KẾT LUẬN
Hàm lượng alkaloid trong lá non,
cành và thân cây Vọng Cách cao trên
nhóm đất phèn, kế đến là nhóm đất phù
sa xa sông và thấp nhất trên nhóm đất
giồng cát.
Hàm lượng alkaloid trong cây Vọng
Cách ở lá non cao hơn cành và thân ở tất
cả các nhóm đất. Với hàm lượng
alkaloid trong cây Vọng Cách có thể
dùng làm dược liệu chữa được chứng
mất ngủ, gan nhiễm mỡ, men gan cao,
vàng da, kém ăn, đầy bụng, điều hòa
kinh nguyệt, an thần, chữa khỏi bệnh
bướu giáp ác tính Basedo, thanh nhiệt,
tiêu độc.
Có Mối tương quan rất chặt với hàm
lượng dinh dưỡng trong đất như kali,
đạm, chất hữu cơ, CEC và pH đất với
hàm lượng alkaloid trong lá non và thân
cây Vọng Cách. Sự tương quan giữa
hàm lượng alkaloid trong cành với dinh
dưỡng trong đất thấp. Không tìm thấy
mối tương quan giữa hàm lượng lân
trong đất và hàm lượng alkaloid trong lá
non, cành và thân cây Vọng Cách trên
các nhóm đất.
12 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 19 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của dinh dưỡng trong đất đến hàm lượng alkaloid trong cây vọng cách (premma integrifolia L), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 07 - 2019
157
ẢNH HƯỞNG CỦA DINH DƯỠNG TRONG ĐẤT ĐẾN HÀM LƯỢNG
ALKALOID TRONG CÂY VỌNG CÁCH (Premma integrifolia (L.)
Võ Văn Bình, Mai Linh Cảnh và Nguyễn Văn Bá*
Khoa Sinh học ứng dụng, Trường Đại học Tây Đô
(Email: vvbinh@tdu.edu.vn)
Ngày nhận: 03/9/2019
Ngày phản biện: 18/9/2019
Ngày duyệt đăng: 26/9/2019
TÓM TẮT
Cây Vọng Cách có tên khoa học là Premma integrifolia (L.) mọc hoang khắp ở Việt Nam,
Lào, Campuchia. Hoạt chất alkaloid trong cây Vọng Cách có thể chữa trị được môt số
bệnh. Ở Việt Nam, Vọng cách được dùng chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian và sử dụng
như một loại rau. Mục tiêu của đề tài nhằm xác định hàm lượng dược tính alkaloid trong
cây Vọng Cách qua ảnh hưởng của hàm lượng dinh dưỡng trong đất. Kết quả nghiên cứu
cho thấy nhóm đất bị nhiễm phèn có pH thấp nhưng hàm lượng chất hữu cơ, N, P, K, CEC
cao hơn nhóm đất phù sa xa sông và nhóm đất giồng cát khác biệt ý nghĩa thống kê (p <
0.05). Hàm lượng Alkaloid trong lá cây Vọng Cách ở nhóm đất nhiễm phèn cao hơn nhóm
đất phù sa xa sông và nhóm đất giồng cát (p < 0.05). Hàm lượng Alkaloid trong lá non và
trong thân có tương quan với hàm lượng dinh dưỡng trong đất như kali, đạm, chất hữu cơ,
CEC và pH đất. Không có mối tương quan giữa hàm lượng lân trong đất và hàm lượng
alkaloid trong lá nonvà thân cây Vọng Cách.
Từ khoá: Alkaloid, cây Vọng Cách, nhóm đất, dinh dưỡng trong đất
Trích dẫn: Võ Văn Bình, Mai Linh Cảnh và Nguyễn Văn Bá, 2019. Ảnh hưởng của dinh
dưỡng trong đất đến hàm lượng alkaloid trong cây vọng cách (Premma
integrifolia (L.). Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại
học Tây Đô. 07: 157-168.
*PGS.TS. Nguyễn Văn Bá – Trưởng Khoa Sinh học ứng dụng, Trường Đại học Tây Đô
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 07 - 2019
158
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thực vật là nguồn gốc cơ bản của các
loại thuốc trong điều trị bệnh (Laloo et
al., 2012). Một số lượng đáng kể các
loại dược phẩm hiện đại được dựa trên
hoặc bắt nguồn từ thảo mộc. Chiết xuất
từ rễ của Vọng Cách là một thành phần
hoạt chất để điều chế dược phẩm
(George et al., 2008). Rễ của Cây Vọng
cách có vị đắng, hăng, chữa được các
bệnh như: nhuận tràng, đầy hơi, thiếu
máu, sốt, kháng viêm, tiêu hóa, dạ dày,
đau thần kinh, ho, hen suyễn, viêm phế
quản, phong, rối loạn da, khó tiêu, đầy
hơi, táo bón, tiểu đường, biếng ăn, rối
loạn chức năng gan, suy nhược chung và
bệnh thần kinh. Rễ của cây là thành
phần quan trọng của mười loại thảo mộc,
được sử dụng rộng rãi trong điều trị các
bệnh khác nhau trong hệ thống y học Ấn
Độ (Aparna et al., 2012; George et al.,
2010; Gokani et al., 2008). Lá được sử
dụng trong điều trị bệnh cảm lạnh, nóng
sốt (Nadkarni et al., 2005).
Theo Đỗ Tất Lợi, (2004) cây Vọng
Cách có tên khoa học là: Premma
integrifolia (L.) mọc hoang khắp ở Việt
Nam, Lào, Campuchia và ở Ấn Độ,
Indonesia, Philipines, Úc. Thành phần
hóa học ở vỏ thân có hai ankaloid là
premnin và ganiarin; có tác dụng tăng
cường thần kinh giao cảm, tăng huyết
áp, tăng tiết nước bọt, nở đồng tử, tăng
nhu động ruột, nở khí quản, ứng dụng
lâm sàng của vị thuốc lá cách chữa kiết
lỵ, chữa Gan nhiễm mỡ, da vàng, kém
ăn, đầy bụng, điều hòa kinh nguyệt, an
thần. Theo Dược điển Việt Nam V tập 2,
(2017), cây Vọng Cách trị đau dạ dày,
tiêu hóa kém, tiểu tiện khó, it sữa. Ngoài
ra còn dùng chữa được bệnh viêm gan
và vàng da sau khi sinh. Theo Đái Thị
Xuân Trang và ctv. (2018) cho thấy, cây
Vọng Cách là một dược liệu tiềm năng,
chứa nhiều các hợp chất kháng oxi hóa
và kháng khuẩn tự nhiên, Cao chiết lá
Vọng Cách có hiệu quả kháng khuẩn cao
với 6 chủng vi khuẩn: Escherichia coli,
Samonella typhimurium, Listeria
innocua, Staphylococcus aureus,
Pseudomonas aeruginosa và Vibrio
parahaemolyticus. Ngoài ra, cao chiết
methanol lá Vọng Cách cũng thể hiện
hoạt tính kháng viêm in vitro cao với giá
trị IC50 = 4,33±0,52 µg/mL. Hàm lượng
polyphenol và flavonoid được xác định
là 59,55±0,22 mg GAE/g cao chiết và
609,62±15,21 mg QE/g cao chiết.
Theo Mali (2015), cây Vọng Cách có
chứa p-methoxy cinnamic acid, linalool,
acid linoleic, β-sitosterol và flavone
luteolin, iridoid glycoside, premnine,
ganiarine và ganikarine, premnazole,
aphelandrine, pentacyclic terpenebetulin,
caryophellen, premnenol, premna-
spirodiene, clerodendrin-A là loại thảo
mộc rất quan trọng cho nghiên cứu dược
lý và phát triển thuốc, không chỉ khi các
thành phần thực vật được sử dụng trực
tiếp như các tác nhân điều trị, mà còn là
nguyên liệu bắt đầu cho tổng hợp dược
lý. Chiết xuất được sản xuất 52,17% axit
axetic gây ức chế giảm đau ở chuột với
liều 500 mg/kg thể trọng, tương đương
với diclofenac natri 65,21% ở liều 25
mg/kg thể trọng (Mali, 2015). Theo
Kumar et al., (2011) hoạt động giảm đau
cũng được đánh giá bằng cách sử dụng
chiết xuất methanolic của vỏ cây Vọng
Cách bằng cách thử nghiệm ở chuột với
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 07 - 2019
159
liều 100 và 200 mg/kg trọng lượng cơ
thể. Theo Caldecott et al. (2006), chiết
xuất vỏ rễ của cây Vọng Cách có hoạt
tính kháng khuẩn đối với cả vi khuẩn
gram dương và gram âm. Tuy nhiên,
việc sử dụng cây Vọng Cách ở Việt Nam
còn hạn chế. Chưa có kết quả nào nghiên
cứu về đặc tính hoá học đất liên quan
đến hàm lượng dược tính alkaloid trong
cây Vọng Cách. Do đó, đề tài nghiên
cứu với mục tiêu xác định hàm lượng
dinh dưỡng trong đất liên quan đến hàm
lượng Alkaloid trong cây Vọng Cách là
rất cần thiết.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đặc tính đất ảnh hưởng
đến hàm lượng dược tính trong cây
Vọng Cách được thực hiện ở nhóm đất
phù sa xa sông, nhóm đất giồng cát và
nhóm đất bị nhiễm phèn.
Xác định hàm lượng dược tính
alkaloid trong cây Vọng Cách ở nhóm
đất phù sa xa sông, nhóm đất giồng cát
và nhóm đất bị nhiễm phèn tại xã Phú
Phụng, xã Sơn Định, huyện Chợ Lách,
tỉnh Bến Tre và ấp Vĩnh Trinh, ấp Vĩnh
Thành, xã Vĩnh Xuân, huyện Trà Ôn,
tỉnh Vĩnh Long. Đất được xác định theo
hệ thống phân loại WRB (Võ Quang
Minh, 2006), đất phù sa xa sông thuộc
biểu loại Eutri-plinthic-Gleysols; nhóm
đất giồng cát thuộc biểu loại Haplic-
Arenosols; nhóm đất nhiễm phèn thuộc
biểu loại Endo-Protho-thionic-Gleysol.
Phân tích hàm lượng dinh dưỡng của
những nhóm đất phù sa xa sông, nhóm
đất giồng cát và nhóm đất bị nhiễm
phèn. Phân tích hàm lượng Alkaloid
trong cây Vọng Cách trồng trên đất phù
sa xa sông, đất giồng cát và nhóm đất bị
nhiễm phèn. Thu mẫu đất mặt 0 – 30 cm
xung quanh cây vọng cách đang phát
triển để phân tích các chỉ tiêu: pH, Chất
hữu cơ, N, P, K, CEC.
Thu mẫu thân, lá non và mẫu đất nơi
cây Vọng Cách sinh trưởng để xác định
hàm lượng dinh dưỡng trong đất và hàm
lượng alkaloid trong cây Vọng Cách. Từ
đó, đánh giá và so sánh hàm lượng dinh
dưỡng của đất tác động đến hàm lượng
alkaloid ở các nhóm đất khác nhau.
- Đánh giá sự tương quan giữa hàm
lượng dinh dưỡng trong đất và hàm
lượng Alkaloid tích lũy trong cây Vọng
Cách.
2.1. Phương pháp phân tích
2.1.1. Phương pháp phân tích các
chỉ tiêu trong đất
PH đất: trích bằng nước cất, tỷ lệ
trích 1 : 2,5 (đất: nước) và được xác định
bằng cách sử dụng điện cực [H+]
(Jackson, 1962; Hach, 1986). Đạm tổng
số trong đất Theo phương pháp Kjeldahl
dựa trên cơ sở vô cơ mẫu với
H2SO4 đậm đặc + hỗn hợp K2SO4 +
CuSO4 + Se. Lân tổng số trong đất: Vô
cơ mẫu với H2SO4 đậm đặc + HClO4, đo
theo phương pháp so màu trên máy
quang phổ. Chất hữu cơ trong đất: Theo
phương pháp (Walkley- Black, 1934).
Kali tổng số trong đất: vô cơ mẫu với
H2SO4 đậm đặc + HClO4, đo trên máy
hấp thu nguyên tử (Atomic Absorption
Spectrophotometer) độ dài sóng 766 nm.
Khả năng hấp phụ cation (CEC) trong
đất: Đo ở dung dịch trích mẫu đất với
BaCl2 0,1 M không đệm, đo trên máy
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 07 - 2019
160
hấp thu nguyên tử; CEC (xác định theo
phương pháp không đệm của Gillman,
1979).
2.1.2. Phương pháp phân tích
Alkaloid trong cây
- Mẫu thân và lá non tươi được
nghiền bằng máy quay sinh tố với nước
cất và được trích với methanol theo tỉ lệ
(1:10). Các mẫu được trích xong đặt trên
máy lắc ngang với tốc độ 120 vòng/phút
trong 24 giờ.
- Nồng độ alkanoid trong mẫu được
xác định bằng phương pháp hiện màu
với dung dịch Bromocresol green đệm
pH 4,7 bằng buffer phosphate.
- Sau đó phức màu được trích với 1,
2, 3 và 4 ml chloroform và đo tại bước
sóng 470nm.
2.1.3. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thí nghiệm thu thập được xử
lý bằng phần mềm Microsoft Excel,
được tính toán giá trị trung bình, độ lệch
chuẩn, phân tích ANOVA và phép thử
LSD (0,05) bằng phần mềm thống kê
SPSS 22 để so sánh sự khác biệt ý nghĩa.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Hàm dinh dưỡng trong đất
trồng cây Vọng Cách
Kết quả trình bày ở Bảng 3.1 cho thấy
pH đất ở các vị trí thu mẫu có khác biệt
ý nghĩa kê (p < 0.05). Các mẫu đất thu ở
nhóm đất giồng cát và nhóm đất phù sa
xa sông đều có giá trị pH lớn hơn 5.
Riêng tại điểm thu mẫu nhóm đất bị
nhiễm phèn có giá trị pH nhỏ hơn 5
nhưng cây Vọng Cách vẫn phát triển
xanh tốt. Kết quả này cho thấy cây vọng
cách có thể sinh trưởng và phát triển
được trên những vùng đất khó khăn, như
đất bị nhiễm phèn. pH của đất được coi
là một biến số chính trong đất vì nó ảnh
hưởng đến nhiều quá trình hóa học. Đặc
biệt ảnh hưởng đến lượng dinh dưỡng
thực vật bằng cách kiểm soát các dạng
hóa học của các chất dinh dưỡng khác
nhau và ảnh hưởng đến các phản ứng
hóa học mà chúng trải qua. Phạm vi pH
tối ưu cho hầu hết các cây trồng là từ 5,5
đến 7,5. tuy nhiên, nhiều loại cây trồng
đã thích nghi để phát triển mạnh ở độ pH
nằm ngoài phạm vi này. Đất có pH dưới
5 gây nhiều bất lợi cho sự sinh trưởng và
phát triển của cây trồng, dưỡng chất kém
hữu dụng, các hoạt động của vi sinh vật
có ích bị giảm.
Hàm lượng chất hữu cơ có trong đất
cao nhất ở nhóm đất bị nhiễm phèn
(6,87% C) và thấp nhất ở nhóm đất
giồng cát (2,23% C) có khác biệt ý nghĩa
thống kê (p < 0,05) được trình bày ở
Bảng 3.1. Chất hữu cơ trong đất được
coi là một tiêu chí để đánh giá độ phì
nhiêu của đất. Độ phì nhiêu trong đất
càng cao thì cây sẽ phát sinh trưởng tốt
hơn nhanh phát triển do hàm lượng chất
hữu cơ có trong đất cao. Chất hữu cơ
giúp duy trì chất lượng đất tốt, giảm ô
nhiễm môi trường và giúp sản xuất nông
nghiệp bền vững (Steven, 2011).
Hàm lượng đạm (N) có trong đất
trồng cây Vọng Cách được trình bày ở
Bảng 3.1 cho thấy ở mức thấp (0,13%
N), do cây Vọng Cách thường tự mọc và
phát triển không được bón phân. Tuy
nhiên, hàm lượng đạm (N) ở vị trí thu
mẫu nhóm đất bị nhiễm phèn 2 ở mức
cao (0,22% N) so với thang đánh giá
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 07 - 2019
161
(Kyuma,1976) có sự khác biệt ý nghĩa
thống kê (p < 0.05) với các vị trí thu
mẫu còn lại.. Ở ĐBSCL đất phèn có hàm
lượng N tổng số cao nhất, thường >
0.20%. Đất phù sa có hàm lượng đạm từ
trung bình đến khá. Đạm là yếu tố giới
hạn sinh khối chủ yếu trên đa số loại đất
và cây trồng ở đồng bằng sông Cửu
long.
Kết quả trình bày ở Bảng 3.1 cho thấy
hàm lượng lân (P) trong đất ở hai nhóm
đất giồng cát (0,11% P) và nhóm đất bị
nhiễm phèn ở mức giàu lân (0,17% P) so
với thang đánh giá hàm lượng phần trăm
lân tổng số trong đất (Lê Văn
Căn,1978). Lân tổng số trong đất phụ
thuộc vào thành phần khoáng của đất.
Đất ĐBSCL được tạo thành từ các
khoáng nghèo lân. Lân là nguyên tố dinh
dưỡng đa lượng đối với cây trồng. Lân
đóng vai trò quan trọng trong quá trình
trao đổi chất, hút chất dinh dưỡng và vận
chuyển các chất trong cây. Lân giữ vai
trò rất quan trọng trong tế bào và là một
phần nồng cốt của chất nucleoproteit và
có sự liên kết chặt chẽ với đạm.
Bảng 3.1. Một số đặc tínhđất trồng cây Vọng Cách
Nhóm đất/chỉ tiêu pH đất (1:2.5)
(%) Chất hữu
cơ
(%) N
tổng số
(%) P
tổng số
(%) K
tổng số
CEC
meq/100g
Đất giồng cát 1 5.12b 2.23c 0.13d 0.18a 0.98e 10.06c
Đất giồng cát 2 5.77a 2.72c 0.13d 0.11c 0.94e 6.84e
Đất phù sa xa sông 1 5.67a 2.25c 0.12d 0.06d 1.56d 9.05d
Đất phù sa xa sông 2 5.21b 3.45b 0.18b 0.06d 1.91c 18.40a
Đất nhiễm phèn 1 4.60c 3.43b 0.15c 0.17b 2.02b 13.41b
Đất nhiễm phèn 2 3.21e 6.87a 0.22a 0.17b 2.04a 13.74b
LSD (0.05) 0.089 0.682 0.011 0.01 0.071 0.682
CV (%) 1.9 8.8 8.3 8.1 5.3 6.6
(Ghi chú: a,b,c,d,e là thể hiện mức độ ý nghĩa thống kê 5%)
Hàm lượng kali trong đất được trình
bày ở Bảng 3.1 cho thấy ở nhóm đất bị
nhiễm phèn được đánh giá ở mức giàu
theo thang đánh giá hàm lượng kali
trong đất của (Kyuma,1976) và cao nhất
(2,04% K) có khác biệt ý nghĩa thống kê
(p < 0.05) so với các nhóm đất còn lại.
Kali có vai trò chủ yếu trong việc
chuyển hoá năng lượng trong quá trình
đồng hoá các chất trong cây. Kali làm
tăng khả năng chống chịu của cây đối
với các tac động không thuận lợi từ bên
ngoài. Kali giúp tăng chất lượng của sản
phẩm, đồng thời cũng là yếu tố giúp tích
lũy hàm lượng alkaloid trong thân lá.
Kali tổng số trong các loại đất ở ĐBSCL
thường cao và quyết định bởi thành phần
khoáng sét. Đa số các loại đất đều có
Kali tổng số >1,5% và được đánh giá là
khá và giàu. Đất cát và đất xám có hàm
lượng kali thấp.
CEC là tổng các cation mà một loại
đất có thể hấp thu và trao đổi với cây
trồng. Đất giàu sét và chất hữu cơ sẽ có
CEC cao, là đất có độ phì tiềm năng cao.
Kết quả trình bày ở Bảng 3.1 cho thấy
hàm lượng CEC trong đất ở nhóm đất
phù sa xa sông 2 (18.4 meq/100g) cao
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 07 - 2019
162
nhất có khác biệt ý nghĩa thống kê (p <
0.05) so với các vị trí thu mẫu còn lại.
CEC trong đất cao tức là khả năng trao
đổi cation của đất càng cao cũng là yếu
tố chính làm tăng hàm lượng alkaloid
trong cây
3.2. Hàm lượng alkaloid trong cây
Vọng Cách
3.2.1. Hàm lượng alkaloid trong lá
non
Hàm lượng alkaloid trong lá non của
cây Vọng Cách được trình bày ở Hình
3.1 cho thấy ở đất bị nhiễm 2 tích lũy
hàm lượng alkaloid trong lá non (517,3
ppm) cao nhất và thấp nhất đất giồng cát
2 (123,6 ppm) có khác biết ý nghĩa
thống kê (p < 0,05) so với các nhóm đất
còn lại. Kết quả này cũng phù hợp với
kết quả phân tích mẫu đất, Hàm lượng
kali, đạm và chất hữu cơ trong đất. Đây
là đặc tính quan trọng giúp cây Vọng
Cách tích lũy được dược tính alkaloid
cao. Kali là nguyên tố đa lượng rất quan
trọng đối với sự sinh trưởng của cây
trồng và kali giữ nhiều vai trò sinh lý
quan trọng hoạt hoá các enzyme, tham
gia tổng hợp protein, vận chuyển
carbohydrate, kiểm soát tính thấm và pH
của màng tế bào. Kali có vai trò điều hoà
sự bốc thoát hơi nước của cây thông qua
cơ chế đóng mở khẩu, đồng hoá nitrate,
làm tăng tốc độ ngậm nước của nguyên
sinh chất, giúp cây chịu hạn, chịu rét tốt
hơn.
Chất hữu cơ được xem là chỉ tiêu
quan trọng để đánh giá sức sản xuất của
đất và có thể giảm hàm lượng kim loại
nặng di chuyển vào nước ngầm và hạn
chế cây hấp thu kim loại nặng (Fageria,
2012). Chất hữu cơ giúp duy trì chất
lượng đất, giảm ô nhiễm môi trường và
giúp sản xuất nông nghiệp bền vững
(Dương Minh Viễn và ctv., 2011;
Steven, 2011; Pham Van Quang, 2013).
Chất hữu cơ đóng vai trò quan trọng
trong cải thiện tính chất vật lý đất như
cấu trúc đất, dung trọng và khả năng giữ
nước trong đất; và các đặc tính hóa học
như N hữu dụng, Cation trao đổi, giảm
độc chất nhôm và tăng sức chống chịu
của cây trồng đồng thời, giúp tăng hoạt
động sinh học đất như tăng tổng số vi
sinh vật đất, vi sinh vật khoáng hóa N,
(Châu Minh Khôi và ctv., 2012; Fageria,
2012) và là một trong những chỉ tiêu để
đánh giá chất lượng đất (Chenu et al.,
2000; Steven, 2011).
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 07 - 2019
163
Hình 3.1. Hàm lượng Alkaloid trong lá non Vọng Cách (Ghi chú: a,b,c,d,e là thể hiện mức độ khác
biệt có ý nghĩa thống kê 5%)
3.2.2. Hàm lượng alkaloid trong
cành cây Vọng Cách
Kết quả phân tích hàm lượng alkaloid
trong cây Vọng Cách trình bày ở Hình
3.2 cho thấy hàm lượng alkaloid trong
cành của cây Vọng Cách ở nhóm đất bị
nhiễm phèn 2 cũng cao nhất tương tự
như ở lá non có khác biệt ý nghĩa thống
kê (p < 0.05) so với các nhóm đất còn
lại. Tuy nhiên, hàm lượng alkaloid trong
cành ở tất cả các vị trí thu mẫu điều thấp
hơn ở lá non. Kết quả này cũng phù hợp
với thực tế người dân dùng lá non của
cây Vọng Cách để làm rau ăn tươi.
Hình 3.2. Hàm lượng alkaloid trong cành cây Vọng Cách (Ghi chú: a,b,c là thể hiện mức độ
khác biệt có ý nghĩa thống kê 5%)
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 07 - 2019
164
3.2.3. Hàm lượng alkaloid trong
thân cây Vọng Cách
Kết quả phân tích hàm lượng alkaloid
trong thân cây Vọng Cách trình bày ở
Hình 3.3 cho thấy cũng ở nhóm đất phèn
cao nhất tương tự như ở lá non có khác
biệt ý nghĩa thống kê (p < 0.05) so với
các nhóm đất còn lại và thấp nhất vẫn ở
nhóm đất giồng các.
Hình 3.3. Hàm lượng alkaloid trong thân cây Vọng Cách (Ghi chú: a,b,c,d,e thể hiện mức
độ khác biệt có ý nghĩa thống kê 5%)
Tóm lại, qua kết quả phân tích mẫu
đất ở vị trí cây Vọng Cách sinh trưởng
cho thấy hàm lượng các chất dinh dưỡng
trong trong đất như: chất hữu cơ, đạm,
kali và CEC cao dẫn đến hàm lượng
alkaloid tích lũy trong lá non, cành và
thân cao có ý nghĩa thống kê (p < 0.05).
3.3. Mối tương quan giữa dinh
dưỡng trong đất và hàm lượng
alkaloid trong cây Vọng cách
Kết quả phân tích thống kê trình bày
ở Hình 3.4 cho thấy hàm lượng alkaloid
trong lá non có mối tương quan rất chặt
với hàm lượng dinh dưỡng trong đất như
kali, đạm, chất hữu cơ, CEC và pH đất
với hệ số tương quan lần lượt là
(R2 = 0,94; 0,86; 0,81; 0,78 và 0,75).
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 07 - 2019
165
Hình 3.4 Tương quan giữa hàm lượng N, K, chất hữu cơ trong đất, CEC và hàm lượng alkaloid
trong lá cây Vọng Cách
Hàm lượng alkaloid trong cành cây
Vọng Cách có mối tương quan không
cao với chất hữu cơ trong đất với hệ số
tương quan (R2 = 0,62) và các chỉ tiêu
còn lại như kali, đạm, lân, CEC và pH
đất có mối tương quan thấp với hàm
lượng Alkaloid tích lũy trong cành.
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 07 - 2019
166
Hình 3.5. Tương quan giữa hàm lượng N, K, chất hữu cơ trong đất, CEC và hàm lượng alkaloid
trong thân cây Vọng Cách
Hàm lượng alkaloid trong thân cây
Vọng Cách có mối tương quan với hàm
lượng dinh dưỡng trong đất như kali,
đạm, chất hữu cơ, CEC và pH đất với hệ
số tương quan lần lượt là (R2 = 0,90;
0,88; 0,84; 0,72 và 0,76) được trình bày
ở Hình 3.5.
Không có mối tương quan giữa hàm
lượng lân trong đất và hàm lượng
alkaloid trong lá non, cành và thân cây
Vọng Cách.
4. KẾT LUẬN
Hàm lượng alkaloid trong lá non,
cành và thân cây Vọng Cách cao trên
nhóm đất phèn, kế đến là nhóm đất phù
sa xa sông và thấp nhất trên nhóm đất
giồng cát.
Hàm lượng alkaloid trong cây Vọng
Cách ở lá non cao hơn cành và thân ở tất
cả các nhóm đất. Với hàm lượng
alkaloid trong cây Vọng Cách có thể
dùng làm dược liệu chữa được chứng
mất ngủ, gan nhiễm mỡ, men gan cao,
vàng da, kém ăn, đầy bụng, điều hòa
kinh nguyệt, an thần, chữa khỏi bệnh
bướu giáp ác tính Basedo, thanh nhiệt,
tiêu độc.
Có Mối tương quan rất chặt với hàm
lượng dinh dưỡng trong đất như kali,
đạm, chất hữu cơ, CEC và pH đất với
hàm lượng alkaloid trong lá non và thân
cây Vọng Cách. Sự tương quan giữa
hàm lượng alkaloid trong cành với dinh
dưỡng trong đất thấp. Không tìm thấy
mối tương quan giữa hàm lượng lân
trong đất và hàm lượng alkaloid trong lá
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 07 - 2019
167
non, cành và thân cây Vọng Cách trên
các nhóm đất.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Aparna S, Ved DK, Lalitha S,
Venkatasubramanian P., 2012. Botanical
identity of plant sources of Dasamula
drugs through an analysis of published
literature. Anc Sci Life. 32:3–10.
2. Caldecott T, Tierra M. New
York, 2006. Elsevier Health Sciences.
Ayurveda: The Divine Science of Life;
pp. 161–2.
3. Châu Minh Khôi, Phan Văn Tâm
và Võ Thị Gương, 2012. Hiệu quả của
phân hữu cơ bã bùn mía trong cải thiện
một số đặc tính hóa, lý đất trồng Gấc
(Momordica cochinchinensis (Lour)
Spreng) tại huyện Tri Tôn, tỉnh An
Giang. Tạp chí khoa học - Đại học Cần
Thơ, ISSN: 1859-2333. Số 24a: 9 – 16.
4. Chenu, C., Y. Le Bissonnais and
Arrouays D., 2000. Organic matter
influence on clay wettability and soil
aggregate stability. Soil Science Society
of America Journal, 64 (4): 1479-1486.
5. Đái Thị Xuân Trang, Trần Chí
Linh, Nguyễn Thanh Nhị, Phan Kim
Định, Trần Thanh Mến và Nguyễn
Trọng Tuân, 2018. Khảo sát hoạt tính
sinh học của cao chiếc lá cây vọng cách
(Premna serratifolia (L.)). Tạp chí Khoa
học Trường Đại học Cần Thơ. 54(9A):
46-52.
6. Đỗ Tất Lợi, 2004. Những cây
thuốc và vị thuốc Việt Nam. Nhà xuất
bản Y Học.
7. Dương Minh Viễn, Trần Kim
Tính và Võ Thị Gương, 2011. Ủ phân
hữu cơ vi sinh và hiệu quả trong cải
thiện năng suất cây trồng và chất lượng
đất. Nhà xuất bản Nông nghiệp.
8. Fageria, N.K., 2012. Role of Soil
Organic Matter in Maintaining
Sustainability of Cropping Systems.
National Rice and Bean Research Center
of EMBRAPA, Santo Antonio de Goiás,
Brazil. pp: 2063-2096.
9. George KV, Samuel KA,
Abraham J, George BP. Investigations
on bioactive compounds of Premna
integrifolia Linn. 2008. [Last accessed
on 2008 Feb 10].
10. Gokani RH, Kapadiya NS, Shah
MB., 2008. Comparative
pharmacognostic study of Clerodendrum
phlomidis and Premna integrifolia. J Nat
Remed. 8:222–31.
11. Hội dược điển Việt Nam, 2017.
Dược điển Việt Nam V. Nhà xuất bản Y
Học Hà Nội.
12. Kumar KU, Soma P, Kumar SS,
Chandra SM, Kumar BS, 2011.
Assessment of analgesic and
antibacterial activity of Premna
integrifolia Linn. (Family: Verbenaceae)
leaves. Int J Pharm Sci Res. 2:1430–5.
13. Laloo D, Sahu AN, Hemalatha S,
Dubey SD., 2012. Pharmacognostic and
phytochemical evaluation
of Cinnamomum
wightii Meissn.flowers. Indian J Nat
Prod Res. 3:33–9.
14. Mali PY., 2015. Premna
integrifolia L.: A review of its
Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển kinh tế Trường Đại học Tây Đô Số 07 - 2019
168
biodiversity, traditional uses and
phytochemistry. Anc Sci Life. 35:4–11.
15. Nadkarni KM, Nadkarni AK.,
2005. Indian Materia Medica. 3rd ed. I.
Bombay: Popular Prakashan. pp. 1009–
10.
16. Pham Van Quang, 2013. Soil
degradation of raised beds on orchards in
the mekong delta Field and laboratory
methods. PhD Thesis in Land and Water
resources Department of Sustainable
development, Environmental science and
Engineering Royal Institute of
Technology (KTH).
17. Steven L. McGeehan, 2011.
Impact of Waste Materials and Organic
Amendments on Soil Properties and
Vegetative Performance.Hindawi
Publishing Corporation Applied and
Environmental Soil Science Volume
2012, Article ID 907831, 11 pages.
18. Walkley, A. and I.A. Black, 1934.
An examination of the destyareff
method for determining soil organic
matter and a proposed modification of
the chromic acid titration method. Soil
Sci. 37: 29-38.
EFFECTS OF SOIL PROPERTIES TO ALKALOID CONTENT IN
Premma integrifolia (L.)
Vo Van Binh, Mai Linh Canh and Nguyen Van Ba
Faculty of Applied Biology, Tay Do University
(Email: vvbinh@tdu.edu.vn)
ABSTRACT
The Premma integrifolia (L.) grows wildly in Vietnam, Laos, and Cambodia. The main
chemical composition of the Premma integrifolia (L.) plant contains ankaloid, which has
been usedas medicinal plant. In Vietnam, this plant can be used as vegetablesThe objective
of this study was to determine the alkaloid content in Premma integrifolia (L.) plant under
the effect of nutrient contents in soil. As the results, acid sulphate soil had low pH but
higher content of organic matter, N, P, K, CEC compared to alluvial soil and sandy soil (p
<0.05). The content of alkaloid in Premma integrifolia (L.) leaves and stems in acid
sulphate soils was significantly higher than in alluvial soil and sandy soil (p <0.05).
Alkaloid content in young leaves were strongly correlated with soil nutrient contents such
as potassium, nitrogen, organic matter, CEC and soil pH. However, ther was no
correlation between the phosphorus content in soil and alkaloid content in young leaves,
branches and stems of Premma integrifolia (L.).
Keywords: Alkaloid, Premma integrifolia (L.), soil type, soil nutrients.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
anh_huong_cua_dinh_duong_trong_dat_den_ham_luong_alkaloid_tr.pdf