Ảnh hưởng của độ dài hạt gốm xốp đến
năng suất, chất lượng của cây tía tô
Trong nghiên cứu này, các yếu tố năng suất
và chất lượng của cây tía tô, bao gồm lượng chất
khô tích lũy, năng suất, phẩm cấp của lá cũng
đã được xem xét giữa 5 công thức giá thể với
kích thước hạt gốm xốp khác nhau (Hình 2). Kết
quả từ bảng 5 cho thấy ở giai đoạn 30-60 ngày
sau trồng, khả năng tích lũy chất khô của cây
tía tô khá cao, công thức G2 và G3 tỏ ra ưu thế
nhất so với các công thức còn lại, với lượng rễ
khô tích lũy lần lượt là 4,3 và 4,0 g/cây, thân
khô lần lượt là 7,46 và 6,79 g/cây và lá khô lần
lượt là 7,23 và 6,99 g/cây (Bảng 5, Hình 2). Sau
giai đoạn này, khả năng tích lũy chất khô ở rễ ở
các công thức vẫn tiếp tục tăng, có xu hướng đạt
ổn định ở giai đoạn 150 ngày sau khi trồng, ở
các công thức dao động từ 4,01-4,24 g/cây, thấp
nhất là công thức G5 và cao nhất ở công thức
G2, sự sai khác về khả năng tích lũy chất khô
của các công thức có ý nghĩa ở độ tin cậy 95%
(Bảng 5, Hình 2).
Tương tự với sự phát triển của bộ phận
dưới mặt đất, khả năng tích lũy chất khô ở các
bộ phận trên mặt đất cũng thể hiện xu hướng
tăng tương ứng. Giai đoạn phát triển mạnh
nhất của thân cây tía tô được ghi nhận ở giai
đoạn từ 60-90 ngày sau trồng, hàm lượng
chất khô đạt cao nhất ở công thức G2 tăng
10,51 g/cây, G3 tăng 9,96 g/cây, G4 tăng
9,54 g/cây, G5 tăng 8,8 g/cây và thấp nhất là
công thức G1 (8,58 g/cây) (Bảng 5). Bộ lá của
tía tô phát triển mạnh ở giai đoạn 30-60 ngày
sau trồng, đạt cực đại từ 60-90 ngày sau trồng,
cao nhất là công thức G2 tăng 19,99 g/cây
(Bảng 5). Điều này có thể được giải thích do
việc phối trộn phụ gia với hạt gốm xốp có kích
thước dài (4-5cm, tương ứng với công thức G4
và G5) không đều, các hạt gốm xếp chồng chéo
nhau tạo độ rỗng, sau một thời gian dưới tác
động của nước mưa, nước tưới, đất lọt dần qua
các khe rỗng đó và nén dần xuống đáy chậu,
khi bộ rễ phát triển qua các tầng gốm xốp
xuống đến phần gần đáy chậu gặp lớp đất chặt
dí phía dưới nên bộ rễ phát triển kém hơn, khả
năng hút nước và chất dinh dưỡng ít hơn.
Trong khi đó, ở công thức G2 và G3 các hạt
gốm có độ dài vừa phải, dễ phối trộn và trộn
đều với đất và mùn trấu hun, dưới tác động của
nước tưới và nước mưa kết cấu vật lý của chậu
giá thể trồng cây không bị thay đổi, bộ rễ phát
triển thuận lợi từ trên xuống dưới đáy chậu
luôn hút được nước và chất dinh dưỡng trong
suốt quá trình sinh trưởng, phát triển nên
năng suất của cây cao hơn.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 8 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của kích thước hạt gốm xốp đến sinh trưởng và năng suất của tía tô (perilla frutescens), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Vietnam J. Agri. Sci. 2021, Vol. 19, No.1: 16-24 Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2021, 19(1): 16-24
www.vnua.edu.vn
16
ẢNH HƯỞNG CỦA KÍCH THƯỚC HẠT GỐM XỐP ĐẾN SINH TRƯỞNG
VÀ NĂNG SUẤT CỦA TÍA TÔ (Perilla frutescens)
Lê Thị Thanh Nhàn1, Nguyễn Văn Lộc1*, Chu Đức Hà2, Nguyễn Việt Long1, Nguyễn Thế Hùng1*
1Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2Viện Di truyền Nông nghiệp, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
* Tác giả liên hệ: nthung@vnua.edu.vn/nvloc@vnua.edu.vn
Ngày nhận bài: 06.07.2020 Ngày chấp nhận đăng: 16.10.2020
TÓM TẮT
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của kích thước hạt gốm xốp đến sinh trưởng và
năng suất của cây tía tô Perilla frutescens). Thí nghiệm gồm 5 công thức độ dài hạt gốm G1 (1,0cm), G2 (2,0cm), G3
(3,0cm), G4 (4,0cm) và G5 (5,0cm) được thiết kế theo khối ngẫu nhiên đầy đủ với ba lần nhắc lại. Kết quả cho thấy
hạt gốm có kích thước nhỏ (2cm) được xác định là phù hợp cho canh tác các cây tía tô. Cụ thể, từ giai đoạn 30-150
ngày sau trồng, chiều cao cây đạt từ 34,8-135,9cm, với số lá/thân chính đạt 16,2-55,9, đường kính thân đạt
0,78-1,57cm, số cành/thân chính từ 28,57-74,23. Qua đó, hàm lượng chất khô tích lũy ở rễ, thân và lá tỏ ra vượt trội
so với các công thức khác. Năng suất cá thể tăng dần từ giai đoạn 30-120 ngày sau trồng, tổng năng suất đạt
234,74 g/cây. Kết quả của nghiên cứu này đã cung cấp những dẫn liệu quan trọng nhằm hoàn thiện quy trình canh
tác cây tía tô bằng giá thể gốm kỹ thuật.
Từ khóa: Hạt gốm, tía tô, canh tác, nông học, năng suất.
Effects of the size of expanded clays on the growth and yield
of perilla (Perilla frutescens)
ABSTRACT
This study was conducted to evaluate the effects of expanded on the growth and yield of perilla plant (Perilla
frutescens). The experiments consisted of 5 expanded clay sizes: G1 (1.0cm), G2 (2.0cm), G3 (3.0cm), G4 (4.0cm),
and G5 (5.0cm); was arranged in in randomized complete block (RCB) with 3 replications.The results revealed that
the small size of expanded clay (2cm) was suitable for the growth of the perilla plants. Specifically, from time of 30
and 150 days after planting, the plant height of perilla was ranged from 34.8-135.9cm, stem diameter ranged from
0.78-1.57cm. The leaves per stem and branches per stem were recorded as 16.2-55.9 and 28.57-74.23, respectively.
Of our interest, the dried weights in roots, stems, and leaves were significantly higher than other formulas. The yields
increased in the period of 30-120 days after planting, with the total productivity reached to 234.74 g/plant.
Taken together, our results could provide a solid foundation for the application of ceramic particles in the cultivation of
perilla plants.
Keywords: Expanded clay, perilla, cultivation, agronomy, yield.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Các loại cây rau tươi là một trong những
nhóm nhu yếu phẩm đóng vai trò quan trọng do
đây là nguồn cung cấp các vitamin, axit hữu cơ
và chất xơ tự nhiên cho hệ tiêu hóa (Mohammed
& Qoronfleh, 2020). Hiện nay, nhu cầu về tiêu
thụ rau sạch trong xã hội không ngừng tăng
(Mohammed & Qoronfleh, 2020), đòi hỏi việc đầu
tư nghiên cứu nhằm cải tiến quy trình trồng rau
đảm bảo năng suất và chất lượng. Trong đó, một
trong những công nghệ tiên tiến được ứng dụng
rộng rãi trong canh tác rau sạch là sử dụng giá
thể gốm xốp làm môi trường dinh dưỡng đảm bảo
cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt
(Nguyễn Thế Hùng & cs., 2019). Đây là kỹ thuật
Lê Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Văn Lộc, Chu Đức Hà, Nguyễn Việt Long, Nguyễn Thế Hùng
17
sử dụng các hạt gốm xốp với kích thước đa dạng,
độ thông thoáng cao, giúp tiết kiệm đất trồng
trọt, có khả năng giữ nước và chất dinh dưỡng
cần thiết cho sinh trưởng và phát triển của cây
(Nguyễn Thế Hùng & cs., 2019).
Gần đây, công nghệ sử dụng hạt gốm xốp kỹ
thuật đã được áp dụng thành công trên một số
đối tượng cây trồng, như rau húng bạc hà
(Mentha arvensis) (Nguyễn Thế Hùng & cs.,
2016), hoa lily trồng chậu (Phạm Quang Tuân &
cs., 2020). Công nghệ này sử dụng hạt gốm kỹ
thuật, sản xuất từ đất nung, làm giá thể cho
canh tác quy mô lớn, áp dụng rất phổ biến ở
nhiều nước hiện nay (Liu & cs., 2019). Tuy
nhiên, chưa có báo cáo nào về việc sử dụng giá
thể gốm kỹ thuật trên cây tía tô (Perilla
frutescens), một trong những đối tượng cây rau
đóng vai trò quan trọng cho đời sống hiện nay
(Liu & cs., 2019; Zhao & cs., 2019).
Trong nghiên cứu này, các thí nghiệm đánh
giá ảnh hưởng của độ dài hạt gốm xốp dùng làm
giá thể đến sinh trưởng và năng suất của cây tía
tô được tiến hành, từ đó lựa chọn kích thước hạt
gốm tốt nhất ứng dụng sản xuất.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu
Giống tía tô cao sản VA.200 được cung cấp bởi
Công ty TNHH Phát triển Nông nghiệp Việt Á.
Hạt gốm xốp kỹ thuật được làm từ hỗn hợp
đất sét, đất phù sa kết hợp với trấu theo tỷ lệ
nhất định và một số phụ phẩm nông nghiệp
nung ở nhiệt độ 1.300C. Tiêu chuẩn của các hạt
gốm xốp phải đạt là có dạng hình trụ, chiều dài
1,0-5,0cm (Hình 1), đường kính ~10,2mm với lỗ
rỗng (1-6m), độ xốp ~52,1%, độ hút nước
56,3%, độ pH ~7,4. Giá thể được làm bằng cách
trộn hạt gốm xốp với đất phù sa sông Hồng theo
tỷ lệ 1:1.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Khảo sát độ bền của hạt gốm xốp
Các hạt gốm xốp có kích thước khác nhau là
1,0-5,0cm (tương ứng công thức G1-G5) khai
thác từ dây chuyền nung công nghiệp được sử
dụng để đánh giá độ bền theo ba phương pháp
truyền thống: thả rơi tự do (3-5m), theo thời
gian sau khi trồng tía tô (30-150 ngày), theo
thời gian sau khi chôn chậu (30-150 ngày). Chỉ
tiêu tỷ lệ gốm vỡ (%) được xác định theo từng
giai đoạn thí nghiệm. Các thí nghiệm được tiến
hành theo kiểu khối ngẫu nhiên với ba lần nhắc
lại (Brien & cs., 2013).
2.2.2. Đánh giá đặc điểm nông sinh học của
cây tía tô
Thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của độ dài 5
loại giá thể gốm xốp kỹ thuật nêu trên (tỷ lệ phối
trộn giá thể ở các công thức là: 40% gốm xốp +
50% đất phù sa Sông Hồng + 10% mùn trấu
hun). Quy trình thí nghiệm được thực hiện như
sau: Đất phù sa được phơi và sàng kỹ, sau đó
trộn đều gốm xốp kỹ thuật theo công thức thí
nghiệm. Bầu sử dụng bầu nilon đen có kích thước
26 × 21cm (đường kính miệng bầu × chiều cao
bầu) có lỗ thủng ở đáy, giá thể cách miệng chậu
5cm. Chế độ nước tưới duy trì độ ẩm 70-75% để
cây sinh trưởng, phát triển tốt. Sử dụng phân
nén NPK tỷ lệ 15:15:15 chuyên dùng cho rau để
bón cho các công thức thí nghiệm với liều lượng 3
viên/chậu. Các đặc tính nông sinh học, bao gồm
thời gian sinh trưởng (ngày), chiều cao cây (cm),
động thái tăng trưởng của lá (số lá/thân chính),
đường kính thân cây (cm), động thái phân cành
(số cành/thân chính), đường kính tán (cm), diện
tích lá (dm2 lá/cây) được theo dõi trên 5 công thức
giá thể G1-G5 (tương ứng với kích thước hạt gốm
kỹ thuật từ 1,0-5,0cm) tại những mốc thời điểm
khác nhau sau khi trồng (30-150 ngày). Tiêu chí
đánh giá các đặc điểm sinh trưởng của cây tía tô
được thực hiện theo mô tả gần đây (Nguyễn
Quang Thạch & cs., 2017). Các thí nghiệm được
tiến hành theo kiểu khối ngẫu nhiên với ba lần
nhắc lại (Brien & cs., 2013).
2.2.3. Đánh giá năng suất của cây tía tô
Lượng chất khô tích lũy trong các bộ phận
chính của cây, bao gồm rễ, thân và lá (g/cây) và
năng suất cá thể (g/cây) được thu thập trên 5
công thức giá thể G1-G5 (tương ứng với kích
thước hạt gốm kỹ thuật từ 1,0-5,0cm) tại những
mốc thời điểm khác nhau sau khi trồng (30-150
ngày). Các thí nghiệm được tiến hành theo kiểu
khối ngẫu nhiên với ba lần nhắc lại (Brien &
cs., 2013).
Ảnh hưởng của kích thước hạt gốm xốp đến sinh trưởng và năng suất của tía tô (Perilla frutescens)
18
Hình 1. Các dạng hạt gốm xốp được sử dụng trong nghiên cứu này
Bảng 1. Đánh giá độ bền của các dạng hạt gốm xốp
CT
Tỷ lệ gốm vỡ (%)
3m 5m
Thí nghiệm 1 Thí nghiệm 2
30 NST 60 NST 90 NST 120 NST 150 NST 30 NSC 60 NSC 90 NSC 120 NSC 150 NSC
G1 9,1 9,6
0,0 1,0 2,3 4,0 4,6 0,0 0,0 0,2 0,7 1,0
G2 11,7 21,6 0,0 0,5 1,1 2,8 3,9 0,0 0,0 0,0 0,2 0,4
G3 18,2 44,0 0,0 0,0 0,4 1,6 2,4 0,0 0,0 0,0 0,0 0,2
G4 56,9 61,0 0,0 0,0 0,0 0,5 1,0 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0
G5 60,6 65,1 0,0 0,0 0,0 0,0 0,4 0,0 0,0 0,0 0,0 0,0
LSD0,05 19,0 21,7 0,0 0,2 0,4 0,7 0,6 0,0 0,0 0,0 0,1 0,2
Ghi chú: CT - Công thức; G1- G5 tương ứng với gốm có độ dài từ 1-5cm; NST - Ngày sau trồng; NSC - Ngày sau chôn.
2.2.4. Đánh giá chất lượng lá cây tía tô
Lá tía tô thu thập tại những mốc thời điểm
khác nhau sau khi trồng (30-150 ngày) ở 5 công
thức giá thể G1-G5 (tương ứng với kích thước
hạt gốm kỹ thuật từ 1,0-5,0cm) được sử dụng để
đánh giá mùi thơm tinh dầu và vị cay theo
thang điểm 3. Các thí nghiệm được tiến hành
theo kiểu khối ngẫu nhiên với ba lần nhắc lại
(Brien & cs., 2013).
2.2.5. Phân tích và xử lý số liệu
Số liệu được xử lý thống kê cơ bản và phân
tích ANOVA và có phân hạng Duncan (Bewich
& cs., 2004) trên công cụ Microsoft Excel.
2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng
1/2019 đến tháng 3/2020 tại nhà lưới có mái che
số 10 Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp
Việt Nam.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Các thông số kỹ thuật của giá thể hạt
gốm xốp phù hợp với canh tác cây tía tô
Để đánh giá chất lượng của giá thể gốm xốp
chế tạo theo dây chuyền công nghiệp phục vụ
canh tác rau nói chung và tía tô nói riêng, các
thí nghiệm xác định tỷ độ bền của hạt gốm đã
được tiến hành. Kết quả cho thấy tỷ lệ vỡ của
gốm xốp ở các kích thước khác nhau có sự biến
thiên theo độ cao (Bảng 1). Trong đó, gốm có
kích thước dài nhất (5cm) có tỷ lệ vỡ cao nhất,
đạt 60,6 (ở độ cao 3m)-65,1% (ở độ cao 5m),
trong khi tỷ lệ vỡ của gốm có chiều dài 1cm chỉ
đạt 9,1-9,6% (Bảng 1), phù hợp với tiêu chí vừa
Lê Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Văn Lộc, Chu Đức Hà, Nguyễn Việt Long, Nguyễn Thế Hùng
19
tiết kiệm diện tích bao gói, vừa giảm tiêu hao
trong quá trình vận chuyển.
Bên cạnh đó, chất lượng hạt gốm xốp cũng
được đánh giá tại các thời điểm khác nhau sau
khi trồng tía tô hoặc sau khi chôn. Kết quả ở
bảng 1 đã chứng minh kích thước của hạt gốm
tỷ lệ nghịch với khả năng vỡ theo thời gian
trồng tía tô. Cụ thể, mẫu gốm nhỏ (1-2cm) bắt
đầu ghi nhận hiện tượng vỡ từ 30-60 ngày sau
khi trồng tía tô, trong khi các mẫu gốm dài
(4-5cm) bắt đầu vỡ từ là 90-120 ngày sau trồng
(Bảng 1). Hơn nữa, kiểm tra độ bền của vật liệu
sau khi chôn cho thấy tất cả các dạng hạt gốm
xốp bắt đầu ghi nhận hiện tượng vỡ từ giai đoạn
90 ngày sau chôn (Bảng 1). Như vậy, với chu kỳ
phát triển của tía tô dao động trong khoảng 40
ngày, độ bền của các dạng hạt gốm xốp được
xem là đạt yêu cầu cho canh tác.
Trong nghiên cứu trước đây, dạng giá thể
hạt gốm nhỏ - trung bình (1-3cm) đã được sử
dụng làm vật liệu để trồng rau húng bạc hà
(Nguyễn Thế Hùng & cs., 2016) và hoa lily trồng
chậu (Phạm Quang Tuân & cs., 2020). Có thể
thấy rằng, dạng hạt gốm kỹ thuật có kích thước
1-3cm được xem là phù hợp để làm giá thể cho
canh tác cây rau do thuận tiện bao gói, dễ phối
trộn, độ bền cao (tỷ lệ vỡ do rơi hoặc khi trồng,
chôn trong đất đạt yêu cầu).
3.2. Ảnh hưởng của độ dài hạt gốm xốp đến
một số đặc điểm nông sinh học chính của
cây tía tô
Một trong những nội dung quan trọng của
nghiên cứu này là theo dõi ảnh hưởng của loại
giá thể (chiều dài hạt gốm kỹ thuật) đến một số
đặc điểm sinh trưởng cũng như năng suất thu
hoạch của cây tía tô. Kết quả cho thấy độ dài giá
thể (1-5cm) đã ảnh hưởng đến các giai đoạn
sinh trưởng của cây tía tô (Bảng 2). Thời gian
xuất hiện lá mới ở các công thức chỉ chênh nhau
1 ngày, trong khi ở thời kỳ phân cành, ở công
thức G2, G3 thúc đẩy sớm hơn và sớm hơn 1
ngày so với công thức G4-G5, 2 ngày so với công
thức G1 (Bảng 2). Như vậy, độ dài gốm trung
bình (2-3cm) được xem là có ý nghĩa trong việc
rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây tía tô.
Tiếp theo, ảnh hưởng của loại hạt gốm xốp
đến một số đặc tính nông sinh học chính của cây
tía tô cũng được theo dõi và phân tích. Kết quả
cho thấy sau thời gian bén rễ hồi xanh, chiều
cao cây của các công thức dao động từ 28,2 (G1)-
34,8cm (G2) (Bảng 2). Ở những giai đoạn khác
nhau sau khi trồng, chiều cao cây ở công thức
G2 vẫn đạt cao nhất với sự khác nhau về chiều
cao cây giữa các công thức là có ý nghĩa ở độ tin
cậy 95% (Bảng 2). Sự tăng trưởng về chiều cao
cây được ghi nhận mạnh nhất ở giai đoạn từ 30-
90 ngày sau trồng với công thức G1 tăng
62,2cm, G2 tăng 60,1cm, G3 và G4 lần lượt tăng
61,7 và 62,3cm, G5 tăng 62,0cm (Bảng 2). Bên
cạnh đó, độ dài hạt gốm xốp cũng được xác định
có ảnh hưởng đến động thái tăng trưởng số
lá/thân chính. Cụ thể, sau trồng 30 ngày, số lá
chính tăng mạnh do cây đã hồi phục rễ cây đã
hút dinh dưỡng trong giá thể. Hạt gốm có kích
thước 2-3cm được xác định là thúc đẩy phát
triển lá nhất (Bảng 2).
Bảng 2. Ảnh hưởng của giá thể hạt gốm xốp đến sinh trưởng của cây tía tô
CT
Giai đoạn sinh trưởng Chiều cao cây (cm) ( tại các ngày theo dõi ) Số lá/thân chính ( tại các ngày theo dõi )
S1 S2 S3 S4 30 60 90 120 150 30 60 90 120 150
G1 10 16 30 150 28,2 58,9 90,4 109,0 129,3
c
14,1 26,1 40,0 45,7 49,8
e
G2 9 14 30 150 34,8 61,3 94,9 118,9 135,9ᵃ 16,2 29,8 44,4 51,2 55,9
a
G3 9 14 30 150 31,5 60,4 93,2 114,4 132,8ᵇ 15,4 28,8 43,3 49,5 54,1
b
G4 10 15 30 150 30,0 59,4 92,3 113,6 131,9ᵇ 14,7 27,6 41,7 47,5 52,2
c
G5 10 15 30 150 29,5 58,8 91,5 112,3 130,6
c
14,3 27,3 41,0 46,7 51,0
d
LSD0,05 2,5 1,1
CV% 1,0 1,1
Ghi chú: CT - Công thức; G1-G5 tương ứng với gốm có độ dài từ 1-5cm; S1: Giai đoạn trồng - xuất hiện lá mới;
S2: Giai đoạn trồng - phân nhánh; S3: Giai đoạn trồng - thu hoạch lứa đầu; S4: Giai đoạn trồng - thu hoạch lứa cuối.
Ảnh hưởng của kích thước hạt gốm xốp đến sinh trưởng và năng suất của tía tô (Perilla frutescens)
20
Bảng 3. Ảnh hưởng của giá thể hạt gốm xốp đến sinh trưởng của cây tía tô (tiếp)
CT
Đường kính thân (cm) (tại các ngày theo dõi ) Động thái phân cành (cành/thân chính) (tại các ngày theo dõi )
30 60 90 120 150 30 60 90 120 150
G1 0,67
b
0,87
c
1,10
c
1,22
c
1,30
c
9,10
b
22,90
d
40,83
d
57,39
c
65,29
d
G2 0,78
a
1,12
a
1,42
a
1,53
a
1,57
a
10,30
a
28,57
a
46,80
a
65,68
a
74,23
a
G3 0,74
a
1,09
a
1,40
a
1,48
a
1,52
a
9,80
a
26,84
b
45,64
b
64,42
a
71,63
b
G4 0,70
a
1,00
b
1,30
b
1,42
b
1,44
b
9,40
b
24,77
c
42,68
c
61,48
b
68,37
c
G5 0,68
a
0,89
c
1,09
c
1,25
c
1,35
c
9,13
b
23,29
c
41,24
d
60,08
b
66,48
d
LSD0.05 0,1 0,1 0,1 0,1 0,1 0,8 1,5 0,8 2,0 1,3
CV % 4,8 4,8 3,4 2,4 2,8 4,3 3,1 1,0 1,7 1,0
Ghi chú: CT - Công thức; G1-G5 tương ứng với gốm có độ dài từ 1-5cm; Đường kính thân (cm), động thái phân
cành (cành/thân chính) được theo dõi ở các thời điểm 30-150 ngày sau khi trồng.
Bảng 4. Ảnh hưởng của giá thể hạt gốm xốp đến sinh trưởng của cây tía tô (tiếp)
CT
Đường kính tán (cm) tại các ngày theo dõi Diện tích lá (dm
2
lá/cây) tại các ngày theo dõi
30 60 90 120 150 30 60 90 120 150
G1 25,33
c
42,83
d
48,79
d
50,94
c
43,01
c
14,61
c
26,40
c
35,12
c
41,01
c
30,56
c
G2 29,22
a
47,53
a
55,68
a
56,27
a
51,97
a
18,96
a
29,96
a
40,04
a
46,00
a
33,97
a
G3 28,14
a
46,56
b
54,10
b
54,48
b
50,43
a
16,90
a
28,29
b
37,76
b
45,01
a
33,60
a
G4 26,84
b
44,44
c
51,43
c
53,12
b
46,55
b
15,68
b
27,59
b
37,03
c
43,40
b
32,33
b
G5 25,73
b
43,35
d
49,74
d
51,77
c
44,45
b
15,09
b
26,62
c
35,45
c
42,04
b
31,20
b
LSD0,05 1,4 0,9 1,2 1,5 1,2 0,8 1,3 1,3 1,3 0,8
CV % 2,8 1,0 1,2 1,5 1,3 2,8 2,6 1,8 1,5 1,3
Ghi chú: CT - Công thức; G1-G5 tương ứng với gốm có độ dài từ 1-5cm; Đường kính tán (cm) và diện tích lá (dm2
lá/cây) được theo dõi ở các thời điểm 30-150 ngày sau khi trồng.
Trong nghiên cứu này, hai chỉ tiêu đường
kính thân và khả năng phân cành của cây tía
tô cũng được theo dõi. Ở giai đoạn từ 30 đến 60
ngày sau trồng, loại giá thể ảnh hưởng không
đáng kể đến sự tăng trưởng của đường kính
thân, ít có sự chênh lệch giữa các công thức
(Bảng 3). Cụ thể, đường kính thân thay đổi lớn
nhất được ghi nhận ở công thức G2 và G3, tăng
tương ứng 0,34 và 0,35cm, trong khi công thức
G1 và G5 có đường kính thân tăng ít nhất, lần
lượt là 0,20 và 0,21cm (Bảng 3). Ở các giai đoạn
sau, đường kính thân ở công thức G2 vẫn tăng
trưởng đáng kể nhất so với các công thức khác
(Bảng 3). Tương tự, công thức G2 đã thúc đẩy
mức độ phân cành của cây tía tô mạnh hơn so
với các công thức khác, đạt 10,30 (30 ngày sau
khi trồng), 28,57 (60 ngày sau khi trồng), 46,80
(90 ngày sau khi trồng), 65,68 (120 ngày sau
khi trồng) và 74,23 cành/thân chính (150 ngày
sau khi trồng) (Bảng 3).
Xem xét đường kính tán và diện tích lá ở
các giai đoạn sinh trưởng của cây tía tô cho
thấy kích thước của hạt gốm kỹ thuật cũng làm
ảnh hưởng hai chỉ tiêu này. Cụ thể, đường kính
tán có xu hướng tăng mạnh ở giai đoạn 30-90
ngày sau khi trồng, sau đó tăng chậm ở giai
đoạn từ 90-150 ngày sau khi trồng. Trong đó,
trồng cây tía tô với giá thể hạt gốm xốp có kích
thước 2 (công thức G2) và 3cm (công thức G3)
cho kết quả tốt nhất (Bảng 4). Tương tự, diện
tích lá ở công thức G2 và G3 cũng thể hiện tốt
nhất ở các mốc thời gian nhất định trong khi
trồng (Bảng 4). Từ 120-150 ngày sau khi trồng,
diện tích lá ở tất cả các công thức đều giảm
(Bảng 4).
Lê Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Văn Lộc, Chu Đức Hà, Nguyễn Việt Long, Nguyễn Thế Hùng
21
3.3. Ảnh hưởng của độ dài hạt gốm xốp đến
năng suất, chất lượng của cây tía tô
Trong nghiên cứu này, các yếu tố năng suất
và chất lượng của cây tía tô, bao gồm lượng chất
khô tích lũy, năng suất, phẩm cấp của lá cũng
đã được xem xét giữa 5 công thức giá thể với
kích thước hạt gốm xốp khác nhau (Hình 2). Kết
quả từ bảng 5 cho thấy ở giai đoạn 30-60 ngày
sau trồng, khả năng tích lũy chất khô của cây
tía tô khá cao, công thức G2 và G3 tỏ ra ưu thế
nhất so với các công thức còn lại, với lượng rễ
khô tích lũy lần lượt là 4,3 và 4,0 g/cây, thân
khô lần lượt là 7,46 và 6,79 g/cây và lá khô lần
lượt là 7,23 và 6,99 g/cây (Bảng 5, Hình 2). Sau
giai đoạn này, khả năng tích lũy chất khô ở rễ ở
các công thức vẫn tiếp tục tăng, có xu hướng đạt
ổn định ở giai đoạn 150 ngày sau khi trồng, ở
các công thức dao động từ 4,01-4,24 g/cây, thấp
nhất là công thức G5 và cao nhất ở công thức
G2, sự sai khác về khả năng tích lũy chất khô
của các công thức có ý nghĩa ở độ tin cậy 95%
(Bảng 5, Hình 2).
Tương tự với sự phát triển của bộ phận
dưới mặt đất, khả năng tích lũy chất khô ở các
bộ phận trên mặt đất cũng thể hiện xu hướng
tăng tương ứng. Giai đoạn phát triển mạnh
nhất của thân cây tía tô được ghi nhận ở giai
đoạn từ 60-90 ngày sau trồng, hàm lượng
chất khô đạt cao nhất ở công thức G2 tăng
10,51 g/cây, G3 tăng 9,96 g/cây, G4 tăng
9,54 g/cây, G5 tăng 8,8 g/cây và thấp nhất là
công thức G1 (8,58 g/cây) (Bảng 5). Bộ lá của
tía tô phát triển mạnh ở giai đoạn 30-60 ngày
sau trồng, đạt cực đại từ 60-90 ngày sau trồng,
cao nhất là công thức G2 tăng 19,99 g/cây
(Bảng 5). Điều này có thể được giải thích do
việc phối trộn phụ gia với hạt gốm xốp có kích
thước dài (4-5cm, tương ứng với công thức G4
và G5) không đều, các hạt gốm xếp chồng chéo
nhau tạo độ rỗng, sau một thời gian dưới tác
động của nước mưa, nước tưới, đất lọt dần qua
các khe rỗng đó và nén dần xuống đáy chậu,
khi bộ rễ phát triển qua các tầng gốm xốp
xuống đến phần gần đáy chậu gặp lớp đất chặt
dí phía dưới nên bộ rễ phát triển kém hơn, khả
năng hút nước và chất dinh dưỡng ít hơn.
Trong khi đó, ở công thức G2 và G3 các hạt
gốm có độ dài vừa phải, dễ phối trộn và trộn
đều với đất và mùn trấu hun, dưới tác động của
nước tưới và nước mưa kết cấu vật lý của chậu
giá thể trồng cây không bị thay đổi, bộ rễ phát
triển thuận lợi từ trên xuống dưới đáy chậu
luôn hút được nước và chất dinh dưỡng trong
suốt quá trình sinh trưởng, phát triển nên
năng suất của cây cao hơn.
Tiếp theo, năng suất cá thể ở các công thức
cũng đã được thu thập và phân tích. Năng suất
cá thể của cây tía tô trồng trong giá thể hạt gốm
xốp đạt đỉnh ở giai đoạn 90-120 ngày, sau đó
giảm dần ở giai đoạn 150 ngày sau trồng (Bảng
6). Theo dõi ở các mốc thời điểm sau khi trồng
đều chỉ ra rằng, công thức G2 và G3 cho năng
suất cá thể và tổng năng suất thu hoạch là tối
ưu nhất, lần lượt là 234,74 và 224,84 g/cây
(Bảng 6).
Hình 2. Lượng chất khô tích lũy trong rễ của cây tía tô ở các giá thể gốm xốp
Ảnh hưởng của kích thước hạt gốm xốp đến sinh trưởng và năng suất của tía tô (Perilla frutescens)
22
Bảng 5. Ảnh hưởng của giá thể gốm xốp đến lượng chất khô tích lũy của cây tía tô
CT
Lượng chất khô tích lũy (g/cây)
30 60 90 120 150
Rễ Thân Lá Rễ Thân Lá Rễ Thân Lá Rễ Thân Lá Rễ Thân Lá
G1 2,47
b
3,29
c
5,03
c
5,88
d
9,30
c
11,28
c
10,12
d
17,88
c
29,18
b
12,89
c
24,63
d
33,78
d
15,23
c
29,50
c
12,02
c
G2 3,29
a
4,38
a
6,62
a
7,59
a
11,84
a
13,85
a
12,67
a
22,35
a
33,84
a
15,16
a
29,58
a
38,46
a
17,68
a
34,67
a
16,16
a
G3 3,13
a
4,04
b
6,23
a
7,13
b
10,83
b
13,22
b
12,15
b
20,79
b
32,79
a
14,68
a
27,65
b
37,27
b
17,20
a
32,98
b
14,86
b
G4 2,75
b
3,86
b
5,78
b
6,73
b
10,14
b
12,68
b
11,49
c
19,68
b
30,64
b
13,84
b
26,47
c
35,29
c
16,37
b
30,77
c
12,88
c
G5 2,58
b
3,47
c
5,24
b
6,28
c
9,59
c
11,83
c
10,29
d
18,39
c
29,46
b
13,25
b
24,92
d
34,05
d
15,54
c
30,08
c
12,29
c
LSD0.05 0,3 0,3 0,4 0,3 0,7 0,6 0,4 1,3 1,6 0,6 1,1 1,0 0,6 1,6 0,7
CV % 4,8 3,9 3,4 2,5 3,6 2,4 1,2 3,5 2,7 2,2 2,1 1,4 1,8 2,7 2,9
Ghi chú: CT - Công thức; G1-G5 tương ứng với gốm có độ dài từ 1-5cm; Lượng chất khô tích lũy ở rễ, thân và lá (g/cây) được theo dõi ở các thời điểm 30-150
ngày sau khi trồng.
Lê Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Văn Lộc, Chu Đức Hà, Nguyễn Việt Long, Nguyễn Thế Hùng
23
Bảng 6. Ảnh hưởng của giá thể gốm xốp đến năng suất thu hoạch của cây tía tô
CT
Năng suất (g/cây) tại các ngày thu hoạch
30 60 90 120 150 Tổng
G1 18,68
d
30,52
c
52,21
c
53,73
d
41,19
d
196,33
G2 25,47
a
37,43
a
58,43
a
62,83
a
50,58
a
234,74
G3 23,93
b
35,63
b
56,34
b
61,27
b
47,67
b
224,84
G4 20,83
c
34,43
b
53,40
c
56,87
c
43,37
c
208,90
G5 20,23
c
31,07
c
52,20
c
55,38
c
41,26
d
200,14
LSD0,05 1,0 2,1 1,2 1,5 2,0
CV% 2,3 3,3 1,1 1,4 2,4
Ghi chú: CT - Công thức; G1-G5 tương ứng với gốm có độ dài từ 1-5cm; Năng suất cá thể và tổng năng suất thu
hoạch (g/cây) được theo dõi ở các thời điểm 30-150 ngày sau khi trồng.
Hình 3. Kết quả phân tích hồi quy giữa độ dài hạt gốm xốp và năng suất thu hoạch
Bảng 7. Ảnh hưởng của giá thể gốm xốp đến chất lượng của lá tía tô
Thời điểm (ngày sau trồng) Tiêu chí G1 G2 G3 G4 G5
30 Mùi thơm 0,8 1 0,9 0,8 0,8
Vị cay 0,8 0,9 0,8 0,8 0,9
60 Mùi thơm 1,6 2 2 1,8 1,8
Vị cay 0,8 2 1,8 1 1
90 Mùi thơm 1,8 3 2,8 1,6 1,8
Vị cay 1,8 2 2 1,8 2
120 Mùi thơm 3 3 3 3 3
Vị cay 2 2 2 2 2
150 Mùi thơm 3 3 3 3 3
Vị cay 3 3 3 3 3
Ghi chú: CT - Công thức; G1-G5 tương ứng với gốm có độ dài từ 1-5cm; Mùi thơm và vị cay của lá tía tô được
theo dõi ở các thời điểm 30-150 ngày sau khi trồng.
Ảnh hưởng của kích thước hạt gốm xốp đến sinh trưởng và năng suất của tía tô (Perilla frutescens)
24
Song song với đó, chất lượng lá tía tô ở mỗi
giai đoạn cũng được quan tâm thông qua việc
đánh giá mùi thơm tinh dầu và vị cay. Theo đó,
mùi thơm và vị cay của lá tía tô tăng dần theo
thời gian, đạt đỉnh và có xu hướng ổn định ở giai
đoạn 120-150 ngày sau trồng (Bảng 7). Một
điểm đáng chú ý là không có sự sai khác rõ ràng
về phẩm cấp của lá tía tô giữa các công thức thí
nghiệm, chứng tỏ độ dài hạt gốm xốp không ảnh
hưởng lớn đến mùi thơm và vị cay của lá tía tô.
Kết quả phân tích hồi quy thể hiện mối
quan hệ giữa độ dài hạt gốm xốp và năng suất
cá thể ở đồ thị 3 cho thấy, khi tăng độ dài hạt
gốm xốp thì năng suất cá thể có xu hướng tăng
sau đó lại giảm dần. Qua Hình 3 cho thấy, độ
dài hạt gốm xốp có hiệu quả nhất cho cây tía tô
nằm trong khoảng 2-3 cm.
4. KẾT LUẬN
Trong nghiên cứu này, kích thước của hạt
gốm xốp trong giá thể đã được chứng minh có
ảnh hưởng nhất định đến sinh trưởng và phát
triển của giống tía tô cao sản VA.200. Trong đó,
hạt gốm xốp kích thước 2cm có tỷ lệ vỡ thấp,
thích hợp trong quá trình phối trộn, bao gói và
vận chuyển, độ bền sau khi chôn cao nên phù
hợp với sinh trưởng của cây tía tô. Nghiên cứu
tiếp theo cần được tiến hành trong các điều kiện
thực tế sản xuất khác nhau để có kết luận chính
xác hơn về kết quả nghiên cứu thu được.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bewich V., Cheek L. & Bail J. (2004). Statistics review
9: One-way analysis of variance. Critical Care.
8(2):130-136.
Brien C.J., Berger B., Rabie H. & Tester M. (2013).
Accounting for variation in designing greenhouse
experiments with special reference to greenhouses
containing plants on conveyor systems. Plant
Methods. 9(1): 5-5.
Liu Y., Hou Y., Si Y., Wang W., Zhang S., Sun S., Liu
X., Wang R. & Wang W. (2019). Isolation,
characterization, and xanthine oxidase inhibitory
activities of flavonoids from the leaves of Perilla
frutescens. Natural Product Research, 1-7.
Mohammed S.G. & Qoronfleh M.W. (2020). Vegetables.
Advances in Neurobiology. 24: 225-277.
Nguyễn Quang Thạch, Nguyễn Thị Quỳnh, Nguyễn
Thị Phương Dung & Nguyễn Thị Thanh Hương
(2017). Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ chiếu
sáng bằng đèn LED đến sinh trưởng, phát triển,
năng suất và ra hoa của cây tía tô xanh Hàn Quốc
(Perilla frutescens (L) Britton) trồng thủy canh
trong nhà. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn. 24: 38-46.
Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Văn Lộc, Đoàn Thị Yến,
Trương Thị Hải, Dương Thị Hồng Sinh,
Souksakhone Phetthavongsy & Nguyễn Việt Long
(2016). Sử dụng giá thể gốm kỹ thuật và phân
chậm tan trồng cây rau húng bạc hà (Mentha
arvensis L.) trong nhà có mái che tại Gia Lâm, Hà
Nội. Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.
14(8): 122-1237.
Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Văn Lộc, Nguyễñ Việt
Long, Phạm Thanh Tuấn & Nguyễn Thế Hùng
(Viện hàm lâm khoa học Việt Nam) (2019). Sản
xuất thành công giá thể hạt gốm xốp kỹ thuật. Tạp
chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam. 8: 39-40.
Phạm Quang Tuân, Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Thanh
Tuấn & Nguyễn Văn Lộc (2020). Ảnh hưởng của
các loại giá thể gốm kỹ thuật và phân chậm tan đến
sinh trưởng và chất lượng của các cây hoa lily
trồng chậu. Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông
nghiệp Việt Nam. 5(114): 12-17.
Zhao Y., Kong H., Zhang X., Hu X. & Wang M.
(2019). The effect of Perilla (Perilla frutescens)
leaf extracts on the quality of surimi fish balls.
Food Science & Nutrition. 7(6): 2083-2090.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
anh_huong_cua_kich_thuoc_hat_gom_xop_den_sinh_truong_va_nang.pdf