sắc tố tối đa ở mức 10%
SLF, nghiên cứu đưa ra kết luận dịch chiết
rong Caulerpa peltata có thể được sử dụng
như phân bón sinh học cho sự phát triển của
hạt đậu xanh Vigna radiata [12].
Việc sử dụng các chất chiết xuất thu được từ
rong biển nhằm thúc đẩy tăng trưởng ở thực vật
đã được nghiên cứu rộng rãi kể từ lần đầu tiên
sản phẩm được tung ra thị trường vào những
năm 1940 [5]. Những sản phẩm này giúp tăng
cường sự tăng trưởng và năng suất của nhiều
cây trồng thông qua việc cải thiện sự phát triển
của rễ, tăng hàm lượng chất diệp lục và diện
tích lá [2], [4], [5], [7], [15].
Nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào thử
nghiệm dịch chiết rong U. reticulata trên đối
tượng rau muống (Ipomoea aquatica) - một
loại rau có trong bữa ăn hàng ngày của các gia
đình Việt Nam- nhằm đánh giá tính khả thi của
việc xử lý rong Ulva trong các đợt “thủy triều
xanh” trở thành dịch phân bón cho rau xanh.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thu mẫu và xử lý mẫu:
Rong lục võng (còn gọi là rong giấy, rong
xanh nhớt) Ulva reticulata được thu từ vùng
nước cạn khu vực bãi đá Hòn Chồng, phía
Bắc Thành phố Nha Trang vào mùa rong phát
triển ồ ạt. Mẫu rong thu vào tháng 5-7/2016
tháng 5-7/2018 (mùa khô), tháng 10-11/2016
và tháng 10-11/2017 (mùa mưa). Mẫu rong thu
về được rửa sạch để loại bỏ muối, cát và các tạp
chất khác. Mẫu rong được định danh khoa học
dựa theo tài liệu của Phạm Hoàng Hộ (1969) và
cơ sở dữ liệu online Algaebase (https://www.
algaebase.org/search/species/detail/?species_
id=3671). Mẫu rong sau khi thu được rửa sạch
nhiều lần bằng nước ngọt, các mẫu rong, sau đó
được phơi khô dưới mái che trong 1 – 2 ngày).
Sau khi sấy, mẫu rong đuợc xay nhỏ 2mm, giữ
trong các túi PET và hút chân không. Mẫu đuợc
bảo quản ở nhiệt độ phòng, trong điều kiện tối.
Một phần được sử dụng trong nghiên cứu thủy
phân rong bằng để thu dịch rong biển và thử
nghiệm trên cây trồng.
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 4/2020
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 13
2.2 Ảnh hưởng của pH và nhiệt độ đến sự
phân cắt Ulva reticulata
Dịch chiết rong đuợc chuẩn bị theo phương
pháp của Briceño-Domínguez [3], có cải tiến,
cách thực hiện như sau: mẫu rong xay nhỏ
đuợc trộn với nuớc theo tỉ lệ 1:20 (rong:nuớc
cất), sử dụng H
3
PO4, KOH để điều chỉnh đến
các giá trị pH = 3, 5, 7, 9, 11, 13. Tiến hành
thủy phân các mẫu rong ở các nhiệt độ khác
nhau bao gồm: nhiệt độ phòng (đối chứng),
60ºC, 80ºC, 121ºC (20 phút, 1atm). Tất cả các
phản ứng được thực hiện trong bình kín. Sau
đó, mẫu đuợc đánh giá cảm quan về màu, mùi,
độ nát của rong. Khi pH tự về lại trung tính
(hoặc điều chỉnh về trung tính bằng acid HCl
hoặc NaOH) mẫu được ly tâm 1000rpm trong
5 phút và thu dịch nổi. Dịch ly tâm được sử
dụng để đo hàm lượng các chất hòa tan ∆Brix
(Atago, Nhật) nhằm đánh giá lượng đường hòa
tan được tạo ra. Mỗi nghiệm thức được lặp lại
3 lần.
(∆Brix = Ðộ hòa tan sau khi gia nhiệt (Bt) –
Ðộ hòa tan ban dầu (Bi)).
Ngoài ra, các đánh giá về mặt cảm quan bao
gồm màu sắc rong, mùi của dịch chiết và độ nát
của bã rong sau khi chiết đều được ghi nhận.
2.3. Khảo sát ảnh hưởng của dịch chiế t rong
lên sự sinh trưởng của Ipomoea aquatica
2.3.1 Ảnh hưởng của dịch chiết rong đến sự
nảy mầm của hạt Ipomoea aquatica
Hạt giống rau muống (Ipomoea aquatica)
do công ty TNHH Hạt giống Thuận Điền sản
xuất được sử dụng để đánh giá dịch chiết rong
biển U. reticulata. Cách trồng và thu hoạch dựa
vào thông tin được in trên bao bì.
Thí nghiệm khảo sát tỷ lệ nảy mầm của hạt
giống được thực hiện như sau: chuẩn bị dịch
chiết rong được chiết bằng: nước cất, KOH
(pH =11), H
3
PO4 (pH = 3) với các nồng độ
0,5% và 1%,; hạt giống mỗi loại được gieo
trên hộp nhựa thực phẩm có lót giấy lọc thấm
sẵn dịch chiết rong đã chuẩn bị (20ml/đĩa),
lựa chọn hạt giống có kích thước, màu sắc
và trọng lượng đồng nhất, tiến hành gieo hạt
gieo 50 hạt/đĩa và lặp lại 3 lần, sau đó tính
kết quả trung bình, trong đó, nghiệm thức
đối chứng bao gồm nước máy, hai loại phân
bón từ rong biển thương mại là Phân bón A
có dạng bột được hòa tan (PB_A) và Phân
bón B dạng dịch lỏng (PB_B) theo công thức
của nhà sản xuất. Hạt được đặt trong phòng
ở nhiệt độ 25ºC ± 2ºC, Sau 4 ngày, tiến hành
đếm và tính toán tỷ lệ nảy mầm của hạt giống.
Một hạt được xem là nẩy mầm khi rễ mầm
xuất hiện
Tỉ lệ nảy mầm (%) (Germination rate –
GR): được xác định bằng công thức:
GR = (n/N)*100 (%)
Trong đó: n là số hạt nảy mầm; N là tổng
số hạt gieo
2.3.2 Ảnh hưởng của dịch chiết rong đến sự
phát triển của Ipomoea aquatica
Lựa chọn hạt giống có kích thước, màu sắc
và trọng lượng đồng nhất, tiến hành gieo hạt
lên các chậu được chuẩn bị sẵn đất sạch (môi
trường đất có dinh dưỡng của nhà sản xuất
Tribat - Công ty CNSH Sài Gòn Xanh) với
mật độ 32 hạt/chậu. Định kỳ tưới nước 2 lần/
ngày vào buổi sáng và chiều mát. Dịch phân
bón rong biển được pha loãng ở các nồng độ
khác nhau (0,5%, 1%), phun dịch vào các
châu cây các nghiệm thức theo tỷ lệ 20ml/
lần; cách 7 ngày phun 1 lần. Nghiệm thức đối
chứng bao gồm nước máy, phân bón rong biển
thương mại PB_A và PB_B pha theo hướng
dẫn của nhà sản xuất), nghiệm thức kiểm
chứng bao gồm các dịch chiết từ rong biển
Ulva reticulata bằng KOH (pH = 11), H
3
PO
4
(pH = 3), nước cất (pH = 7) ở các nồng độ
khác nhau (0,5%; 1%). Sau 53 ngày sau khi
gieo hạt, tiến hành thu hoạch, nhổ cả gốc. Các
chậu được sử dụng trong thí nghiệm đồng
nhất về kích thước (12x14cm), hình dáng. Thí
nghiệm được lặp lại 3 lần.
Đánh giá sự phát triển của cây theo các chỉ
tiêu: chiều cao thân cây, chiều dài rễ, tỷ lệ sống
của cây và năng suất cây trồng (=khối lượng
cây/chậu).
Số liệu được thu thập và xử lý bằng phần
mềm thống kê Statgraphics centurion XV.I.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Ảnh hưởng của pH và nhiệt độ đến sự
phân cắt Ulva reticulata
Kết quả khảo sát điều kiện pH và nhiệt độ
14 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 4/2020
để thu dịch chiết rong U. reticulata cho thấy:
nhiệt độ và pH có ảnh hưởng đến khả năng
phân cắt của rong. ΔBrix tuy phân bố rời rạc
nhưng ở 121ºC/1atm và pH13 hoặc pH3 đem
lại kết quả khác biệt so với các nghiệm thức
khác (Hình 3).
Về mặt cảm quan, mức pH11 và pH13,
dịch rong có màu xanh lục thẫm, khả năng
phân cắt rong nhanh hơn so với nhóm pH
thấp, tuy nhiên, khi xử lý ở pH13, sản phẩm
chiết có mùi sộc (mùi của KOH nồng độ cao),
gây độc hại. Khi chiết bằng pH = 9 ta nhận
thấy được khả năng phân cắt rong chậm (rong
nát ít), dịch rong có màu xanh lục đậm và vẫn
giữ được mùi tanh của rong biển. Đối với pH
= 3, 5, dịch rong ngả màu vàng xanh, ngoài
mùi tanh của rong còn nhận thấy mùi chua của
acid (Bảng 3.1).
Với các kết quả như trên, chúng tôi sử
dụng pH = 3, pH = 11 và pH = 7 (đối chứng)
trong điều kiện nhiệt độ hấp 121ºC/1atm, thời
gian hấp 20 phút để chiết lấy dịch rong, tiến
hành thực hiện các thí nghiệm thử nghiệm
trên thực vật.
Hình 3: Ảnh hưởng của pH và nhiệt độ đến sự phân cắt U. reticulata
Giá trị P_value < 0.001
Bảng 3.1: Đánh giá cảm quan dịch rong chiết trong các điều kiện pH khác nhau.
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 4/2020
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 15
3.2 Ảnh hưởng của dịch chiết rong biển lên
sự phát triển của Ipomoea aquatica
3.2.1 Tỷ lệ nảy mầm của Ipomoea aquatica
Kết quả khảo sát dịch chiết rong U. reticulata
đối với tỷ lệ nảy mầm giữa hạt rau muống sau
4 ngày tính từ ngày ủ với dịch rong cho thấy:
tỷ lệ nảy mầm giữa các nghiệm thức dịch chiết
rong U. reticulata và nhóm đối chứng phân bón
rong thương mại (PB_A và PB_B) không thể
hiện sự khác biệt so với mẫu đối chứng nước
máy. Trong các nghiệm thức, tỷ lệ nảy mầm
của hạt rau muống đạt tỷ lệ trung bình từ 40-
66% với độ lệch chuẩn khá lớn 3-11%. Dịch
rong chiết ở pH11, nồng độ dịch 0,5% cho tỷ lệ
nảy mầm ổn định hơn so với các nghiệm thức
khác (độ lệch 3%), và dịch chiết rong ở pH3,
nồng độ dịch chiết 1% cho độ lệch lớn nhất
(11%) (Hình 4).
Hình 4: Ảnh hưởng của các dịch chiết rong U. reticulata lên sự nảy mầm của hạt Ipomoea aquatica
a,b,c: là giá trị phân hạng biểu diễn sự khác biệt của mẫu (với P<0,05)
3.2.2 Ảnh hưởng của dịch chiết rong lên các
chỉ số phát triển khác của Ipomoea aquatica
Đối với sự phát triển chiều dài rễ và kéo
dài thân rau muống, các kết quả ghi nhận rằng
không có sự khác biệt về chiều dài rễ nhưng
có sự khác biệt về sự phát triển chiều dài thân.
Nghiệm thức đối chứng nước máy có độ biến
động thấp hơn so với các nghiệm thức bón dịch
rong biển. Ngoài ra, dịch rong Ulva reticulata
chiết trong môi trường pH11 với nồng độ dịch
rong 0,5% cho kết quả khác biệt về chiều dài
thân (34,8 ± 4,69cm) so với mẫu đối chứng
nước máy (22,00 ± 2,34 cm). Tuy vậy, tất cả
các nghiệm thức đều không khác biệt với 2
mẫu phân bón rong thương mại mua trên thị
trường được dùng làm đối chứng (Hình 5).
Hình 5: Ảnh hưởng của các dịch chiết rong U. reticulata lên sự phát triển thân và rễ Ipomoea aquatica
a,b,c: là giá trị phân hạng biểu diễn sự khác biệt của mẫu (với P<0,05)
16 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 4/2020
Các số liệu ở cuối đợt thu hoạch cho thấy
năng suất rau và tỷ lệ sống tỷ lệ thuận với
nhau. Dịch chiết rong Ulva reticulata trong
điều kiện pH3, nồng độ dịch 1% cho tỷ lệ rau
sống (31,25±3,13%) và năng suất thấp nhất
(43,67±26,40%) so với các nghiệm thức rong
U. reticulata còn lại. Về mặt năng suất rau,
dịch rong thu nhận ở điều kiện chiết kiềm
(pH11) và chiết nước (pH7) cho kết quả tốt
nhất (100g/chậu) so với tất cả các nghiệm thức
còn lại, và khác biệt rõ rệt so với đối chứng
(52,33±30,27%) (Hình 6).
Hình 6: Ảnh hưởng của các dịch chiết rong U. reticulata lên tỷ lệ sống và năng suất Ipomoea aquatica
a - f: là giá trị phân hạng biểu diễn sự khác biệt của mẫu (với P<0,05)
Như vậy có thể thấy, sự phát triển chiều dài
rễ không có sự khác biệt. Tuy vậy, tỷ lệ sống
và năng suất rau thu được (gấp đôi so với đối
chứng rau chỉ được tưới bằng nước máy) thể
hiện các dịch chiết rong ở pH kiềm hoặc pH
trung tính có thể sử dụng như một phân bón
cho rau xanh. Ngoài ra, 2 loại phân bón rong
biển thương mại được sử dụng làm đối chứng
có năng suất không vượt trội so với nhóm
nghiệm thức pH7 và pH11.
Nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với
các nghiên cứu về sử dụng dịch rong biển
trong kích thích phát triển và năng suất cây
trồng. Kết quả của chúng tôi, so với nghiên
cứu của Selvam và Sivakumar, (2013);
Selvam và Balamurugan (2013) có khác biệt
lớn về tỷ lệ nảy mầm của hạt: trong đó nhóm
tác giả này đã công bố dịch U. reticulata cho
tỷ lệ nảy mầm đậu mười đạt 100% (nồng độ
2,5%), 95% ± 2,1 (nồng độ 1%). Điều này có
thể do bản chất sinh học của các loại hạt giống
khác nhau và nồng độ và cách thức chiết rong
khác nhau. Ngoài ra, nồng độ dịch chiết rong
thấp (0.5%) so với nồng độ dịch chiết cao
(1%) cho kết quả thử nghiệm tốt hơn trên thực
vật là một thông tin tương đồng với các kết
quả khảo sát của các nhóm nghiên cứu khác
[7], [11] [13], [14].
4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Dựa trên các kết quả khảo sát, chúng tôi đề
xuất có thể sử dụng phương pháp chiết rong
bằng pH11 (năng suất vượt trội và chiều dài
thân rau tốt hơn so với đối chứng) với nồng
độ dịch rong 0,5% như một dịch bổ sung trong
trồng rau xanh. Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện
quy trình chiết dịch rong, và cần có những
nghiên cứu phối trộn sản phẩm dịch rong với
các chất dinh dưỡng khác, nghiên cứu phương
pháp bảo quản dịch rong để có thể tiến đến
thương mại hóa và sản xuất đối phó với hiện
tượng thủy triều xanh trên bờ biển thành phố
Nha Trang.
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 4/2020
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 17
Hình 7: Thử nghiệm dịch rong biển lên sự phát triển và năng suất Ipomoea aquatic
Từ trái sang phải: Đối chứng nước máy, Đối chứng PB_A và PB_B, pH7 1,0%, pH11 1,0%, pH3 0,5%, pH11 0,5%
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Tiếng Việt:
1. Phạm Hoàng Hộ, 1969. Rong biển Việt Nam. Trung tâm học liệu Sài gòn..
Tiếng Anh:
2. Blunden G., Jenkins T. and Liu, Y.W. (1996), "Enhanced leaf chlorophyll levels in plants treated with
seaweed extract", Journal of Applied Phycology, 8, pp. 535–543. doi: 10.1007/BF02186333.
3. Briceño-Domínguez D., Hernández-Carmona G., Moyo M., Stirk W., Staden J. (2014), "Plant growth
promoting activity of seaweed liquid extracts produced from Macrocystis pyrifera under different pH and
temperature conditions". J Appl Phycol, 26, pp. 2203–2210. https://doi.org/10.1007/s10811-014-0237-2
4. Craigie J.S., Norrie J., Prithiviraj B. (2009), ‘Seaweed Extracts as Biostimulants of Plant Growth and
Development’, Journal of Plant Growth Regulation, 28, pp. 386–399. doi: 10.1007/s00344-009-9103-x.
5. Craigie, J.S. (2011), "Seaweed extract stimuli in plant science and agriculture", Journal of Applied Phycology,
23, pp. 371–393. doi: 10.1007/s10811-010-9560-4.
6. Fort A., Mannion C., Fariñas-Franco J.M., & Sulpice, R. (2019), "Green tides select for fast expanding Ulva
strains". The Science of the total environment, 698, 134337 .
7. Khan W., Rayirath U.P, Subramanian U., Jithesh M.N, Rayorath P., Hodges D.M., Critchley A.T,
8. Largo D.B., Sembrano J., Hiraoka M., Ohno M. (2004), "Taxonomic and ecological profi le of `green tide'
18 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản Số 4/2020
species of Ulva (Ulvales, Chlorophyta) in central Philippines". Hydrobiologia 512, 247–253 (2004).
9. Leliaert F., Zhang X., Ye N., Malta E., Engelen A.H, Mineur F., Verbruggen H., Clerck O.D. (2009)
‘Research note: Identity of the Qingdao algal bloom’, Phycological Research, 57, pp. 147–151. doi: 10.1111/
j.1440-1835.2009.00532.
10. Magnusson M., Carl C., Mata L., De-Nys R., Paul N.A. (2016), "Seaweed salt from Ulva: A novel fi rst step in a
cascading biorefi nery model", Algal Research. Elsevier, 16, pp. 308–316. doi: 10.1016/J.ALGAL.2016.03.018.
11. Muthezhilan R., Ravikumar V., Karthik R., Hussain A. J. (2014), "Development of Seaweed Liquid
Fertilizer (SLF) Consortium for the Enhancement of Agriculturally Important Crop Plants", Biosciences
Biotechnology Research Asia, 11, pp. 253–261. doi: 10.13005/bbra/1418.
12. Paul J. P. and Mahadevi B. (2014), "Effects of Seaweed liquid fertilizer of Caulerpa peltata Lamour (green
seaweed) on Vigna radiata (L.) R. Wilczek., In Idinthakarai, Tamil Nadu, India ", World Journal of Pharmacy
and Pharmaceutical Sciences, 3(2), pp. 422–438.
13. Selvam, G. and Balamurugan, M. (2013), "Developmental Changes in the Germination, Growth and
Chlorophyllase Activity of Vigna Mungo L. Using Seaweed Extract of Ulva reticulata Forsskal", International
Research Journal of Pharmacy, 4(1), pp. 252–254.
14. Selvam, G. and Sivakumar, K. (2013), "Effect of foliar spray from seaweed liquid fertilizer of Ulva reticulata
(Forsk.) on Vigna mungo L. and their elemental composition using SEM - energy dispersive spectroscopic
analysis", Asian Pacifi c Journal of Reproduction. 2(2), pp. 119–125. doi: 10.1016/S2305-0500(13)60131-1.
15. Turan, M. and Köse, C. (2004), "Seaweed extracts improve copper uptake of grapevine", Acta
Agriculturae Scandinavica, Section B — Soil & Plant Science. Taylor & Francis, 54(4), pp. 213–220. doi:
10.1080/09064710410030311.
16. Viscusi G, (2011), "Green Tides drive away Brittany tourists., USA: Bloomberg".
com/news/2011-08-03/brittany-green-tides-drive-away-tourists-from-french-beaches.html
Các file đính kèm theo tài liệu này:
anh_huong_cua_dich_chiet_rong_ulva_reticulata_len_su_phat_tr.pdf