Đối với các nhóm lây nhiễm với VK
Brachyspira dung huyết yếu, mô hình sử dụng
khẩu phần ăn giàu protein đã có kết quả giúp các
chủng VK Brachyspira này có thể dễ dàng xâm
nhập vào niêm mạc ruột già sau lây nhiễm và
được thải ra ngoài theo phân với tỷ lệ cao, dao
động từ 75-100% nhưng không gây ra bệnh tiêu
chảy trên lâm sàng. Ở một số trường hợp riêng lẻ
(3 con lợn lây nhiễm với B. innocens, 8 con lây
nhiễm với B. murdochii) các dấu hiệu viêm đại
tràng với một số vết loét niêm mạc nhỏ, tích tụ
fibrin và tăng sản tế bào cốc ở những vị trí biệt
lập đã được quan sát thấy. Tuy nhiên, phần lớn
lợn của các lô TN này cũng chỉ có những thay đổi
nhỏ ở ruột về mặt mô học, tương tự như nhóm đối
chứng âm ĐC2. Từ các kết quả trên, có thể thấy
các yếu tố như stress, thức ăn có liên quan đến sự
phát triển bệnh hồng lỵ ở lợn do
B. hyodysenteriae gây ra nhưng không có ảnh
hưởng rõ nét đối với quá trình phát triển bệnh
lâm sàng ở các nhóm TN với các Brachyspira
dung huyết yếu như B. innocens, B. murdochii và
B. intermedia. Hay nói cách khác, khả năng gây
bệnh của các loài Brachyspira dung huyết yếu
này vẫn chưa thể kết luận được dựa trên các kết
quả thu được ở trên.
5. KẾT LUẬN
Sử dụng khẩu phần ăn có 50% khô đậu
tương trong thí nghiệm lây nhiễm các loại
Brachyspira dung huyết yếu ở lợn sau cai sữa
đã có ảnh hưởng đến khả năng xâm nhập và
tăng sinh số lượng tế bào ở niêm mạc ruột của
lợn nhưng không ảnh hưởng đến quá trình phát
triển triệu chứng lâm sàng của bệnh hồng lỵ.
Các biến đổi bệnh lý đại thể và vi thể chỉ được
quan sát thấy ở một số trường hợp riêng lẻ,
không đại diện và điển hình cho bệnh hồng lỵ
khi so sánh với nhóm ĐC dương được lây nhiễm
với B. hyodysenteriae.
11 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của khẩu phần ăn giàu protein đến khả năng gây bệnh của ba loài brachyspira dung huyết yếu ở lợn thịt, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Vietnam J. Agri. Sci. 2020, Vol. 18, No.10: 888-898 Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2020, 18(10): 888-898
www.vnua.edu.vn
888
ẢNH HƯỞNG CỦA KHẨU PHẦN ĂN GIÀU PROTEIN ĐẾN KHẢ NĂNG GÂY BỆNH
CỦA BA LOÀI BRACHYSPIRA DUNG HUYẾT YẾU Ở LỢN THỊT
Nguyễn Thị Tuyết Lê1*, Anja Rothkamp2, Frank Seeliger2, Michael Wendt2
1Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2Trường Đại học Thú y Hannover, CHLB Đức
*Tác giả liên hệ: tuyetle_hua@vnua.edu.vn
Ngày nhận bài: 18.08.2020 Ngày chấp nhận đăng: 14.09.2020
TÓM TẮT
Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của khẩu phần ăn giàu protein đến khả năng gây bệnh của 3 loài
Brachyspira dung huyết yếu là B. innocens, B. murdochii và B. intermedia ở lợn thịt. Tổng số 67 con lợn thịt có khối
lượng bình quân là 15,6 ± 3,1kg được cho ăn với khẩu phần có chứa 50% khô đậu tương trong 7 ngày. Kết quả của
3 nhóm thí nghiệm (TN) với 3 loài Brachyspira dung huyết yếu được so sánh với nhóm đối chứng (ĐC) dương (lây
nhiễm với B. hyodysenteriae, n = 15) và nhóm ĐC âm (n = 3, không lây nhiễm) ở các chỉ tiêu về lâm sàng, tình trạng
phân, biến đổi bệnh lý ở niêm mạc ruột, tăng khối lượng cơ thể và hiệu quả sử dụng thức ăn. Kết quả cho thấy, tất
cả 15 con lợn ở nhóm lây nhiễm với B. hyodysenteriae đều xuất hiện tiêu chảy xuất huyết sau 1-13 ngày lây nhiễm.
Trái lại, 3 nhóm lây nhiễm với các Brachyspira dung huyết yếu đều không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng cũng
như biến đổi bệnh lý đại thể rõ rệt của bệnh hồng lỵ khi so sánh với nhóm ĐC. Mặc dù 3 loài Brachyspira dung huyết
yếu có thể cư trú và tăng sinh ở niêm mạc ruột già của lợn nhưng không gây bất cứ triệu chứng lâm sàng cũng như
không có biến đổi bệnh lý ở niêm mạc ruột điển hình của bệnh hồng lỵ.
Từ khóa: Brachyspira (B.) hyodysenteriae, B. innocens, B. murdochii, B. intermedia, tiêu chảy, bệnh hồng lỵ, lợn thịt.
The Effects of a Protein Rích Diet on Pathogenicity of Three Weak β-haemolytic
Brachyspira Species in Fattening Pigs
ABSTRACT
This study was performed to evaluate the influence of a protein rich diet as a provocative factor on producing the
clinical disease after infection with three weak β-haemolytic Brachyspira species (B. innocens, B. murdochii and B.
intermedia) in fattening pigs. A total of 67 pigs with an average body weight of 15.6 ± 3.1kg were fed a diet containing
50% extracted soybean meal for seven days. The results of the experimental groups (infection with weakly haemolytic
Brachyspira species B. innocens, n = 15, B. murdochii, n = 24 and B. intermedia, n = 10) were compared with those of
the positive control group (infection with B. hyodysenteriae, n = 15) and the negative control group (n = 3; no
inoculation). The results showed that all 15 pigs inoculated with B. hyodysenteriae developed mucohaemorrhagic
diarrhea after an incubation period of one to 13 days. In contrast, diarrhea could not be detected in the three groups
inoculated with weakly haemolytic Brachyspira species. These groups also showed no significant difference in the
average weight gain and feed conversion ratio with no pathological findings typical for dysentery among themselves. It
can be therefore concluded that the examined strains of weakly haemolytic Brachyspira species could colonize and
proliferate in the mucosa of the large intestine after the experimental infection. Faecal shedding occurred regularly, but
no clinical symptoms of swine dysentery could be produced in the experimental pigs.
Keywords: Brachyspira (B.) hyodysenteriae, B. innocens, B. murdochii, B. intermedia, diarrhea, swine dysentery,
fattening pigs.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chi Brachyspira (trước đây là Serpulina,
Treponema) là xoắn khuẩn đường ruột, có vai trò
quan trọng đối với ngành chăn nuôi. Một số loài
của chi này gây tiêu chảy xuất huyết và làm
giảm tốc độ sinh trưởng ở lợn từ đó dẫn đến thiệt
hại kinh tế lớn cho người chăn nuôi như
Nguyễn Thị Tuyết Lê, Anja Rothkamp, Frank Seeliger, Michael Wendt
889
Brachyspira (B.) hyodysenteriae (Stanton, 1992;
Ochiai & cs., 1997). B. hyodysenteriae có khả
năng gây dung huyết hồng cầu mạnh và là tác
nhân gây bệnh hồng lỵ ở mọi lứa tuổi của lợn, đặc
biệt ở lợn con sau cai sữa và giai đoạn vỗ béo. Tỷ
lệ mắc bệnh ở lợn có thể lên đến 90% và tỷ lệ chết
ở lợn không được điều trị có thể đến 50%
(Fellström, 1996; Merialdi & cs., 2005). Bên cạnh
B. hyodysenteriae còn các loài Brachyspira khác
gây dung huyết yếu hồng cầu như B. innocens,
B. pilosicoli, B. murdochii và B. intermedia.
Trong số đó, B. pilosicoli được xác định là nguyên
nhân gây tiêu chảy do xoắn khuẩn ở lợn, chim và
cả ở người (Girard & cs., 1995; Trott & cs., 1996;
Hampson, 2000). Khả năng gây bệnh của
B. intermedia, B. murdochii và B. innocens ở lợn
vẫn chưa được xác định một cách rõ ràng. Một số
tác giả cho rằng 3 loài này không có khả năng
gây bệnh đường ruột ở lợn (Stanton & cs., 1997;
Verspohl & cs., 2001). Tuy nhiên, nhiều tác giả
đã phát hiện 3 loài Brachyspira này trong phân
lợn bị tiêu chảy mặc dù không thể chỉ ra được
mối liên quan trực tiếp nhưng họ cũng cho thấy
các bằng chứng về sự xâm nhập của các xoắn
khuẩn này vào niêm mạc biểu mô ruột, đi kèm
với các dấu hiệu của viêm đại tràng (Jensen,
2005; Jensen & Boye, 2005; Rothkamp & cs.,
2005; Wendt & cs., 2006). Các bệnh liên quan
đến các 3 loài Brachyspira dung huyết yếu này
được gọi chung là Viêm đại tràng do xoắn khuẩn
ở lợn (Hampson & Trott, 1995; Taylor & Trott,
1997). Việc 3 loài B. intermedia, B. murdochii và
B. innocens luôn được phân lập từ các mẫu phân
lợn mắc tiêu chảy mà không có bất kỳ vi khuẩn
gây bệnh tiêu chảy nào khác được phân lập đã
đặt ra câu hỏi về vai trò của ba loài Brachyspira
dung huyết yếu này trong việc gây tiêu chảy ở
lợn; Có hay không mối quan hệ giữa chúng với
các yếu tố ngoại cảnh như thức ăn, điều kiện
chăm sóc nuôi dưỡng. Một số tác giả đã cho biết,
hàm lượng protein cao trong khẩu phần có thể
ảnh hưởng tới sự phát triển của bệnh hồng lỵ
(Pluske & cs., 2002). Jacobson & cs. (2004) đã
báo cáo rằng, tỷ lệ khô đậu tương cao (50%) trong
khẩu phần là một trong những yếu tố quan trọng
ảnh hưởng tới tỷ lệ mắc hồng lỵ cũng như sự
phát triển triệu chứng lâm sàng trong thí nghiệm
lây nhiễm với Brachyspira. Với lý do này, nghiên
cứu của chúng tôi nhằm xem xét ảnh hưởng của
khẩu phần ăn giàu protein đến khả năng gây
bệnh của ba chủng Brachyspira dung huyết yếu ở
lợn sau cai sữa. Kết quả lây nhiễm thí nghiệm sẽ
được đánh giá so sánh với các chủng dung huyết
mạnh như B. hyodysenteriae.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Động vật thí nghiệm
Tổng số 67 lợn thịt lai LY (Landrace
Yorkshire) khỏe mạnh được lựa chọn từ các trang
trại (JSR-Hybrid) bang Niedersachsen có khối
lượng bình quân 15,6 ± 3,1kg, được nuôi tại trại
thí nghiệm của Viện nghiên cứu Lợn và Gia súc
nhai lại loại nhỏ, Trường Đại học Thú y Hannover.
Trước thí nghiệm, toàn bộ lợn được kiểm tra lâm
sàng, lấy mẫu phân kiểm tra sự có mặt của các vi
khuẩn Brachyspira spp., Salmonella spp., E. coli
dung huyết và Lawsonia intracellularis.
Lợn thí nghiệm được đánh số tai, không
phân biệt giới tính và chia ngẫu nhiên vào 5 lô
gồm: lô ĐC1 (đối chứng dương, được lây nhiễm
với VK B. hyodysenteriae) gồm 03 ô mỗi ô 5 con;
Lô ĐC2 (đối chứng âm, không lây nhiễm VK)
gồm 1 ô 3 con; Lô TN1 (lây nhiễm với
B. innocens) gồm 03 ô mỗi ô 5 con; Lô TN2 (lây
nhiễm với B. murdochii) gồm 5 ô, 4 ô 5 con và 1ô
4 con; Lô TN3 (lây nhiễm với B. intermedia)
gồm 3 ô trong đó 1 ô 4 con, 2 ô còn lại mỗi ô 3
con. Lợn thí nghiệm ở các lô được nuôi nuôi
riêng rẽ, trong chuồng kín, sàn bê tông có hệ
thống quạt hút và dàn mát. Thí nghiệm kéo dài
trong 30 ngày.
2.2. Khẩu phần thí nghiệm
Khẩu phần thí nghiệm được thiết kế bởi
Viện Dinh dưỡng, trường Đại học Thú y
Hannover. Tất cả lợn thí nghiệm ở các lô đều
được cho ăn khẩu phần cơ sở từ 0,04-0,05 kg/kg
thể trọng/ngày. Khẩu phần thí nghiệm với 50%
khô đậu tương trích ly được cho ăn trong 7 ngày
(4 ngày trước khi lây nhiễm và 3 ngày trong quá
trình lây nhiễm vi khuẩn), sau đó lợn sẽ được
cung cấp trở lại khẩu phần cơ sở cho đến hết
thời gian thí nghiệm (Jacobson & cs., 2004).
Ảnh hưởng của khẩu phần ăn giàu protein đến khả năng gây bệnh của ba loài Brachyspira dung huyết yếu ở lợn thịt
890
Bảng 1. Khẩu phần thí nghiệm
Nguyên liệu Khẩu phần cơ sở (%)
Khẩu phần giàu protein
(50% KPCS + 50% khô đậu tương)
Cám mạch 79 39,5
Khô đỗ tương trích ly 15 57,5
Khoáng-Premix 3 1,5
Dầu đậu tương 3 1,5
Hình 1. Sơ đồ thiết kế thí nghiệm lây nhiễm Brachyspira và chế độ ăn
2.3. Lây nhiễm vi khuẩn
- Giống vi khuẩn: Các chủng giống
Brachyspira được cung cấp bởi Viện Vi sinh vật,
Trường Đại học Thú y Hannover, CHLB Đức
gồm 02 chủng B. hyodysenteriae (kí hiệu B204
và 7304/03); 03 chủng B. innocens (kí hiệu
3407/04, 7405/05, 1569/05); 02 chủng
B. intermedia (kí hiệu 1618/03, 543/06) và 04
chủng B. murdochii (kí hiệu 5139/04, 7185/05,
3626/05, S11287). Các chủng giống được bảo
quản trong glycerin ở -70C. Trước thí nghiệm,
các chủng giống được hoạt hóa trên môi trường
thạch máu Columbia (Oxoid, Wesel) nuôi cấy
yếm khí ở 42C/3-5 ngày.
- Phương pháp lây nhiễm: Các khuẩn lạc
của Brachyspira được nuôi cấy yếm khi trên môi
trường Brain-Heart-Infusion (BHI) ở 42C/48h.
Mật độ tế bào của dịch nuôi cấy phải đạt từ
108-109 cfu/ml (tương đương với 2,0-3,5 đơn vị
McFarland). Dịch nuôi cấy đạt yêu cầu được sử
dụng để lây nhiễm cho lợn thí nghiệm bằng cách
sử dụng ống thông dạ dày (B. Braun Melsungen
AG, Melsungen). Mỗi con lợn sẽ được lây nhiễm
50ml dịch nuôi cấy các chủng Brachyspira vào
các buổi chiều trong 3 ngày liên tục. Trong thời
gian 3 ngày lây nhiễm, lợn thí nghiệm chỉ được
ăn 1 lần duy nhất với khẩu phần giàu protein.
Thời gian cho ăn sau 4-6h sau khi lây nhiễm.
2.4. Các chỉ tiêu nghiên cứu
2.4.1. Các chỉ tiêu lâm sàng
Các chỉ tiêu lâm sàng được kiểm tra hàng
ngày vào buổi sáng và buổi chiều trước khi cho
ăn gồm đo thân nhiệt trực tràng, tình trạng
chung, trạng thái của phân. Biểu hiện triệu
chứng lâm sàng của lợn thí nghiệm được đánh
giá theo thang điểm (Bảng 2).
Khối lượng cơ thể của lợn thí nghiệm được
cân trước và hàng tuần sau khi lây nhiễm. Hiệu
quả sử dụng thức ăn (kg/kg tăng khối lượng)
được xác định bằng tổng lượng thức ăn thu nhận
được ghi chép theo nhóm /tổng tăng khối lượng
cơ thể.
2.4.2. Kiểm tra các chỉ tiêu VSV
- Lấy mẫu: Mẫu phân được lấy tại trực tràng
vào mỗi buổi sáng sau khi lây nhiễm để kiểm tra
sự bài tiết Brachyspira. Mẫu chất chứa đường
ruột được lấy ở manh tràng và ruột già tại thời
điểm mổ khám trong và sau khi kết thúc thí
nghiệm để kiểm tra Brachyspira và ở ruột non để
kiểm tra các vi khuẩn gây bệnh khác như E. coli
dung huyết, Salmonella, Lawsonia.
Nguyễn Thị Tuyết Lê, Anja Rothkamp, Frank Seeliger, Michael Wendt
891
Bảng 2. Đánh giá điểm số cho các chỉ tiêu lâm sàng
Thân nhiệt Trạng thái phân
Hành vi, tư thế, trạng thái,
tình trạng dinh dưỡng
Thu nhận thức ăn
0 ≤39,9C Bình thường (phân đặc, rắn
chắc, tạo khuôn)
Trạng thái sinh lý bình thường Giảm sự thèm ăn, nhưng vẫn ăn
1 Sốt (≥40,0C) Mềm/đặc, màu vàng - xanh xám
hoặc màu xi măng
Mệt mỏi, giảm hoạt động, giảm
tương tác trong đàn, tình trạng
dinh dưỡng bình thường
Giảm sự thèm ăn, giảm thu nhận
thức ăn, tăng tiêu thụ nước
2 Loãng, có màng nhầy hoặc mảnh
fibrin, màu xi măng
Gầy, bụng hõm vào, mệt mỏi, bỏ
ăn, nằm nhiều, lưng cong
Bỏ ăn, gầy còm
3 Lỏng như nước, có màng nhầy,
fibrin và có lẫn máu hoặc sợi tơ
huyết, màu phân dao động từ cà
phê sữa đến sôcôla
- Phương pháp phân lập và phân loại
Brachyspira dựa theo mô tả của Feltrup & cs.
(1999) và Rhode & cs. (2002). Lawsonia được
xác định theo phương pháp mô tả của Wendt &
cs. (2000). E. coli dung huyết và Salmonella
được xác định theo qui trình của viện Vi sinh
vật, Đại học Thú y Hannover.
2.4.3. Xét nghiệm giải phẫu bệnh lý học
Sau 4 tuần, tất cả lợn ở các lô thí nghiệm và
đối chứng được tiến hành mổ khám để kiểm tra
các biến đổi bệnh lý và mô bệnh học. Các biến
đổi ở đường tiêu hóa của lợn thí nghiệm đều
được kiểm tra và đánh giá qua thang điểm, sau
đó các mẫu bệnh phẩm được làm tiêu bản để
kiểm tra các biến đổi vi thể dưới kính hiển vi.
Các biến đổi vi thể ở niêm mạc manh tràng
và ruột già được đánh giá qua thang điểm từ 0-2
(0: không có biến đổi, 1: biến đổi dạng điểm ở
1-2 vị trí ở niêm mạc ruột; 2: biến đổi nhiều hơn
3 vị trí) với các tiêu chí: các khe niêm mạc giãn
ra hoặc áp xe, u loét ở niêm mạc, xuất huyết ở
niêm mạc. Mức độ biến đổi vi thể ở niêm mạc
được đánh giá qua thang điểm từ 0-3 với tiêu
chí xuất hiện màng giả hoặc lắng đọng fibrin ở
niêm mạc. Hai chỉ tiêu tăng sinh tế bào hình cốc
và tăng độ dày của niêm mạc được đánh giá với
thang điểm từ 0-1.
2.5. Xử lý số liệu
Việc thu thập dữ liệu được thực hiện trong
Microsoft® Excel phiên bản 2003 dành cho
Windows. Các đánh giá thống kê được thực hiện
bằng chương trình SAS® 9.1 (SAS Institute
Inc., 1999) với sự hỗ trợ của Viện Sinh trắc học,
Đại học Thú y Hannover.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Kết quả phân lập lại Brachyspira sau
khi lây nhiễm
Trước khi và sau khi tiến hành lây nhiễm
Brachyspira, tất cả lợn thí nghiệm đều được lấy
mẫu phân để kiểm tra Lawsonia và các vi
khuẩn gây bệnh đường ruột như E. coli dung
huyết, Salmonella. Kết quả cho thấy, các mầm
bệnh trên đều không được tìm thấy trong mẫu
phân và mẫu chất chứa đường ruột ở tất cả lợn
thí nghiệm.
Bảng 3. Thang điểm đánh giá biến đổi đại thể niêm mạc và chất chứa đường ruột
0 = Không có biến đổi đại thể ở đường tiêu hóa
1 = Niêm mạc ruột sung huyết và tăng tiết dịch, chất chứa trong ruột dày và mềm - viêm đại tràng catarrhal thể nhẹ đến
trung bình
2 = Tăng sinh niêm mạc ruột (dày lên) phủ với chất nhầy và fibrin, có các điểm xuất huyết, chất chứa nhão hoặc loãng, viêm
tơ huyết (fibrinous colitis)
3 = Niêm mạc ruột dày lên rõ rệt, được bao phủ bởi chất nhầy hoặc màng giả, có các vết loét hoại tử trên bề mặt. Chất chứa
ruột già loãng hoặc lỏng như nước, màu xi măng hoặc màu cafe sữa; viêm đại tràng hoại tử (necrotizing colitis)
Ảnh hưởng của khẩu phần ăn giàu protein đến khả năng gây bệnh của ba loài Brachyspira dung huyết yếu ở lợn thịt
892
Bảng 4. Kết quả phân lập lại các loài Brachyspira lây nhiễm ở lợn thí nghiệm
Nhóm TN n
Số mẫu dương tính với Brachyspira Tỷ lệ
(%) Mẫu phân Mẫu chất chứa đường ruột
ĐC1 15 15 15 100
TN1 15 15 15 100
TN2 24 18 18 75
TN3 10 9 9 90
ĐC2 3 0 0 0
Hình 2. Tỷ lệ mẫu dương tính với Brachyspira sau lây nhiễm ở các thời điểm
và vị trí lấy mẫu khác nhau
Kết quả ở bảng 4 cho thấy, tỷ lệ phân lập
lại xoắn khuẩn B. hyodysenteriae và
B. innocens là 100% ở tất cả các mẫu phân và
mẫu chất chứa niêm mạc ruột của tất cả các
nhóm lợn thí nghiệm. Trong khi đó, tỷ lệ phân
lập lại B. intermedia là 90% và B. murdochii chỉ
đạt 75% (18/24 con lợn thí nghiệm). Nhóm ĐC2
không phát hiện Brachyspira và các vi khuẩn
khác trong mẫu phân và mẫu chất chứa trong
suốt thời gian thí nghiệm.
Hình 2 cho thấy đánh giá tổng quát về tỷ lệ
phân lập lại Brachyspira tại các thời điểm khác
nhau và ở các đoạn ruột khác nhau khi mổ
khám. Trong 4 nhóm thí nghiệm, các loài
Brachyspira được phát hiện trong mẫu phân lần
đầu tiên vào ngày thứ 3 sau khi lây nhiễm.
B. hyodysenteriae được bài tiết liên tục qua
phân 1 tuần sau khi lây nhiễm ở 100% con lợn
lây nhiễm cho đến khi kết thúc thí nghiệm.
Trong khi đó, tốc độ bài tiết cao nhất đối với
B. intermedia ở tuần thứ 3, đối với B. innocens
và B. murdochii ở tuần thứ 4 sau khi lây nhiễm.
Bên cạnh đó, có sự khác biệt về tỷ lệ phân lập
lại các loài Brachyspira lây nhiễm ở manh tràng
và ruột già giữa các nhóm TN1, TN2 và TN3. Tỷ
lệ mẫu phân lập Brachyspira thường cao hơn ở
các mẫu chất chứa từ ruột già so với ở
manh tràng.
B. hyodysenteriae B. intermedia B. innocens B. murdochii Kontrolle
Nguyễn Thị Tuyết Lê, Anja Rothkamp, Frank Seeliger, Michael Wendt
893
Bảng 5. Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu lâm sàng ở lợn thí nghiệm
Điểm số lâm sàng
trung bình/ngày
ĐC1 (n = 15) TN1 (n = 15) TN2 (n = 24) TN3 (n = 10) ĐC2 (n = 3)
Trạng thái phân 1,45
a††
± 0,59 0,19
b
± 0,23 0,09
b
± 0,08 0,08
b
± 0,06 0,03 ± 0,05
Trạng thái sinh lý 0,86 ± 0,32 0,0 0,0 0,0 0,0 ± 0,0
Thức ăn thu nhận 1,12 ± 0,44 0,0 0,0 0,0 0,0 ± 0,0
Sốt 0,24
a††
± 0,20 0,01
b
± 0,02 0,02
b
± 0,03 0,01
b
± 0,01 0,0 ± 0,0
Tổng điểm 3,67
a††
± 1,45 0,19
b
± 0,25 0,11
b
± 0,09 0,09
b
± 0,06 0,03 ± 0,05
Ghi chú: Các chữ cái khác nhau trên cùng một hàng biểu thị sự sai khác thống kê giữa các nhóm TN với P <0,05
( = *), P <0,01 ( = †) và p<0,001 ( = ††)
3.2. Kết quả kiểm tra các chỉ tiêu lâm sàng
Bảng 5 cho thấy tổng điểm lâm sàng trung
bình của nhóm nhiễm B. hyodysenteriae cao
hơn đáng kể (P <0,001) so với các nhóm thử
nghiệm khác. Không có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê về tổng điểm lâm sàng giữa 3 nhóm bị
nhiễm các loài Brachyspira tan máu yếu. Đặc
biệt, có thể quan sát thấy sự thay đổi đáng kể về
độ đặc của phân (P <0,001) hoặc nhiệt độ cơ thể
tăng lên đáng kể (P <0,001) ở động vật bị nhiễm
B. hyodysenteriae so với ba nhóm thử nghiệm
còn lại. Ngược lại, không có sự khác biệt đáng kể
về điểm số về tính nhất quán của phân và sốt
giữa các nhóm B. innocens, B. murdochii và
B. intermedia.
Ở nhóm B. hyodysenteriae, tiêu chảy xuất
hiện sau khi lây nhiễm từ 1-13 ngày. Độ đặc của
phân thay đổi từ loãng màu xi măng đến lỏng
màu nâu sẫm hoặc màu sô cô la. Máu và dịch
nhầy được tìm thấy trong phân với số lượng lớn,
một phần ở dạng fibrin, màu xám nhạt, lớp chất
nhầy đồng nhất. 3-9 ngày sau khi bắt đầu tiêu
chảy ra máu, lợn được đưa đến viện Bệnh lý để
mổ khám đánh giá các chỉ tiêu bệnh lý và mô
học. Sốt xảy ra ở hầu hết các gia súc bị tiêu chảy
trong khoảng 40,0-40,7C. Những con lợn bị
tiêu chảy có biểu hiện sụt cân từ 1-4kg trong
suốt thời kỳ tiêu chảy. Từ bảng 5 có thể thấy
những thay đổi trong các thông số về trạng thái
sinh lý và tiêu thụ thức ăn chỉ được quan sát
thấy ở nhóm ĐC1 (lây nhiễm với
B. hyodysenteriae) với điểm số lâm sàng trung
bình lần lượt là 0,86 ± 0,32 và 1,12 ± 0,44. Ở
nhóm đối chứng âm (ĐC2), không có triệu chứng
lâm sàng đáng chú ý nào được quan sát thấy
trong toàn bộ thời gian nghiên cứu.
3.3. Kết quả xác định khả năng tăng khối
lượng cơ thể và hiệu quả sử dụng thức ăn
Kết quả ở bảng 6 cho thấy mức tăng khối
lượng trung bình hàng ngày ở nhóm ĐC1 nhiễm
B. hyodensenteriae thấp hơn rõ rệt so với ở các
nhóm TN và ĐC2 (P <0,05). Nhóm này giảm cân
trung bình 0,04kg mỗi ngày do lợn bỏ ăn trong
giai đoạn tiêu chảy. Sự khác biệt đáng kể
(P <0,05) cũng được quan sát thấy ở nhóm TN1
nhiễm B. innocens so với nhóm TN2
(B. intermedia), TN3 (B. murdochii) và nhóm
ĐC2. Lợn thí nghiệm trong nhóm TN1 có mức
tăng trọng trung bình thấp 0,20 kg/ngày nhưng
mức tiêu thụ thức ăn lại cao (3,88 kg/kg tăng
khối lượng). Mức tiêu thụ thức ăn của nhóm
TN2 và TN3 đều cao hơn so với nhóm ĐC2
(3,11kg và 2,99kg so với 2,79 kg/kg tăng khối
lượng) tuy nhiên, sựa sai khác này không có ý
nghĩa thống kê.
3.4. Kết quả kiểm tra bệnh tích đại thể
Trong thí nghiệm này, không thể thực hiện
so sánh thống kê với nhóm ĐC2 về những thay
đổi bệnh lý do số lượng mẫu nhỏ (n = 3).
Biến đổi bệnh lý rõ rệt ở niêm mạc ruột già
được quan sát thấy ở nóm ĐC1 (lây nhiễm với
B. hyodysenteriae) với điểm trung bình
8,8 ± 1,21). Các biến đổi này tương ứng với
những mô tả về đặc điểm bệnh lý của lợn mắc
bệnh hồng lỵ (Hình 3, 4). Điểm số của nhóm này
có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các
nhóm TN1, TN2, TN3 và ĐC2 (P <0,001).
Ảnh hưởng của khẩu phần ăn giàu protein đến khả năng gây bệnh của ba loài Brachyspira dung huyết yếu ở lợn thịt
894
Bảng 6. Kết quả tăng khối lượng bình quân (kg/con/ngày) và hiệu quả sử dụng thức ăn
Chỉ tiêu theo dõi ĐC1 (n = 15) TN1 (n = 15) TN (n = 24) TN3 (n = 10) ĐC2 (n = 3)
Tăng khối lượng (kg/con/ngày) (x ± s) -0,04
c*
± 0,08 0,20
b†
± 0,07
0,30
a
± 0,07 0,33
a
± 0,04 0,33
a
± 0,05
Min - Max -0,19- 0,14 0,11- 0,35 0,12- 0,39 0,21- 0,35 0,28- 0,36
HQSDTA (kg/kg tăng khối lượng) (-)
1
1:3,88 1:2,99 1:3,11 1:2,79
Ghi chú: + Các chữ cái khác nhau trong cùng một hàng biểu thị sự sai khác thống kê giữa các nhóm TN với
P <0,05 ( = *), P <0,01 ( = †) ; + 1 Lợn thí nghiệm bỏ ăn trong thời gian tiêu chảy; HQSDTA: Hiệu quả sử dụng
thức ăn.
Bảng 7. Kết quả kiểm tra bệnh tích đại thể ở niêm mạc ruột của lợn thí nghiệm
Nhóm TN n
Tổng điểm biến đổi bệnh lý ở niêm mạc ruột
x ± s Median Min - Max
ĐC 1 (B. hyodysenteriae) 15 8,8
c††
± 1,2 9,0 6,0-10,0
TN 1 (B. innocens ) 15 1,6
b*
± 1,2 2,0 0,0-3,0
TN2 (B. murdochii) 24 1,3
b*
± 1,1 2,0 0,0-3,0
TN3 (B. intermedia) 10 0,6
a
± 1,3 0,0 0,0-3,0
ĐC2 3 0,0 ± 0,0 0,0 0,0-0,0
Ghi chú: Các chữ cái khác nhau trong cùng một cột biểu thị sự sai khác thống kê giữa các nhóm thí nghiệm
với * = P <0,05, †† P< 0,001.
Hình 3. Niêm mạc ruột của lợn lô ĐC1
sau 13 ngày tiêu chảy
(viêm ruột hoại tử, niêm mạc bao phủ lớp màng giả
màu vàng (tương ứng với thang điểm 3))
Hình 4. Biến đổi đại thể ở niêm mạc ruột
già của lợn lô ĐC1 sau 4 ngày tiêu chảy
(niêm mạc dày, sung huyết, có fibrin
(thang điểm 2))
Ở hai nhóm nhiễm B. innocens và
B. murdochii, các biến đổi bệnh tích đại thể khá
nhỏ và không có sự sai khác thống kê (điểm:
1,58 ± 1,08 so với 1,6 ± 1,24). Tuy nhiên, sự khác
biệt đối với nhóm B. intermedia vẫn có ý nghĩa
(P <0,05). Niêm mạc ruột của lợn ở nhóm ĐC2
bình thường trong quá trình mổ khám.
3.5. Kết quả kiểm tra bệnh tích vi thể
Trong nhóm ĐC1, niêm mạc ruột già của
lợn lây nhiễm với B. hyodysenteriae có biểu hiện
viêm hoại tử với bề mặt niêm mạc phủ lớp màng
giả, fibrin và các vết loét hoại tử. Sự thâm nhập
của đại thực bào, bạch cầu trung tính và tế bào
lympho cũng được quan sát thấy (Hình 6). Tổng
điểm bệnh tích vi thể cao hơn rõ rệt ở cả tám
thông số kiểm tra (Bảng 8) và ở cả bốn đoạn
ruột (Hình 5) khi so sánh với nhóm ĐC2 và các
nhóm thí nghiệm với các Brachyspira dung
huyết yếu (P <0,05 đến P <0,001).
Ở các nhóm TN được lây nhiễm Brachyspira
dung huyết yếu (B. innocens, B. murdochii và B.
intermedia) và nhóm ĐC2, các biến đổi vi thể
rất nhỏ: Một số lợn thí nghiệm trong các nhóm
Nguyễn Thị Tuyết Lê, Anja Rothkamp, Frank Seeliger, Michael Wendt
895
này có biểu hiện viêm ruột lympho thể nhẹ, với
giãn và áp xe rãnh Lieberkuhn, xung huyết ở
lớp đệm niêm mạc. Các điểm loét nhỏ và sự tăng
số lượng tế bào viêm được quan sát thấy ở 3 con
lợn thí nghiệm thuộc nhóm TN1 B. innocens và
5 con thuộc nhóm TN2 nhiễm B. murdochii.
Trong một số trường hợp cũng quan sát thấy các
điểm lắng đọng fibrin nhỏ. Các biến đổi chủ yếu
ở van hồi tràng hoặc ruột già (Hình 7, 8). Số
lượng tế bào hình cốc (goblet cell) tăng nhẹ cũng
được tìm thấy ở 2 trong số những con lợn được
lây nhiễm B. murdochii.
4. THẢO LUẬN
Có rất nhiều yếu tố góp ảnh hưởng đến
triệu chứng lâm sàng của bệnh hồng lỵ do xoắn
khuẩn Brachyspira gây nên như thức ăn, các
yếu tố stress (mật độ nuôi cao, khí hậu chuồng
nuôi không phù hợp...), vệ sinh chuồng trại kém
(Jacobson & cs., 2004). Trong đó, Siba & cs.
(1996) đã phát hiện ra rằng, chế độ ăn giàu chất
xơ dẫn đến tỷ lệ mắc hồng lỵ cao nhất. Theo các
tác giả, do hàm lượng polysaccharid phi tinh bột
(NSP), oligosaccharid và các chất kháng tinh
bột cao trong khẩu phần đã kích thích quá trình
lên men ở ruột già do đó tạo điều kiện cho sự
xâm nhập của B. hyodysenteriae. Pluske & cs.
(1998) và Durmic & cs. (1998) cũng cho rằng, tốc
độ lên men của khẩu phần giàu xơ cao ở ruột già
kích thích hệ vi khuẩn hiệp đồng với B.
hyodysenteriae (các Fusobacterium spp) hoạt
động do đó tăng tỷ lệ mắc hồng lỵ. Ngoài ra,
hàm lượng protein cao trong khẩu phần có thể
ảnh hưởng tới sự phát triển của bệnh hồng lỵ
(Pluske & cs., 2002). Jacobson & cs. (2004) đã
chứng minh rằng, tỷ lệ khô đậu tương cao (50%)
trong khẩu phần là một trong những yếu tố
quan trọng ảnh hưởng tới tỷ lệ mắc hồng lỵ cũng
như sự phát triển triệu chứng lâm sàng trong
thí nghiệm lây nhiễm với Brachyspira. Nguyên
nhân là do hàm lượng NSP trong khô đậu tương
cao dẫn đến tăng quá trình lên men ở ruột già,
kích thích hệ VK ở ruột già phát triển, tạo điều
kiện thuận lợi cho Brachyspira. Như vậy, trong
nghiên cứu này, chúng tôi cũng sử dụng khẩu
phần có chứa 50% khô đậu tương cho lợn thí
nghiệm ăn liên tục trong 7 ngày với 4 ngày
trước khi lây nhiễm và trong 3 ngày lây nhiễm
VK. Tất cả lợn thí nghiệm cũng bị bỏ đói trong
quá trình lây nhiễm (chỉ được ăn 1 lần duy nhất
sau mỗi lần lây nhiễm) để tăng yếu tố stress
giúp cho vi khuẩn lây nhiễm có thể dễ dàng xâm
nhập và nhân lên trong đường ruột. Kết quả của
mô hình lây nhiễm này đã có hiệu quả tốt đối
với nhóm đối chứng dương ĐC1 khi tỷ lệ phân
lập lại mầm bệnh của nhóm này đạt 100%. Chỉ
sau 3 ngày lây nhiễm, một số con lợn thí nghiệm
của nhóm này đã xuất hiện các triệu chứng lâm
sàng điển hình của bệnh hồng lỵ như sốt cao,
tiêu chảy ra máu Các bệnh tích đại thể và vi
thể của nhóm ĐC1 cũng điển hình cho bệnh
hồng lỵ. Việc sử dụng khẩu phần có hàm lượng
protein cao cũng giúp rút ngắn thời gian ủ bệnh.
Lợn ở lô ĐC1 đã xuất hiện tiêu chảy rất sớm, chỉ
sau 3 ngày sau khi lây nhiễm.
Bảng 8. Kết quả đánh giá biến đổi bệnh tích vi thể của lợn thí nghiệm
Chỉ tiêu theo dõi ĐC1 (n = 15) TN1 (n = 15) TN2 (n = 24) TN3 (n = 10) ĐC2 (n = 3)
Tăng sinh niêm mạc ruột 3,21 ± 0,81 0,0 ± 0,0 0,0 ± 0,0 0,0 ± 0,0 0,0 ± 0,0
Giãn khe niêm mạc 5,28
a††
± 1,43 0,43
b
± 0,49 0,39
b
± 0,49 0,18
b
± 0,19 0,13 ± 0,23
Áp xe khe niêm mạc 1,73
c*
± 0,75 1,15
b*
± 0,44 0,92
b*
± 0,41 0,63
a
± 0,19 0,93 ± 0,23
Loét hoại tử 5,68
b††
± 1,21 0,04
a
± 0,08 0,09
a
± 0,14 0,0 ± 0,0 0,0 ± 0,0
Tăng số lượng TB cốc 3,09
b††
± 0,63 0,0 ± 0,0 0,03
a
± 0,07 0,0 ± 0,0 0,0 ± 0,0
Màng giả/fibrin 9,2
b††
± 2,07 0,01 ± 0,05 0,09
a
± 0,18 0,0 ± 0,0 0,0 ± 0,0
TB viêm ở lớp đệm 5,36
b††
± 1,24 0,32
a
± 0,43 0,38
a
± 0,52 0,0 ± 0,0 0,0 ± 0,0
Sung huyết 3,11
b††
± 1,19 1,32
a
± 0,85 0,95
a
± 0,83 0,88
a
± 0,67 0,20 ± 0,35
Ghi chú: Các chữ cái khác nhau trong cùng một hàng biểu thị sự sai khác thống kê giữa các nhóm TN với
*P <0,05, †† P <0,001
Ảnh hưởng của khẩu phần ăn giàu protein đến khả năng gây bệnh của ba loài Brachyspira dung huyết yếu ở lợn thịt
896
Ghi chú: Điểm mô học cho một vị trí ruột = tổng trung bình của tất cả các điểm cho 8 thông số, điểm tổng số tối
đa = 15) (các chữ cái khác nhau biểu thị sự khác biệt thống kê, * P <0,05, †† P <0,0001).
Hình 5. Điểm đánh giá biến đổi bệnh tích vi thể cho 4 vị trí khác nhau của ruột già
A. Đoạn trên ruột già sau 3 ngày tiêu chảy: viêm loét sâu với sự
xâm nhập TB viêm (*)
B. Ruột già của lợn sau 13 ngày tiêu chảy: lớp niêm mạc ruột
bị phá hủy, phủ fibrin (*); Giãn khe, áp xe với dịch nhầy (mũi
tên); Xâm nhiễm TB viêm ở lớp đệm
Hình 6. Biến đổi bệnh tích vi thể ở ruột già của lợn nhóm ĐC1
Đối với các nhóm lây nhiễm với VK
Brachyspira dung huyết yếu, mô hình sử dụng
khẩu phần ăn giàu protein đã có kết quả giúp các
chủng VK Brachyspira này có thể dễ dàng xâm
nhập vào niêm mạc ruột già sau lây nhiễm và
được thải ra ngoài theo phân với tỷ lệ cao, dao
động từ 75-100% nhưng không gây ra bệnh tiêu
chảy trên lâm sàng. Ở một số trường hợp riêng lẻ
(3 con lợn lây nhiễm với B. innocens, 8 con lây
nhiễm với B. murdochii) các dấu hiệu viêm đại
tràng với một số vết loét niêm mạc nhỏ, tích tụ
fibrin và tăng sản tế bào cốc ở những vị trí biệt
lập đã được quan sát thấy. Tuy nhiên, phần lớn
lợn của các lô TN này cũng chỉ có những thay đổi
ĐC1
B. hyodysenteria
Nhóm lây nhiễm
B. innocens
Nhóm lây nhiễm
B. intermedia
Nhóm lây nhiễm
B. murdochii
ĐC 2
Không lây nhiễm
Nguyễn Thị Tuyết Lê, Anja Rothkamp, Frank Seeliger, Michael Wendt
897
nhỏ ở ruột về mặt mô học, tương tự như nhóm đối
chứng âm ĐC2. Từ các kết quả trên, có thể thấy
các yếu tố như stress, thức ăn có liên quan đến sự
phát triển bệnh hồng lỵ ở lợn do
B. hyodysenteriae gây ra nhưng không có ảnh
hưởng rõ nét đối với quá trình phát triển bệnh
lâm sàng ở các nhóm TN với các Brachyspira
dung huyết yếu như B. innocens, B. murdochii và
B. intermedia. Hay nói cách khác, khả năng gây
bệnh của các loài Brachyspira dung huyết yếu
này vẫn chưa thể kết luận được dựa trên các kết
quả thu được ở trên.
5. KẾT LUẬN
Sử dụng khẩu phần ăn có 50% khô đậu
tương trong thí nghiệm lây nhiễm các loại
Brachyspira dung huyết yếu ở lợn sau cai sữa
đã có ảnh hưởng đến khả năng xâm nhập và
tăng sinh số lượng tế bào ở niêm mạc ruột của
lợn nhưng không ảnh hưởng đến quá trình phát
triển triệu chứng lâm sàng của bệnh hồng lỵ.
Các biến đổi bệnh lý đại thể và vi thể chỉ được
quan sát thấy ở một số trường hợp riêng lẻ,
không đại diện và điển hình cho bệnh hồng lỵ
khi so sánh với nhóm ĐC dương được lây nhiễm
với B. hyodysenteriae.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Durmic Z., Pethick D.W., Pluske J.R. & Hampson D.J.
(1998). Changes in bacterial populations in the
colon of pigs fed different sources of dietary fibre,
and the development of swine dysentery after
experimental infection. J. Appl. Microbiol.
85: 574-582.
Fellström C., Pettersson B., Jonhansson K.E.,
Lundeheim N. & Gunnarsson A. (1996).
Prevalence of Serpulina species in relation to
diarrhea and feed medication in pig rearing herds.
Am. J. Vet. Res. 57: 807-811.
Felltrup C., Verspohl J. & Amtsberg G. (1999). Zur
Diagnostik von Schweinedysenterie und
Spirochätendiarrhoe. 1. Mitteilung: Kulturell-
biochemische Differenzierung intestinaler
Serpulinen in der Routinediagnostik. Dtsch.
tierärztl. Wochenschr. 106: 189-228.
Girard C., Lemarchand T. & Hinggins R. (1995).
Porcine colonic spirochetosis: a retrospective study
of eleven cases. Can. Vet. J. 36: 291-294.
Hampson D.J. (2000). The Serpulina story. In: 16th Int.
Pig Vet. Soc. Congr., Melbourne, Australia, Proc.
S. pp. 1-5.
Hampson D.J. & Trott D.J. (1995). Intestinal
spirochaetal infections of pigs: An overview with an
Australian perspective In: Manipulating Pig
Production V, Australasian Pig Science Association,
Werribee, Victoria, Proc., S. pp. 139-169.
Jacobson M., Fellström C., Lindberg R., Wallgren P. &
Jensen-waeren M. (2004). Experimental swine
dysentery: comparison between infection models.
J. Med. Microbiol. 53: 273-280.
Jensen T.K. (2005). Application of fluorescent in situ
hybridisation for the diagnosis of Brachyspira spp.
In: 3rd Int.Conf. Colonic Spirochaetal Infections in
Animals and Humans, Parma, Italy, Proc., S. 20-21.
Hình 7. Biến đổi vi thể niêm mạc ruột của
lợn nhóm TN2: Niêm mạc loét và lắng đọng
fibrin (mũi tên); Xâm nhiễm TB lympho,
đại thực bào và plasma ở lớp đệm (*)
Hình 8. Biến đổi vi thể niêm mạc ruột của lợn
nhóm TN1: giãn khe niêm mạc ruột (mũi tên);
Xâm nhiễm TB lympho và bạch cầu ái toan (*)
Ảnh hưởng của khẩu phần ăn giàu protein đến khả năng gây bệnh của ba loài Brachyspira dung huyết yếu ở lợn thịt
898
Jensen T.K. & Boye M. (2005). Application of
immunohistochemistry and fluorescent in situ
hybridization for the detection of the porcine large
intestinal agents Lawsonia intracellularis, Porcine
Circo Virus type 2, Brachyspira hyodysenteriae,
Brachyspira pilosicoli, Brachyspira innocens,
Brachyspira murdochii and Brachyspira
intermedia. In: 3rd Int.Conf. Colonic Spirochaetal
Infections in Animals and Humans, Parma, Italy,
Proc., S. pp. 64-65.
Merialdi G., Bonilauri P., Dottori M. & Martelli P.
(2005). Brachyspira infections and enteric
disorders in pig: epidemiological update in Italy.
In: 3rd Int. Conf. Colonic Spirochaetal Infections in
Animals and Humans, Parma, Italy, Proc.,
S. pp. 34-35.
Ochiai S., Adachi Y. & Mori K. (1997). Unification of
the genera Serpulina and Brachyspira, and
proposals of Brachyspira hyodysenteriae comb.
nov., Brachyspira innocens comb. nov. and
Brachyspira pilosicoli comb. nov. Microbiol.
Immunol. 41: 445-452.
Pluske J.R., Pethick D.W., Hopwood D.E. & Hampson
D.J. (2002). Nutritional influences on some
majorenteric bacterial diseases of pigs. Nutr. Res.
Rev. 15: 333-371
Pluske J.R., Durmic Z., Pethick D.W., Mullan B.P. &
Hampson D.J. (1998). Confirmation of the role of
rapidly fermentable carbohydrates in the
expression of swine dysentery in pigs after
experimental infection. J. Nutr. 128: 1737-1744.
Rohde J., Rothkamp A. & Gerlach G.F. (2002).
Differentiation of porcine Brachspira species by a
novel nox-PCR-based restriction fragment length
polymorphism. J. Clin. Microbiol. 40: 2598-2600.
Rothkamp A., Rohde J. & Verspohl J. (2005).
Brachyspira spp. isolates from pig herds in N.
Germany in 2002-2004. In: 3rd Int. Conf. Colonic
Spirochaetal Infections in Animals and Humans,
Parma, Italy, Proc. S. pp. 28-29.
Siba P.M., Pethick D.W. & Hampson D.J. (1996). Pigs
experimentally infected with Serpulina
hyodysenteriae can be protected from developing
swine dysentery by feeding them a highly
digestible diet. Epidemiol. Infect. 116: 207-216
Stanton T.B. (1992). Proposal to change the genus
designation Serpula to Serpulina gen. nov.
containing the species Serpulina hyodysenteriae
comb. nov. and Serpulina innocens comb. nov. Int.
J. Syst. Bacteriol. 42: 189-190.
Stanton T.B., Fournie-Amazouz E., Postic D., Trott
D.J., Grimont P.A., Baranton G., Hampson D.J. &
Saint G. (1997). Recognition of two new species of
intestinal spirochetes: Serpulina intermedia sp.
nov. and Serpulina murdochii sp. nov. Int. J. Syst.
Bacteriol. 47: 1007-1012
Taylor D.J. & Trott u. D.J. (1997). Porcine intestinal
spirochaetosis and spirochaetal colitis. In: D.J.
HAMPSON u. T.B. STANTON (Hrsg.): Intestinal
spirochaetes in domestic animals and humans.
CAB International, Wallingford, England. S.
pp. 211-241.
Trott D.J., Stanton T.B., Jensen N.S., Duhamel G.E.,
Johnson J.L. & Hampson D.J. (1996). Serpulina
pilosicoli sp. nov., the agent of porcine intestinal
spirochetosis. Int. J. Syst. Bacteriol. 46: 206-215
Verspohl J., Feltrup C., Thiede S. & Amtsberg G.
(2001). Zur Diagnostik von Schweinedysenterie
und Spirochaetendiarrhoe. 3. Mitteilung:
Ergebnisse kulturell-biochemischer
Differenzierung intestinaler Brachyspiren in der
Routinediagnostik der Jahre 1997 bis 1999. Dtsch.
tierärztl Wochenschr. 108: 41-80
Wendt M., Bonitz A. & Mcorist S. (2000). Prevalence
of Lawsonia intracellularis infection in german
breeding herds. In: 16th Int. Pig Vet. Soc. Congr.,
Melbourne, Australia 2000, Proc., S. p. 27.
Wendt M., Johann R.S. & Verspohl J. (2006).
Epidemiologische Untersuchungen zum
Vorkommen von Lawsonia intracellularis-
Infektionen in Schweinebeständen. Tierärztl. Prax.
34: 230-239.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
anh_huong_cua_khau_phan_an_giau_protein_den_kha_nang_gay_ben.pdf