Khối lượng con sơ sinh: trong tất cả các lô
thí nghiệm, khối lượng con sơ sinh trung bình từ
94,02 đến 97,25 g/cá thể, không khác nhau đáng kể
giữa các nhóm và các công thức (p > 0,05); cao hơn
so với nghiên cứu trước (82–87 g/cá thể) [9], tương
đương với khối lượng con sơ sinh trong điều kiện
nuôi khi không sử dụng kích dục tố (95,16 g/cá thể)
[5]. Như vậy, liều lượng kích dục tố ở các công thức
trong nghiên cứu này không ảnh hưởng đến khối
lượng con sơ sinh.
Tỉ lệ sống sót: Kết quả theo dõi cho thấy, ở
lô đối chứng chỉ có 1 cầy mẹ ở nhóm 3 mang thai,
sinh con có tỉ lệ sống sót đạt 100%, cao hơn so với
tất cả các công thức thí nghiệm. Giữa các nhóm và
các công thức tiêm không có sự khác nhau đáng kể
về tỉ lệ sống của cầy sau 48 giờ và sau 1 tháng tuổi
(p > 0,05). Kết quả này cũng tương đương với tỉ lệ
sống sót sau một tuần (86,7%) của nghiên cứu
trước đây [9], và tỉ lệ sống sót sau một tháng có cao
hơn so với cầy sinh sản tự nhiên trong điều kiện
nuôi (80,83%). Như vậy, việc sử dụng kích dục tố
không làm ảnh hưởng đáng kể đến tỉ lệ sống sót
của cầy sơ sinh.
Cần tiếp tục theo dõi trong trường hợp có và
không tiêm kích dục tố ở những lần sinh sản kế tiếp
theo thời gian (1–2 năm) trên từng nhóm cầy thí
nghiệm, để đánh giá chỉ tiêu số lứa/năm và hiệu
quả kéo dài của việc sử dụng kích dục tố nhằm xây
dựng quy trình khuyến nghị phù hợp trong thực
tiễn chăn nuôi.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của kích dục tố lên động thái sinh dục và khả năng sinh sản của cầy vòi hương (paradoxurus hermaphroditus) chậm động dục, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 21–29, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5368 21
ẢNH HƯỞNG CỦA KÍCH DỤC TỐ LÊN ĐỘNG THÁI SINH DỤC VÀ
KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA CẦY VÒI HƯƠNG (Paradoxurus
hermaphroditus) CHẬM ĐỘNG DỤC
Nguyễn Thị Thu Hiền1,3* , Nguyễn Thị Phương Thảo2,3, Nguyễn Thanh Bình4
1 Khoa Khoa học tự nhiên, Trường Đại học Thủ Dầu Một, Bình Dương, Việt Nam
2 Viện Sinh học nhiệt đới – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 9/621 Xa Lộ Hà Nội, Thủ Đức,
Hồ Chí Minh, Việt Nam
3 Học viện Khoa học và công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 18 Hoàng Quốc Việt,
Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
4 Khoa Khoa học cơ bản và Y học cơ sở, Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, 2 Dương Quang Trung, Q.10, Hồ
Chí Minh, Việt Nam
* Tác giả liên hệ Nguyễn Thị Thu Hiền
(Ngày nhận bài: 16-8-2019; Ngày chấp nhận đăng: 01-01-2020)
Tóm tắt. Nghiên cứu này được thực hiện để đánh giá hiệu quả của kích dục tố (PMSG – pregnant mare
serum gonadotropin, HCG – human chorionic gonadotropin) lên thời gian xuất hiện, thời gian kéo dài
động dục và hiệu suất sinh sản trên đối tượng cầy vòi hương chậm động dục. Thí nghiệm được tiến
hành trên 54 cá thể cầy vòi hương cái và 42 cá thể cầy đực tại trung tâm Công nghệ sinh học tỉnh Đồng
Nai và trang trại động vật hoang dã Thanh Long. Chế phẩm PMSG/HCG (Gestavet –Vương quốc Anh)
được tiêm bắp theo 3 công thức CT1: 20 IU PMSG + 10 IU HCG; CT2: 30 IU PMSG + 15 IU HCG; CT3: 40
IU PMSG + 20 IU HCG. Kết quả cho thấy thời gian xuất hiện động dục trung bình từ 1,1 ngày đến 2,6
ngày sau khi tiêm kích dục tố. CT3 có tác động động dục sớm nhất. Thời gian động dục kéo dài từ 2,9
đến 3,9 ngày; thời gian động dục ngắn nhất ở CT1 và dài nhất ở CT3 (p < 0,05). Tỉ lệ cầy động dục và
mang thai tăng so với đối chứng ở tất cả các nhóm cầy thí nghiệm. Số con sinh ra trung bình từ 1,67 đến
3,25 con/lứa và cao nhất ở CT3 (p < 0,05). Khối lượng con sơ sinh từ 94,02 đến 97,25 g/cá thể. Kết quả cho
thấy có thể áp dụng công thức CT3 có hiệu quả cho việc điều trị sự chậm lên giống lần đầu ở cầy tơ và
trì hoãn động dục lại ở cầy cái sau khi sinh con.
Từ khóa: cầy vòi hương, động dục, HCG, PMSG, sinh sản
Effects of gonadotropin on oestrus and reproductive indicators of
delayed oestrus common palm civets (Paradoxurus hermaphroditus)
Nguyen Thi Thu Hien1,3*, Nguyen Thi Phuong Thao2,3, Nguyen Thanh Binh4
1 Faculty of Natural Sciences, Thu Dau Mot University, 6 Tran Van On St., Binh Duong, Vietnam
2 Institute of Tropical Biology– VAST, 9/621 Hanoi highway, Linh Trung Ward, Thu Duc District, HCM city
3 Graduate University of Science and Technology – VAST, 18 Hoang Quoc Viet Road, Hanoi, Vietnam
4 Facculty of Basic Medical Sciences – Pham Ngoc Thach University of Medicine, 02 Duong Quang Trung St.,
10 District, HCM city, Vietnam
* Correspondence to Nguyen Thi Thu Hien
(Received: 16 August 2019; Accepted: 01 January 2020)
Nguyễn Thị Thu Hiền và CS.
22
Abstract. This study evaluates the effectiveness of different doses of hormones (PMSG, HCG) at the time
of occurrence, duration of oestrus and reproductive performance of the delayed oestrus civets. The
experiment was conducted on 54 female civets and 42 male civets at Dong Nai Biotechnology Center
and Thanh Long Wildlife Farm. PMSG/HCG product (Gestavet – UK) was administered intramuscularly
in three formulations (CT), namely CT1: 20 IU PMSG + 10 IU HCG; CT2: 30 IU PMSG + 15 IU HCG; CT3:
40 IU PMSG + 20 IU HCG. The results show that the duration of oestrus averages from 1.1 days to 2.6
days after injecting sex hormones. CT3 had the earliest time of estrus. The duration of oestrus lasted from
2.9 to 3.9 days. The shortest estrous time was found at CT1 and the longest estrous time was at CT3 (p <
0.05). The ratio of oestrus and pregnancy increased compared with controls in all experimental civet
groups. The average number of civets born on the litter ranges from 1.67 to 3.25 civets/litter; CT3 always
had birth civets higher than that on the other formulas (p < 0.05). The average birth weight is from 94.02
to 97.25 g. Formulation CT3 could be applied effectively for the treatment on the first delays and delayed
oestrus of the common palm civets.
Keywords: common palm civets, oestrus, HCG, PMSG, reproduction
1 Mở đầu
Cầy vòi hương (Paradoxurus hermaphroditus),
thuộc họ Cầy (Viverridae), bộ ăn thịt (Carnivora),
là loài thú quý hiếm trong nhóm IIB. Việc săn bắt
và sử dụng cầy vòi hương với nhiều mục đích khác
nhau như lấy thịt, da, lông, hương liệu, sử dụng
trong sản xuất cà phê chồn cùng với việc sinh cảnh
bị mất hoặc phân mảnh đang làm cạn kiệt loài này
trong tự nhiên [1]. Bảo tồn, lưu giữ nguồn gen là
một trong những giải pháp khẩn cấp, thường
xuyên và lâu dài. Để bảo tồn bền vững nguồn gen
giống vật nuôi, việc khai thác và phát triển nguồn
gen là giải pháp hữu hiệu [2]. Hiện nay, ở Việt Nam
đã có nhiều trang trại chăn nuôi cầy vòi hương,
nhằm mục đích kinh tế và góp phần giữ gìn sự đa
dạng sinh học. Các nghiên cứu về đặc điểm sinh
trưởng, các chỉ số sinh lý, sinh hoá máu, nước tiểu
và đánh giá các chỉ số hormone sinh dục trên cầy
vòi hương đã được thực hiện [3-7]. Nguyễn Thị
Thu Hiền và cộng sự nghiên cứu về đặc điểm sinh
sản của cầy trong điều kiện nuôi cho thấy, sự chậm
lên giống lần đầu và chậm động dục lại làm giảm
hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi cầy vòi hương [5].
Do đó, trong công tác quản lý con giống và hoàn
thiện quy trình gây nuôi cầy vòi hương, việc tăng
năng suất sinh sản của chúng rất cần được chú ý.
Các nghiên cứu sử dụng gonadotrophin
huyết thanh của ngựa mang thai (PMSG –
pregnant mare serum gonadotropin) và
gonadotropin màng đệm ở người (HCG – human
chorionic gonadotropin) để điều trị chậm động dục
đã được thực hiện phổ biến trên nhóm vật nuôi
truyền thống gồm cừu, dê, lợn và bò. Sử dụng kết
hợp PMSG và HCG với liều lượng và thời gian
thích hợp có tác dụng trong việc kích thích gây bài
noãn, tăng cường khả năng sinh sản ở thú cái [8].
Việc nghiên cứu sử dụng kích dục tố trên động vật
hoang dã được thuần dưỡng còn khá khiêm tốn.
Mở đầu cho hướng nghiên cứu này, sử dụng kết
hợp PMSG và HCG trên dúi mốc lớn (Rhizomys
pruinosus) cho thấy đã cải thiện khả năng sinh sản
trong điều kiện nuôi nhốt [9]. Ở một nghiên cứu
khác, Nguyễn Thanh Bình đã đánh giá ảnh hưởng
của HCG và PMSG đến kết quả sinh sản của cầy
vòi hương (Paradoxurus hermaproditus). Kết quả cho
thấy việc sử dụng kích dục tố có cải thiện đáng kể
khả năng sinh sản của cầy vòi hương ở các chỉ tiêu
số con mang thai và số con sinh ra trên lứa. Điều
này có ý nghĩa trong việc tăng số lượng cầy trong
điều kiện nuôi nhốt và là cơ sở khoa học đáng tin
cậy để tiếp tục thực hiện các nghiên cứu tiếp theo
đánh giá ảnh hưởng của việc sử dụng kích dục tố
trên loài này [10]. Tuy nhiên, mục đích của nghiên
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 21–29, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5368 23
cứu này là gây động dục hàng loạt và cải thiện sinh
sản trên nhóm cầy cái sinh sản bình thường; chưa
tập trung hướng đến nhóm chậm lên giống lần đầu
và chậm động dục lại sau khi sinh con. Vì vậy,
chúng tôi tiếp tục đánh giá ảnh hưởng của kích dục
tố lên động thái sinh dục và khả năng sinh sản của
cầy vòi hương ở nhóm động vật cần điều trị hỗ trợ
sinh sản nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi để vừa
khai thác, vừa bảo tồn loài động vật quý này.
2 Vật liệu và phương pháp
2.1 Chuồng trại, thức ăn
Chuồng trại: Chuồng được xây bằng gạch
cao 50 cm, bên trên là lưới B40, lợp mái tôn, có nền
tráng xi măng với độ dốc giúp thoát nước tiểu và
nước trong quá trình dọn vệ sinh. Mỗi ô chuồng có
kích thước 1 × 1 × 1,2 m. Chuồng trại được rửa sạch
bằng vòi nước hằng ngày. Công tác vệ sinh sát
trùng được tiến hành 1 tháng/lần [3-7].
Thức ăn và nước uống: Cầy được cho ăn 2
bữa/ngày đêm (24 giờ), gồm 1 bữa chính (khoảng lúc
18 giờ) và 1 bữa phụ (khoảng lúc 11–12 giờ trưa). Bữa
chính gồm cháo hoặc cơm được nấu với các thành
phần khác nhau như cá, nội tạng, đầu gà. Bữa phụ
gồm trái cây các loại, chủ yếu là chuối, đu đủ, dưa hấu.
Khối lượng thức ăn hàng ngày cho mỗi cá thể cầy nặng
3 kg là 400–700 g; tổng lượng qui đổi cung cấp cho 1
con/ngày đêm gồm năng lượng trao đổi (ME): 450 kcal,
protein thô (CP): 18 g, lipid: 3 g và chất khô (DM)
105 g. Nước uống được đặt trong chuồng để cầy tự
uống. Chén nước được vệ sinh hằng ngày và thay
nước 1 lần/ngày [3-7].
2.2 Vật liệu
Tổng số 54 cá thể cầy vòi hương cái trưởng
thành, sau khi khảo sát được phân thành 3 nhóm:
– Nhóm 1: Cầy tơ chậm lên giống lần đầu (sau
24 tháng tuổi chưa thấy biểu hiện động dục); n = 14.
– Nhóm 2: Cầy cái chậm động dục lại (sau khi
sinh 12 tháng chưa thấy biểu hiện động dục lại); n = 15.
– Nhóm 3: Cầy sinh sản hiệu quả thấp (<1
lứa/năm; số con trên lứa ít: 1–2 con/lứa); n = 25.
Loại hormone sinh sản sử dụng: Hỗn hợp
PMSG/HCG (tỉ lệ 2:1) với tên thương mại là
Gestavet (Vương quốc Anh). Mỗi lọ chứa 400 IU
PMSG/200 IU HCG khô lạnh và lọ chứa 5 mL dung
môi cho dung dịch tiêm.
2.3 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Trung tâm
Ứng dụng Công nghệ sinh học Đồng Nai tại xã
Xuân Đường, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai và
Trang trại động vật hoang dã Thanh Long, Thủ
Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian nghiên
cứu là từ tháng 2 năm 2016 đến tháng 6 năm 2018.
2.4 Phương pháp
Chỉ tiêu khảo sát
Thời gian xuất hiện động dục và thời gian kéo
dài động dục của cầy vòi hương cái sau khi tiêm
PMSG và HCG; Tỉ lệ cầy vòi hương cái động dục (số
con động dục/tổng số con được điều trị); Tỉ lệ cầy vòi
hương cái mang thai (số con mang thai/ tổng số con
được điều trị); Số cầy vòi hương sơ sinh trung bình
trên lứa; Khối lượng trung bình của con sơ sinh; Tỉ lệ
cầy vòi hương còn sống sau 48 giờ và sau 1 tháng (số
con còn sống/ tổng số con sinh ra).
Các công thức tiêm hormone sinh sản
Lô đối chứng (ĐC): Không tiêm; Lô thí
nghiệm 1 (CT1): 20 IU PMSG + 10 IU hCG; Lô thí
nghiệm 2 (CT2): 30 IU PMSG + 15 IU hCG; Lô thí
nghiệm 3 (CT3): 40 IU PMSG + 20 IU hCG.
Thí nghiệm được thực hiện ở tất cả các công
thức đối với cầy ở ba nhóm. Mỗi lô thí nghiệm có
từ ba cá thể cầy trở lên.
Quy trình tiêm
Các con cái được chích bắp (IM) vào lúc 8 giờ
sáng, không tính đến chu kỳ động dục. Việc sử dụng
kích dục tố và ghép đôi thực hiện vào khoảng tháng 2
đến tháng 4, phù hợp với mùa sinh sản của cầy trong
tự nhiên [1, 5]. Sau 24 giờ kể từ khi tiêm hỗn hợp PMSG
và HCG, cầy cái được ghép đôi với con đực khoẻ mạnh
trong thời gian 3–4 ngày. Theo dõi các biểu hiện động
dục và xác định có sự giao phối.
Nguyễn Thị Thu Hiền và CS.
24
Bố trí thí nghiệm
Cầy cái và cầy đực được xếp vào các ô
chuồng nuôi xen kẽ; mỗi ô chuồng gắn bảng tên để
theo dõi trong suốt quá trình thí nghiệm. Cầy được
bố trí vào các công thức thí nghiệm theo phương
pháp bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên.
Phương pháp xác định động dục
Quan sát bằng camera: theo dõi sự thay đổi
hành vi: di chuyển, leo trèo quanh chuồng của cầy
vòi hương cái sau khi tiêm kích dục tố; sự thay đổi
hành vi của các cầy đực ở ô chuồng bên cạnh theo
thời gian.
Quan sát bằng mắt: theo dõi các biểu hiện về
thay đổi hành vi ăn uống, tiểu tiện, tiết dịch ở cơ
quan sinh dục ngoài, phát tiếng kêu Dữ liệu về
hành vi được thu thập bằng cách quan sát ít nhất 2
lần/ngày (từ ngày –2 (trước khi tiêm 2 ngày); ngày
bắt đầu tiêm (ngày 0) và đến ngày 8 sau tiêm); mỗi
lần quan sát kéo dài tối thiểu 30 phút.
Ngày xuất hiện động dục được định nghĩa
là ngày mà lần đầu thấy các biểu hiện khác thường
như sau: cầy cái ăn ít hoặc bỏ ăn, phát tiếng kêu
nhiều lần, đi lại thường xuyên quanh chuồng (kể
cả ban ngày), quan sát kỹ thấy tiểu tiện nhiều lần,
có thể có chất dịch màu vàng đục tiết ra ở cơ quan
sinh dục ngoài. Trong khoảng thời gian cầy cái
động dục, các cầy đực thường chồm lên thành
chuồng và quan sát về ô chuồng của con cái đang
lên giống [5].
Bảng 1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm tiêm kích dục tố
Lô thí nghiệm ĐC CT1 CT2 CT3
Nhóm 1 (n = 14) 3 4 4 3
Nhóm 2 (n = 15) 3 4 4 4
Nhóm 3 (n = 25) 3 7 7 8
Đơn vị tính: số con
2.5 Xử lý số liệu
Các tham số thống kê: giá trị trung bình cộng
(Mean); độ lệch chuẩn (SD); phân tích ANOVA
một nhân tố với mức ý nghĩa α = 0,05 được xử lý
bằng phần mềm MS-Excel 2013.
3 Kết quả và thảo luận
3.1 Thời gian xuất hiện các biểu hiện và kéo
dài động dục
Kết quả theo dõi thời gian xuất hiện các biểu
hiện động dục và kéo dài động dục trên các nhóm
cầy thí nghiệm được trình bày trên Hình 1 và
Hình 2.
Ở tất cả các nhóm thí nghiệm, thời gian xuất
hiện động dục trung bình là từ 1,1 ngày (CT3 ở
nhóm 2) đến 2,6 ngày (CT1 ở nhóm 2 và nhóm 3)
sau khi tiêm kích dục tố. Trong đó, CT3 luôn có
thời gian xuất hiện động dục sớm nhất (1–1,5 ngày)
(p < 0,05).
Hình 1. Ngày xuất hiện động dục sau khi tiêm kích dục tố
Hình 2. Thời gian kéo dài động dục
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 21–29, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5368 25
Thời gian kéo dài động dục ở tất cả các công
thức từ 2,9 đến 3,9 ngày; trong đó thời gian ngắn
nhất là ở CT1 và dài nhất là ở CT3. Thời gian này
dài hơn so với thời gian biểu hiện động dục ở cầy
không tiêm kích dục tố vào mùa sinh sản (–3 ngày).
Phân tích ANOVA cho thấy, có sự khác biệt thống
kê (p < 0,05) về thời gian xuất hiện động dục và thời
gian kéo dài động dục giữa các công thức trong
từng nhóm cầy thí nghiệm. CT3 luôn có thời gian
xuất hiện động dục sớm nhất và thời gian kéo dài
động dục lâu nhất. Ở cầy vòi hương, nếu ghép đôi
không đúng thời điểm cầy cái động dục chúng sẽ
cắn nhau gây thương tích [5]. Do vậy, đây chính là
lưu ý quan trọng trong chăn nuôi cầy khi sử dụng
kích dục tố để ghép đôi kịp thời sau khi điều trị.
Trong một nghiên cứu khác, hàm lượng
estradiol (E2) ở cầy vòi hương tăng lên sau khi tiêm
kích dục tố 1 ngày, đạt đỉnh ở ngày thứ 2 và giảm
dần vào ngày thứ 3 [6]. Tương quan của sự thay
đổi hàm lượng E2 và biểu hiện động dục ở cầy sau
khi tiêm kích dục tố có thể giải thích do vai trò của
PMSG tương tự FSH trong việc kích thích và phát
triển nang trứng bằng cách gắn kết với các thụ thể
protein G được biểu hiện riêng trên các tế bào hạt
(granular cells – GC), và chức năng tương tự LH
đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá
trình tạo ra steroid và phát triển trứng [11]. Dưới
tác dụng của PMGS có vai trò tương tự LH và FSH
làm trứng chín, sau đó HCG có vai trò như LH kích
thích sự rụng trứng, thúc đẩy sự tổng hợp và
phóng thích hormone buồng trứng (estrogen và
progesrerone). Sự thay đổi E2, tăng cao đạt đỉnh sẽ
kích thích sự phát triển cơ trơn thành tử cung, tăng
cường lớp biểu mô tuyến của tử cung để sẵn sàng
đón nhận trứng thụ tinh, mức độ kích dục gia tăng
và kéo theo biểu hiện động dục [8]. Theo Murphy,
nhiều nghiên cứu cho thấy HCG dùng một mình
trong giai đoạn nang trứng không thúc đẩy phát
triển nang trứng và rụng trứng, do đó chỉ ra rằng
HCG không có tác dụng khi không có FSH. Ngược
lại, một số thử nghiệm đã chứng minh rằng PMSG
gây ra đáp ứng buồng trứng, nhưng nỗ lực gây
rụng trứng không thành công [8]. Do vậy, sự kết
hợp PMSG và HCG trong nghiên cứu này đã làm
xuất hiện động dục và kéo dài thời gian động dục
ở cầy vòi hương, đặc biệt ở CT3.
3.2 Kết quả sử dụng các công thức hormone
lên một số chỉ tiêu sinh sản
Kết quả theo dõi hiệu quả sinh sản sau khi
tiêm kích dục tố được trình bày qua Bảng 2 đến
Bảng 5.
Bảng 2. Kết quả theo dõi hiệu quả sinh sản sau khi tiêm kích dục tố của Nhóm 1
Lô thí nghiệm Đơn vị ĐC CT1 CT2 CT3
Số lượng Con 3 4 4 3
Số cầy động dục Con 0 3 3 3
% 0,00 75,00a 75,00a 100,00b
Số cầy mang thai Con 0 2 2 2
% 0,00 50,00a 50,00a 66,67b
Số con non/ lứa (Mean ± SD) Con/lứa
1,67 ± 0,47a 2,33 ± 0,47b 3,21 ± 0,53c
Khối lượng con sơ sinh (Mean ± SD) g
97 ± 2,16 95,67 ± 2,62 93 ± 1,63
Tỉ lệ sống sót sau 48 giờ %
80,00a 85,71b 83,33b
Tỉ lệ sống sót sau 1 tháng %
80,00a 85,71b 80,00a
Ghi chú: Sự khác nhau của các ký tự a, b, c trong cùng một hàng thì sự khác nhau có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) theo kiểm định
t-test với mức ý nghĩa α = 0,05, ĐC: đối chứng, CT1: Công thức 1, CT2: Công thức 2, CT3: Công thức 3
Nguyễn Thị Thu Hiền và CS.
26
Tỉ lệ cầy động dục và tỉ lệ cầy mang thai:
Kết quả cho thấy, tỉ lệ cầy động dục tăng so với đối
chứng ở tất cả các nhóm cầy thí nghiệm. Ở nhóm 1
và nhóm 2 có tỉ lệ động dục là 75% (CT1 và CT2),
cao nhất là 100% ở CT3. Tỉ lệ động dục ở nhóm 3
lần lượt là 85,71% (CT1 và CT2), 87,5% (CT3), cao
hơn đáng kể so với lô đối chứng (33,33%). Theo dõi
tỉ lệ cầy mang thai so với số cầy điều trị được ghép
đôi giao phối cho thấy, ở CT1 và CT2 có tỉ lệ tương
đương nhau (nhóm 1 là 50%, nhóm 2 là 75% và
nhóm 3 là 71,43%). Tỉ lệ cầy mang thai cao nhất ở
CT3 với tỉ lệ lần lượt là 66,67% (nhóm 1), 100%
(nhóm 2) và 75,0% (nhóm 3). Như vậy, tỉ lệ cầy
động dục và cầy mang thai ở CT3 luôn cao hơn so
với các công thức còn lại (p < 0,05). So với kết quả
nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình, tỉ lệ cầy mang
thai trong nghiên cứu này cao hơn so với lô thí
nghiệm với liều tiêm 10 IU PMSG và 10 IU HCG
(33,3%); thấp hơn ở CT1, CT2, tương đương ở CT3
so với lô thí nghiệm có liều tiêm 20 IU PMSG và 20
IU HCG (tỉ lệ mang thai là 100%) [9]. Điều này có
thể giải thích, nhóm 1 và nhóm 2 là hai đối tượng
chậm động dục lần đầu và chậm động dục lại cần
điều trị. Trong khi đó, đối tượng trong nghiên cứu
trước đó là nhóm cầy bình thường về mặt sinh sản.
Khi so sánh với tỉ lệ cầy mang thai trong điều kiện
nuôi mà không sử dụng kích dục tố (66,67%) thì kết
quả trong nghiên cứu này đều tương đương hoặc
cao hơn đáng kể [5].
Số con sinh ra trên lứa: Kết quả theo dõi cho
thấy, trong tất cả các nhóm thí nghiệm, số con trên
lứa thấp nhất ở CT1 (1,67 con/lứa ở nhóm 1; 3,25
con/lứa ở nhóm 2 và 3,2 con/lứa ở nhóm 3) và cao
nhất ở CT3 (3,21 con/lứa ở nhóm 1; 3,75 con/lứa ở
nhóm 2 và 3,5 con/lứa ở nhóm 3). Kết quả này cũng
phù hợp với kết quả theo dõi về hàm lượng
hormone estradiol và progesterone sau khi tiêm
kích dục tố [6]. Liều tiêm với PMSG cao hơn làm
tăng sự sản xuất hormone và lượng trứng rụng,
nên tăng số con sinh ra. Số con trên lứa trung bình
ở tất cả các công thức đều cao hơn vượt bậc so với
lô đối chứng, và cao hơn đáng kể so với tỉ lệ sinh
trong điều kiện nuôi khi không sử dụng kích dục
tố (2,38 con/lứa), tương đương so với tỉ lệ sinh
ngoài tự nhiên (cầy đẻ 2–4 con/lứa) [1], theo Nelson
(2013) là 2–5 con, trung bình 3,4 con/ lứa [12] . Kết
quả này tương đương so với kết quả nghiên cứu
trước đây (3–4 con/lứa) [9]. Như vậy, việc sử dụng
kết hợp PMSG và HCG đã cải thiện đáng kể số con
sinh ra, đặc biệt ở CT.
Bảng 3. Kết quả theo dõi hiệu quả sinh sản sau khi tiêm kích dục tố của Nhóm 2
Lô thí nghiệm Đơn vị ĐC CT1 CT2 CT3
Số lượng Con 3 4 4 4
Số cầy động dục Con 0 3 3 4
% 0,00 75,00a 75,00a 100,00b
Số cầy mang thai Con 0 3 3 4
% 0,00 75,00a 75,00a 100,00b
Số con non/ lứa (Mean ± SD) Con/lứa 3,25 ± 0,83a 3,5 ± 0,50b 3,75 ± 0,83c
Khối lượng con sơ sinh (Mean ± SD) g 97,25 ± 3,11 95,75 ± 0,83 94,25 ± 2,59
Tỉ lệ sống sót sau 48 giờ % 88,89a 90,00a 100,00b
Tỉ lệ sống sót sau 1 tháng %
88,89a 80,00b 81,82b
Ghi chú: Sự khác nhau của các ký tự (a, b, c) trong cùng một hàng thì sự khác nhau có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), theo kiểm định
t-test với mức ý nghĩa α = 0,05
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 21–29, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5368 27
Khối lượng con sơ sinh: trong tất cả các lô
thí nghiệm, khối lượng con sơ sinh trung bình từ
94,02 đến 97,25 g/cá thể, không khác nhau đáng kể
giữa các nhóm và các công thức (p > 0,05); cao hơn
so với nghiên cứu trước (82–87 g/cá thể) [9], tương
đương với khối lượng con sơ sinh trong điều kiện
nuôi khi không sử dụng kích dục tố (95,16 g/cá thể)
[5]. Như vậy, liều lượng kích dục tố ở các công thức
trong nghiên cứu này không ảnh hưởng đến khối
lượng con sơ sinh.
Tỉ lệ sống sót: Kết quả theo dõi cho thấy, ở
lô đối chứng chỉ có 1 cầy mẹ ở nhóm 3 mang thai,
sinh con có tỉ lệ sống sót đạt 100%, cao hơn so với
tất cả các công thức thí nghiệm. Giữa các nhóm và
các công thức tiêm không có sự khác nhau đáng kể
về tỉ lệ sống của cầy sau 48 giờ và sau 1 tháng tuổi
(p > 0,05). Kết quả này cũng tương đương với tỉ lệ
sống sót sau một tuần (86,7%) của nghiên cứu
trước đây [9], và tỉ lệ sống sót sau một tháng có cao
hơn so với cầy sinh sản tự nhiên trong điều kiện
nuôi (80,83%). Như vậy, việc sử dụng kích dục tố
không làm ảnh hưởng đáng kể đến tỉ lệ sống sót
của cầy sơ sinh.
Cần tiếp tục theo dõi trong trường hợp có và
không tiêm kích dục tố ở những lần sinh sản kế tiếp
theo thời gian (1–2 năm) trên từng nhóm cầy thí
nghiệm, để đánh giá chỉ tiêu số lứa/năm và hiệu
quả kéo dài của việc sử dụng kích dục tố nhằm xây
dựng quy trình khuyến nghị phù hợp trong thực
tiễn chăn nuôi.
Bảng 4. Kết quả theo dõi hiệu quả sinh sản sau khi tiêm kích dục tố của Nhóm 3
Lô thí nghiệm Đơn vị ĐC CT1 CT 2 CT 3
Số lượng Con 3 7 7 8
Số cầy động dục Con 1 6 6 7
% 33,33a 85,71b 85,71b 87,50c
Số cầy mang thai Con 1 5 5 6
% 33,33a 71,43b 71,43b 75,00c
Số con non/ lứa (Mean ± SD) Con/lứa 2 ± 0a 3,2 ± 0,75b 3,4 ± 0,75b 3,5 ± 0,96b
Khối lượng con sơ sinh (Mean ± SD) g 95,5 ± 1,50 94,2 ± 1,72 95,75 ± 3,71 94,8 ± 3,35
Tỉ lệ sống sót sau 48 giờ % 100,00a 90,91b 83,33c 86,67b
Tỉ lệ sống sót sau 1 tháng % 100,00a 81,82b 81,82b 86,67b
Ghi chú: Sự khác nhau của các ký tự a, b, c trong cùng một hàng thì sự khác nhau có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), theo kiểm định
t-test với mức ý nghĩa α = 0,05.
Bảng 5. Tổng hợp kết quả theo dõi hiệu quả sinh sản sau khi tiêm kích dục tố
Lô thí nghiệm Đơn vị ĐC CT1 CT2 CT3
Số lượng Con 9 15 15 15
Số cầy động dục Con 1 12 13 14
% 11,11a 80,00b 86,67c 93,33d
Số cầy mang thai Con 1 10 11 12
% 11,11a 66,67b 73,33c 86.67d
Nguyễn Thị Thu Hiền và CS.
28
Lô thí nghiệm Đơn vị ĐC CT1 CT2 CT3
Số con non/ lứa (Mean ± SD) Con/lứa 2 ± 0a 3,04 ± 0,47b 3,41 ± 0,66c 3,53 ± 0,90c
Khối lượng con sơ sinh (Mean ± SD) g 95,5 ± 1,50 96,15 ± 2,14 95,72 ± 2,17 94,02 ± 3,35
Tỉ lệ sống sót sau 48 giờ % 100,00a 86,60b 86,35b 90,00b
Tỉ lệ sống sót sau 1 tháng % 100,00a 83,57b 82,57b 82,83b
Ghi chú: Sự khác nhau của các ký tự a, b, c, d trong cùng một hàng thì sự khác nhau có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), theo kiểm định
t-test với mức ý nghĩa α = 0,05.
4 Kết luận
Ở cầy vòi hương, sử dụng kích dục tố là một
giải pháp hữu ích để có thể nâng cao hiệu quả sinh
sản của nhóm chậm động dục trong điều kiện nuôi.
Kết hợp PMSG và HCG làm xuất hiện động dục
nhanh và kéo dài; tỉ lệ cầy động dục và mang thai
tăng. Số con sinh ra từ 1,67 đến 3,25 con/lứa, tỉ lệ
con sống sót trên 80%. Hiệu quả sinh sản đạt cao
nhất ở công thức 40 IU PMSG và 20 IU HCG. Kết
quả này cung cấp giá trị tham khảo đáng tin cậy
trong nghiên cứu và đóng góp vào những nỗ lực
của các kỹ thuật trợ hỗ sinh sản trên cầy vòi hương
trong điều kiện nuôi.
Lời cảm ơn:
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Trung tâm
Công nghệ sinh học Đồng Nai và Trang trại động
vật hoang dã Thanh Long đã tạo điều kiện thuận
lợi trong quá trình nghiên cứu.
Tài liệu tham khảo
1. Bình NT. Ảnh hưởng của kích dục tố hCG và PMSG
đến một số thành tích sinh sản trên dúi mốc lớn
(Rhizomys pruinosus Blyth, 1851) trong điều kiện
nuôi nhốt. Tạp chí Khoa học kỹ thuật chăn nuôi.
2016;XXII(203):72-77.
2. Hiền NTT, Thảo NTP, Bình NT. Một số đặc điểm
sinh trưởng của cầy vòi hương (Paradoxurus
hermaphroditus Pallas, 1777) trong điều kiện nuôi
nhốt. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Tự
nhiên và Công nghệ. 2017;33(1S):207-213.
3. Hien NTT, Thao NTP, Binh NT. Study on
hematological parameters of common palm civets
(Paradoxurus hermaphroditus Pallas, 1777) in
captivity. Journal of biotechnology. 2017;15(3A):71-
76.
4. Hiền NTT, Thảo NTP, Bình NT. Một số đặc điểm
sinh sản của cầy vòi hương (Paradoxurus
hermaphroditus Pallas, 1777) trong điều kiện nuôi
nhốt. Trong: Báo cáo Hội nghị khoa học toàn quốc
về sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ 7. Hội
nghị khoa học toàn quốc về sinh thái và tài nguyên
sinh vật lần thứ 7; ngày 20 tháng 10 năm 2017; Hà
Nội. Hà Nội (Việt Nam): Nxb Khoa học Tự nhiên và
Công nghệ; 2017. tr.694-701.
5. Hien NTT, Thao NTP, Binh NT. A non-invasive
technique to monitor reproductive hormone levels
in common palm civets, Paradoxurus hermaphroditus
Pallas, 1777. Academia Journal of Biology.
2018;40(3):74-81.
6. Hien NTT, Thao NTP, Binh NT. A non-invasive
technique to monitor reproductive hormone levels
in common palm civets, Paradoxurus hermaphroditus
Pallas, 1777. Academia Journal of Biology.
2018;40(3): 74-81.
7. Hien NTT, Thao NTP, Binh NT. Blood and urinary
biochemical parameters of the Commom Palm
Civets (Paradoxurus hermaphroditus, Pallas 1777) in
captivity, Journal of Animal Husbandry Sciences
and Technics. 2018;235:90-96.
8. Leao R, Esteves S. Gonadotropin therapy in assisted
reproduction: an evolutionary perspective from
biologics to biotech. Clinics. 2014;69(4):279-293.
9. Global Plan of Action for Animal Genetic Resources
and the Interlaken Declaration. Rome: FAO; 2007.
10. Huỳnh ĐH, Ảnh PT, Cảnh LX, Đặng NX, Khiên HM,
Phương ĐH. Thú rừng – Mammalia Việt Nam: hình
thái và sinh học sinh thái một số loài, tập II. Hà Nội:
Nxb Khoa học tự nhiên và Công nghệ; 2010.
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 21–29, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5368 29
11. Bình NT. Ảnh hưởng của kích dục tố hCG và PMSG
đến kết quả sinh sản của cầy vòi hương Paradoxurus
hermaproditus trong điều kiện nuôi nhốt. Tạp chí
KHKT Thú y. 2015;17(8):54-57.
12. Nelson J. Paradoxurus hermaphroditus [Internet].
Michigan: University of Michigan, Animal Diversity
Web; 2013 [2017 May 23]. Available from: https://
animaldiversity.org/accounts/Paradoxurus_hermap
hroditus
Các file đính kèm theo tài liệu này:
anh_huong_cua_kich_duc_to_len_dong_thai_sinh_duc_va_kha_nang.pdf