KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
4.1. Kết luận
Đã xác định được mật độ và liều lượng phân bón
thích hợp cho giống ngô lai VS6939 trồng tại các
tỉnh miền Trung. Giống ngô lai VS6939 có khả năng
chống chịu với điều kiện ngoại cảnh và nhiễm sâu
bệnh hại chính ở mức nhẹ và đạt năng suất cao, phù
hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng và tập quán
canh tác của địa phương. Cụ thể là: ảnh hưởng của
mật độ trồng và phân bón lên quá trình sinh trưởng,
phát triển và năng suất của giống ngô lai VS6939.
Đã xác định được công thức P4M3 (mật độ 65 cm ˟
20 cm) đạt năng suất thực thu cao nhất (85,43 tạ/ha;
tăng 23,3%) và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với
công thức đối chứng P2M2 (nền phân bón 120 N;
100 P
2O5; 80 K2O ở mật độ 70 ˟ 25 cm) ở mức tin cậy
95%; mang lại hiệu quả kinh tế trong sản xuất cao
nhất với mức lãi ròng tăng thêm 5,597 triệu đồng/ha.
4.2. Đề nghị
Cho phép mở rộng nội dung nghiên cứu tại một
số địa phương khác để có thêm cơ sở xác định mật
độ trồng và mức phân bón tối ưu cho quá trình canh
tác giống ngô lai ngắn ngày VS6939.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 12 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của mật độ trồng và liều lượng phân bón đối với giống ngô VS6939 tại các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
76
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 3(100)/2019
Prigge V., C. Sánchez, B. S. Dhillon, W. Schipprack, J.
L. Araus, M. Bänziger, and A. E. Melchinger, 2011.
Doubled Haploids in Tropical Maize: I. Effects of
Inducers and Source Germplasmon in vivo Haploid
Induction Rates. Crop Sci., 51: 1498-1506.
Röber, F.K., G.A. Gordillo, and H.H. Geiger, 2005.
In vivo haploid induction in maize- performance of
new inducers and significance for doubled haploid
lines in hybrid breeding. Maydica, 50: 275-283.
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ TRỒNG VÀ LIỀU LƯỢNG PHÂN BÓN
ĐỐI VỚI GIỐNG NGÔ VS6939 TẠI CÁC TỈNH DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ
Vũ Hoài Sơn1, Nguyễn Anh Tuấn1, Trần Quang Diệu1
TÓM TẮT
Thí nghiệm được tiến hành trong vụ Xuân năm 2018 tại Nam Trung bộ nhằm đánh giá ảnh hưởng của liều
lượng phân bón và các mật độ trồng khác nhau đến các chỉ tiêu sinh lý và năng suất của giống ngô lai đơn ngắn
ngày VS6939. Nghiên cứu dựa trên 4 mức phân bón N - P2O5 - K2O (120 - 100 - 80; 160 - 80 - 100; 160 - 120 - 100
và 180 - 100 - 100 kg/ha) và mật độ (5,7; 6,1 và 7,6 vạn cây/ha). Mức phân bón 180 N - 100 P2O5 - 100 K2O cho năng
suất cao nhất là 85,43 tạ/ha ở mật độ 7,6 vạn cây/ha, vượt đối chứng với mức phân bón 120 N - 100 P2O5 - 80 K2O
và mật độ 5,7 vạn cây/ha ở mức có ý nghĩa, đồng thời cho hiệu quả kinh tế vượt rõ rệt so với công thức đối chứng,
cụ thể là 7,4 triệu/ha.
Từ khóa: Giống ngô lai VS6939, mật độ gieo, mức phân bón, Duyên hải Nam Trung bộ
Effect of material sources on haploid induction rate in maize hybrid breeding
Nguyen Huu Hung, Luong Thai Ha, Nghuyen Thi Thao,
Hoàng Kim Thoa, Do Van Dung
Abstract
Using of double haploid technology in maize (Zea mays L.) hybrid breeding has been getting numerous advantages
such as maximum genetic variance; the inbred lines carrying complete homozygosity; simplifying logistics; reducing
expenses and short time for releasing of new hybrid varieties. The objectives of our research was to assess haploid
induction rate (HIR) of 3 CIMMYT’s inducers as TAILP1, TAILP2 and their single cross TAILP1 ˟ TAILP2 of
material sources as single cross, three way cross and double cross; the chromosome doubling rate (the plants present
both stigma and pollen on the field) of haploid seeds after treating with colchicine. The results showed that the
haploid induction rate of 3 inducers with 12 materials varied from 4.54% to 7.21%. The full chromosome doubling
rate of haploid seeds presented differently between material sources, which varied from 15.3% to 35.4%.
Keywords: Haploid induction rate, doubled haploid lines, chromosome doubling rate
Ngày nhận bài: 29/1/2019
Ngày phản biện: 8/2/2019
Người phản biện: TS. Nguyễn Thị Nhài
Ngày duyệt đăng: 11/3/2019
1 Viện Nghiên cứu Ngô
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong nhiều năm qua, nhờ sự thúc đẩy trong
công tác nghiên cứu chọn tạo giống ngô mới với
các đặc tính nông học tốt, tính thích ứng với điều
kiện môi trường, năng suất cao đã góp phần nâng
cao sản lượng ngô trên toàn cầu. Trong đó, đặc tính
chín sớm, ngắn ngày là một trong những tính trạng
quý và được các nhà khoa học chú trọng nghiên cứu.
Các giống ngô ngắn ngày thường có năng suất cao
và ổn định hơn các giống dài ngày trong điều kiện
thời tiết bất thuận, đặc biệt trong điều kiện biến đổi
khí hậu diễn ra ngày càng mạnh mẽ hiện nay, việc sử
dụng các giống ngô ngắn ngày, tiềm năng năng suất
cao được xem là một trong những giải pháp hiệu quả
và lâu dài.
Sản lượng ngô toàn quốc trong những năm qua
đã tăng lên đáng kể nhờ việc áp dụng các tiến bộ kỹ
thuật mới kết hợp với việc sử dụng các giống ngô lai
trong canh tác (Ngô Hữu Tình, 2006). Tuy nhiên,
các giống ngô hiện sử dụng đại trà đa số có thời gian
77
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 3(100)/2019
sinh trưởng từ trung đến dài ngày, dễ bị tác động
bởi điều kiện thời tiết bất lợi như nắng hạn hoặc lũ
lụt, mưa muộn và đều là các giống sản xuất ngoài
nước có giá thành cao do đó hiệu quả sản xuất vẫn
còn hạn chế; một số giống ngô lai ngắn ngày chưa có
những nghiên cứu cụ thể về quy trình kỹ thuật thâm
canh nên chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất.
Các tỉnh miền Trung là vùng có địa hình phức
tạp, trải dài hàng ngàn km theo dọc bờ biển Đông
với điều kiện khí hậu khá khắc nghiệt, từ tháng
4 - 8 có gió nóng Tây Nam kéo dài, từ tháng 9 - 10
gió mùa Đông Nam gây mưa bão và từ tháng 11 đến
tháng 3 năm sau gió mùa Đông Bắc gây mưa lạnh,
nên trong vụ Thu Đông và vụ Đông thời kỳ cây con
thường gặp mưa lớn, gây ngập úng ảnh hưởng tới
sinh trưởng, ngô có thể chết và dẫn tới năng suất ngô
không cao (Phạm Văn Chương, 2006).
Vì vậy, giải pháp tối ưu cho việc nâng cao năng
suất và sản lượng ngô ở vùng là ngoài việc sử dụng
các giống ngô lai chịu hạn thì biện pháp kỹ thuật
canh tác đặc biệt là yếu tố phân bón và mật độ của
cây trồng. Do đó, cần phải xây dựng được mật độ và
mức phân bón phù hợp với điều kiện sinh thái, thổ
nhưỡng của từng vùng.
Vấn đề cấp thiết hiện nay đó là sớm đưa các giống
ngô lai ngắn ngày, năng suất cao; được sản xuất trong
nước với chi phí thấp kết hợp với quy trình kỹ thuật
canh tác phù hợp với điều kiện từng vùng miền để
tối đa hóa năng suất của giống; trong đó hai yếu tố
mật độ trồng và liệu lượng phân bón có ảnh hưởng
lớn nhất đến năng suất của cây ngô. Các tỉnh Duyên
hải Nam Trung bộ có nền bức xạ nhiệt cao do đó cần
bố trí mật độ trồng và liều lượng phân bón phù hợp
gần với thực tế địa phương.
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu nghiên cứu
- Thí nghiệm được tiến hành theo dõi, đánh giá
các mức mật độ, phân bón tối ưu cho giống ngô mới
VS6939.
- Các loại phân bón, thuốc trừ cỏ và thuốc bảo vệ
thực vật đã sử dụng trong thí nghiệm: Phân đạm urê
Phú Mỹ với hàm lượng N là 46%; phân Supe lân Lâm
Thao với hàm lượng P2O là 16%; phân Kaliclorua
với hàm lượng K2O là 60%; thuốc trừ cỏ: Targa
Super 5EC; thuốc phòng trừ sâu hại: Diaphos 10H,
Dupont Prevathon 5SC; thuốc phòng trừ bệnh hại:
Validacin 5L, Ridomil Gold 68WG.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Bố trí thí nghiệm
Nghiên cứu mật độ trồng và liều lượng phân bón
phù hợp cho giống ngô mới VS6939. Thí nghiệm
đánh giá ở 3 mức mật độ trồng tương ứng với các
công thức: M1: 5,7 vạn cây/ha (khoảng cách trồng
70 cm ˟ 25 cm); M2: 6,1 vạn cây/ha (khoảng cách
trồng 65 cm ˟ 25 cm); M3: 7,6 vạn cây/ha (khoảng
cách trồng 65 cm ˟ 20 cm).
Bốn mức phân bón tương ứng với các công thức:
P1: 120 N, 100 P2O5, 80 K2O; P2: 160 N, 80 P2O5, 100
K2O; P3: 160 N, 120 P2O5, 100 K2O; P4: 180 N, 100
P2O5, 100 K2O.
Thí nghiệm hai nhân tố được bố trí theo kiểu ô
lớn ô nhỏ (Split - Plot) với 3 lần lặp lại (LLL), xung
quanh có trồng dải bảo vệ, tổng số ô cơ sở là 36, với
diện tích ô cơ sở là 14 m2 (5 m ˟ 2,8 m). Trong đó
nhân tố chính là yếu tố mật độ, nhân tố phụ là yếu tố
phân bón. Tổng số công thức thực hiện đánh giá là
12 công thức, trong đó công thức đối chứng là P2M2
(Viện Nghiên cứu Ngô, 2009).
Sơ đồ thí nghiệm cụ thể như bảng 1.
Bảng 1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm
LLL 3
P1 P3 P4 P2
M2 M1 M3 M3 M2 M1 M3 M2 M1 M1 M3 M2
LLL 2
P3 P1 P2 P4
M3 M2 M1 M2 M3 M1 M2 M1 M3 M2 M1 M3
LLL 1
P2 P1 P4 P3
M1 M3 M2 M1 M3 M2 M2 M3 M1 M2 M3 M1
2.2.2. Các chỉ tiêu theo dõi
Thực hiện QCVN 01-56: 2011/BNNPTNT (để
theo dõi).
- Chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển: Ngày tung
phấn; ngày phun râu; ngày chín sinh lý.
- Một số chỉ tiêu tăng trưởng của chiều cao: Chiều
cao cây cuối cùng (cm); chiều cao đóng bắp (cm).
- Tính trạng chống chịu trên đồng ruộng: Khả
năng chống đổ gãy: đổ rễ (%), đổ gẫy thân (điểm);
Khả năng chống chịu với một số loại sâu bệnh hại
78
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 3(100)/2019
chính như: sâu đục thân, sâu đục bắp (điểm); bệnh
khô vằn, bệnh thối khô thân (%).
- Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất:
Chiều dài bắp (cm); Đường kính bắp (cm); Số hàng
hạt/bắp; Khối lượng bắp tươi/ô (kg); Khối lượng
1000 hạt (g); Độ ẩm hạt (%) lúc thu hoạch;
- Năng suất lý thuyết (tạ/ha): Năng suất lý thuyết
ở độ ẩm 14% trên ô được tính theo công thức :
NSLT = RE ˟ KR ˟ EP ˟ P1000 ˟ D
100.000
Trong đó: RE (hàng): số hàng hạt/ bắp; KR (hạt):
số hạt/ hàng; EP (bắp/cây): tỷ lệ bắp/cây; D (cây/ha):
mật độ trồng; P1000 hạt (gam): khối lượng 1000 hạt
ở ẩm độ 14%.
- Năng suất thực thu (tạ/ha):
NSTT = EWP ˟ KE ˟ (100 - Ao) ˟ 100
(100 – 14) ˟ So
Trong đó: EWP (kg): khối lượng bắp thu hoạch/ô;
KE (%): tỷ lệ hạt/ bắp; Ao (%): độ ẩm hạt khi thu
hoạch; So (m2): diện tích ô thí nghiệm.
2.2.3. Phương pháp xử lý số liệu
Phân tích thống kê: Phân tích phương sai, hệ số
biến động (CV%) và mức sai khác nhỏ nhất có ý
nghĩa (LSD0.05) sử dụng chương trình Statixtis 8.2;
phần mềm Microsoft Excel 2010.
2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 12 năm
2017 đến tháng 5 năm 2018 tại huyện Phù Mỹ, tỉnh
Bình Định.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Ảnh hưởng của mật độ, phân bón đến các
chỉ tiêu sinh trưởng phát triển của giống ngô lai
VS6939 tại vùng Nam Trung bộ (Bình Định)
Trong điều kiện thí nghiệm trên cùng một giống
nên tại tất cả các công thức đều có thời gian mọc
mầm ở thời điểm 5 ngày sau gieo. Do tác động của
thời tiết lạnh kéo dài đầu vụ nên thời gian trổ cờ kéo
dài hơn, biến động giữa các công thức thí nghiệm
từ 59 - 63 ngày, trong đó các công thức phân tại nền
mật độ dày M3 có thời điểm trổ sớm hơn so với các
nền mật độ còn lại khoảng 1 ngày. Tương tự thời
gian phun râu của các công thức dao động từ 61 đến
65 ngày, các công thức tại mức phân P1 có thời điểm
phun râu sớm nhất so với công thức còn lại, tại nền
phân P4 các công thức có thời gian phun râu muộn
nhất. Đa số các công thức đều có thời gian từ thời
điểm trổ cờ đến phun râu khá ngắn và không có
sự biến đổi nhiều, dao động từ 1 - 2 ngày, điều đó
cho thấy đặc tính trổ cờ, phun râu của giống rất tập
trung, tạo điều kiện tốt cho quá trình thụ phấn, thụ
tinh. Thời điểm chín giữa các công thức nằm trong
khoảng 101 - 105 ngày trong đó các công thức tại
mức mật độ dày M3 có thời điểm chín sớm hơn dao
động từ 101 - 104 ngày so với các công thức tại M1,
M2 với 102 - 105 ngày.
Bảng 2. Các giai đoạn sinh trưởng
và phát triển của giống ngô VS6939
STT Công thức
Ngày
mọc
(NST)
Ngày
trổ cờ
(NST)
Ngày
phun râu
(NST)
Ngày
chín
(NST)
1 P1M1 5 60 61 102
2 P2M1 5 62 63 103
3 P3M1 5 62 63 103
4 P4M1 5 63 65 105
5 P1M2 5 60 61 102
6 P2M2 (đ/c) 5 61 62 103
7 P3M2 5 62 63 103
8 P4M2 5 63 65 105
9 P1M3 5 59 61 101
10 P2M3 5 61 63 102
11 P3M3 5 62 63 102
12 P4M3 5 62 64 104
Nhìn chung, tại tất cả các giai đoạn sinh trưởng
phát triển của giống VS6939 ở các công thức có
sự sai khác từ 1- 4 ngày, điều đó cho thấy có mối
tương quan giữa yếu tố phân bón và mật độ lên quá
trình sinh trưởng của giống. Từ số liệu cho thấy, vụ
Đông Xuân 2017 - 2018, ở mật độ trồng dày với mức
phân bón ít hơn thì quá trình sinh trưởng phát triển
nhanh hơn, cây trổ cờ phun râu và chín sớm hơn và
ngược lại; cụ thể tại công thức P1M3 có thời gian trổ
cờ, phun râu và chín sinh lý đều sớm hơn so với công
thức P4M1 tới 4 ngày.
Chiều cao cây giữa các công thức dao động từ
169,9 - 194,8 cm. Điều đó cho thấy có sự tác động
rõ rệt từ các yếu tố phân bón và mật độ trồng lên
chiều cao cây, trong đó yếu tố phân bón có sự ảnh
hưởng nhiều hơn. Cụ thể: chiều cao cây tại các công
thức phân bón ở tất cả các mức mật độ đều tăng dần
khi liều lượng phân tăng lên tương đương các công
thức phân bón từ P1 đến P4, tại mật độ M1 chiều cao
cây tăng dần từ 176,6 đến 194,0 cm; tương tự tại M2
từ 172,2 - 194,8 cm; tại M3 từ 169,9 - 191,9 cm. Và
tại các mức mật độ khác nhau, chiều cao cây cũng
79
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 3(100)/2019
có sự biến đổi tương ứng, tại mức mật độ trồng dày
hơn sẽ có sự cạnh tranh mạnh hơn giữa các cá thể
so với mức mật độ trồng thưa do đó mà chiều cao
cây cũng thấp hơn. Cụ thể: tại các công thức ở mật
độ M3 (7,6 vạn cây/ha) thì chiều cao cây bình quân
chỉ đạt 182,9 cm thấp hơn so với tại mức mật độ M1
(5,7 vạn cây/ha) với 185,8 cm; tương tự giữa ở mức
mật độ M2 (6,1 vạn cây/ha) có chiều cao cây bình
quân thấp hơn 0,8 cm so với tại M1. Tương tự, chiều
cao đóng bắp cũng có sự biển đổi tương ứng với
chiều cao cây; tại các công thức ở mức mật độ M1
đều có vị trí đóng bắp cao hơn so với các công thức
tại mật độ M2 và M3, với chiều cao đóng bắp bình
quân tương ứng là 84,4 cm; 83,8 cm và 82,2 cm.
Bảng 3. Một số đặc điểm chủ yếu và khả năng chống đổ của giống VS6939
STT Công thức
Chiều
cao cây
(cm)
Chiều cao
đóng bắp
(cm)
Trạng thái
cây
(điểm)
Tỷ lệ
đổ rễ
(%)
Tỷ lệ
đổ gãy thân
(điểm)
Độ che
kín bắp
(điểm)
1 P1M1 176,6 75,2 1 0 1 1
2 P2M1 184,6 84,4 1 0 1 1
3 P3M1 188,0 85,8 1 0 1 1
4 P4M1 194,0 92,2 1 0 1 1
Trung bình 185,8 84,4 1,0 0,0 1,0 1,0
5 P1M2 172,2 73,5 2 0 1 1
6 P2M2 (đ/c) 185,7 85,4 1 0 1 1
7 P3M2 187,2 85,3 1 0 1 1
8 P4M2 194,8 91,1 1 0 1 1
Trung bình 185,0 83,8 1,0 0,0 1,0 1,0
9 P1M3 169,9 70,8 2 0 1 1
10 P2M3 184,0 82,7 1 0 1 1
11 P3M3 185,6 84,9 1 0 1 1
12 P4M3 191,9 90,4 1 0 1 1
Trung bình 182,9 82,2 1,0 0,0 1,0 1,0
Nhìn chung, giống ngô VS6939 trong thí nghiệm
có hình thái khá đồng đều, được đánh giá ở mức
điểm 1; lá bi phủ kín bắp; khả năng chống ngã đổ
tốt, chưa xuất hiện hiện tượng đổ rễ và tỷ lệ đổ gãy
thân ở tất cả các công thức đều được đánh giá ở mức
điểm 1.
3.2. Khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh
và sâu bệnh hại chính
- Đổ rể, gãy thân: Trong vụ Xuân năm 2018, các
công thức có khả năng chống đổ rễ ở mức khá và gãy
thân ở mức độ nhẹ (điểm 1).
- Sâu đục thân: Năm 2018, tất cả các công thức
đều bị sâu đục thân gây hại ở điểm 1.
- Bệnh khô vằn: Tất cả các công thức đều không
nhiễm bệnh khô vằn.
Qua quá trình theo dõi, đánh giá cả vụ trên 5 đối
tượng sâu, bệnh hại cho thấy các đối tượng chủ yếu
phát sinh, gây hại nhiều vào giai đoạn cây xoáy nõn
chuẩn bị trỗ cờ và giai đoạn bắp chín sữa; trong đó,
gây hại nhiều nhất là sâu đục bắp.
Bảng 4. Tình hình sâu bệnh hại của giống VS6939
trong các công thức tại vùng Nam Trung bộ (Bình Định)
STT Công thức
Sâu
đục
thân
(điểm)
Sâu
đục
bắp
(điểm)
Rệp
cờ
(điểm)
Khô
vằn
(%)
Thối
khô
thân
(%)
1 P1M1 1 3 1 0,0 0,0
2 P2M1 1 3 1 0,0 0,0
3 P3M1 1 3 1 0,0 0,0
4 P4M1 1 4 1 0,0 0,0
5 P1M2 1 3 1 0,0 0,0
6 P2M2 (đ/c) 1 4 1 0,0 0,0
7 P3M2 1 4 1 0,0 0,0
8 P4M2 1 4 1 0,0 0,0
9 P1M3 1 4 1 0,0 0,0
10 P2M3 1 3 1 0,0 0,0
11 P3M3 1 3 1 0,0 0,0
12 P4M3 1 3 1 0,0 0,0
80
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 3(100)/2019
3.3. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất
Yếu tố phân bón và mật độ trồng có sự ảnh hưởng
rõ rệt lên hình thái của bắp qua đó tác động lên các
yếu tố cấu thành năng suất như số hàng/bắp, số hạt/
hàng, khối lượng 1000 hạt; trong đó số bắp/cây là
đặc tính giống ít chịu ảnh hưởng bởi hai yếu tố này
thể hiện qua số bắp/cây bình quân ở tất cả các công
thức đều chỉ có 1 bắp/cây.
Bảng 5. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống VS6939 trong các công thức
TT Công thức
Số bắp
/cây
(bắp)
Số hàng
/bắp
(hàng)
Số hạt
/hàng
(hạt)
Chiều dài
bắp
(cm)
Đường
kính bắp
(cm)
KL 1000
hạt
(gam)
N.suất
lý thuyết
(tạ/ha)
1 P1M1 1 14,3 31,4 14,7 4,8 281,7 72,49
2 P2M1 1 14,7 33,7 15,5 4,9 295,3 83,72
3 P3M1 1 15,0 35,4 16,5 5,0 290,8 88,63
4 P4M1 1 15,2 35,9 16,8 5,1 311,0 96,83
Trung bình 1 14,8 34,1 15,9 5,0 294,7 85,40
5 P1M2 1 14,1 31,3 14,3 4,7 278,6 75,46
6 P2M2 (đ/c) 1 14,6 33,3 15,0 4,8 293,9 87,85
7 P3M2 1 14,9 34,9 16,0 4,8 290,9 93,76
8 P4M2 1 15,3 35,3 16,5 4,9 307,5 101,91
Trung bình 1 14,7 33,7 15,5 4,8 292,7 89,70
9 P1M3 1 13,8 28,3 13,8 4,5 273,5 82,24
10 P2M3 1 14,2 31,1 14,5 4,6 287,4 97,77
11 P3M3 1 14,6 32,7 14,7 4,6 286,0 105,08
12 P4M3 1 14,7 33,4 15,0 4,6 287,7 113,84
Trung bình 1 14,3 31,4 14,5 4,6 286,9 99,70
Các yếu tố như chiều dài bắp và đường kính bắp
có sự tương quan với yếu tố mật độ và phân bón, giá
trị của hai chỉ tiêu này giảm dần khi mật độ trồng
tăng lên, cụ thể tại các công thức ở mật độ M1 chiều
dài bắp bình quân đạt 15,9 cm; đường kính đạt
5,0 cm nhưng ở các mật độ trồng dày hơn là M2
và M3 chỉ đạt 15,5 cm và 14,5 cm đối với dài bắp;
4,8 cm và 4,6 cm đường kính bắp. Tương tự trong
cùng một mức mật độ, giá trị của chiều dài bắp và
đường kính bắp tăng dần theo các lượng phân bón
tăng dần của các mức phân. Vì vậy, các yếu tố cấu
thành năng suất như số hàng/bắp, số hạt/hàng cũng
có sự biến đổi tương tự. Riêng yếu tố khối lượng
1000 hạt có sự tương quan với các yếu tố quyết định
kích thước hạt như đường kính trái, số hàng/bắp.
Tại các công thức có số hàng/bắp như nhau nhưng
đường kính nhỏ hơn sẽ cho khối lượng 1000 hạt
thấp hơn, cụ thể tại công thức P2M2 và P3M3 có
cùng số hàng/bắp là 14,6 hàng nhưng khác nhau về
đường kính bắp lần lượt là 4,8 cm và 4,6 cm, do đó
mà khối lượng 1000 hạt tại P2M2 đạt cao hơn với
293,9 gam so với 286,0 gam của P3M3.
Năng suất lý thuyết tương quan thuận với mật độ
trồng, các công thức tại mức mật độ trồng dày nhất
M3 có mức năng suất lý thuyết bình quân cao nhất
đạt 99,70 tạ/ha và đạt giá trị thấp nhất tại mức mật
độ trồng thưa nhất M1 với 85,40 tạ/ha.
Từ bảng 6 cho thấy có sự ảnh hưởng rõ rệt của
yếu tố mật độ và phân bón lên năng suất thực thu
của giống ngô VS6939. Phân tích riêng từng yếu tố
cho thấy giá trị năng suất thực thu tăng dần khi tăng
các mức mật độ trồng và đạt cao nhất tại mật độ M3
với 76,01 tạ/ha; khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê
so với hai mức mật độ trồng còn lại. Tương tự, ở yếu
tố phân bón, năng suất thực thu tăng dần theo lượng
phân bón tăng dần từ P1 đến P4 và đạt giá trị cao
nhất tại công thức P4 với 80,78 tạ/ha; tuy nhiên sự
sai khác không rõ ràng đối với các công thức tại nền
phân P3 và P2. Mặt khác, khi đánh giá tính tương
tác của cả hai yếu tố cho thấy năng suất thực thu của
các công thức dao động từ 57,25 - 85,43 tạ/ha; trong
đó công thức P4M3 đạt năng suất thực thu cao nhất
và khác biệt có ý nghĩa so với công thức đối chứng
P2M2 ở mức sai khác 5%.
81
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 3(100)/2019
Bảng 6. Ảnh hưởng của mật độ trồng và mức phân bón đến năng suất thực thu
của giống VS6939 trong các công thức thí nghiệm
STT Mứcphân bón
Mức
mật độ
Năng suất
thực thu
(tạ/ha)
STT Mứcphân bón
Mức
mật độ
Năng suất
thực thu
(tạ/ha)
1 M1 67,94 b 3 P3 M1 71,10bcd
2 M2 70,81 b 4 P4 M1 76,70 abc
3 M3 76,01 a 5 P1 M2 58,97 de
LSD0,05 M 5,08 6 P2 M2 69,31 bcde
F tính M 5,82** 7 P3 M2 74,73 abc
1 P1 60,37 b 8 P4 M2 80,21 ab
2 P2 70,11 ab 9 P1 M3 64,88 cde
3 P3 75,08 a 10 P2 M3 74,33 abc
4 P4 80,78 a 11 P3 M3 79,40 ab
LSD0,05 P 11,07 12 P4 M3 85,43 a
F tính P 7,33** CV (%) 8,21
1 P1 M1 57,25 e LSD0,05 P*M 13,80
2 P2 M1 66,70bcde
Ghi chú: Các chữ cái trong cùng một cột thể hiện sự sai khác về năng suất theo từng yếu tố mật độ và phân bón.
Nhìn chung, cả hai yếu tố mật độ và phân bón đều
có ảnh hưởng đến các yếu tố cấu thành năng suất và
năng suất thực thu của giống VS6939 tại các công
thức trong thí nghiệm, trong đó mức mật độ M3 thể
hiện sự sai khác rõ rệt và có ý nghĩa đối với hai mật
độ còn lại, mức phân bón P2, P3, P4 chưa thể hiện sự
khác biệt rõ ràng về mặt thống kê. Tuy nhiên, đánh
giá cả hai yếu tố cho thấy công thức P4M3 mang lại
năng suất thực thu cao nhất với 85,43 tạ/ha cao hơn
đối chứng P2M2 16,12 tạ/ha và khác biệt có ý nghĩa
ở độ tin cậy 95%.
3.4. Hiệu quả kinh tế tại vùng Nam Trung bộ
(Bình Định)
Tổng chi phí trong các công thức thí nghiệm bao
gồm công lao động và chi phí giống, vật tư (phân
bón, thuốc BVTV). Tùy vào các mức phân bón và
mật độ khác nhau mà tại các công thức có tổng chi
phí khác nhau; ở các mật độ trồng dày hơn yêu cầu
công lao động (gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch)
nhiều hơn, thể hiện ở các công thức tại mật độ M3
cần tới 16,6 triệu đồng/ha.
Bảng 7. Hoạch toán hiệu quả kinh tế giữa các công thức thí nghiệm
ĐVT: nghìn đồng
TT Công thức
Chi phí
giống,
vật tư
Công
lao động
Tổng
chi phí
Năng
suất
(tạ/ha)
Đơn giá Tổng thu Lãi ròng
Tăng,
giảm so
đ/c (+; –)
1 P1M1 9.116,0 13.660,0 22.776,0 57,25 550 31.487,5 8.711,5 –5.036,5
2 P2M1 9.767,5 13.660,0 23.427,5 66,70 550 36.685,0 13.257,5 –490,5
3 P3M1 10.642,5 13.660,0 24.302,5 71,10 550 39.105,0 14.802,5 +1.054,5
4 P4M1 10.592,0 13.660,0 24.252,0 76,70 550 42.185,0 17.933,0 +4.185,0
5 P1M2 9.221,0 14.500,0 23.721,0 58,97 550 32.433,5 8.712,5 –5.035,5
6 P2M2 (đ/c) 9.872,5 14.500,0 24.372,5 69,31 550 38.120,5 13.748,0 -
7 P3M2 10.747,5 14.500,0 25.247,5 74,73 550 41.101,5 15.854,0 +2.106,0
8 P4M2 10.697,0 14.500,0 25.197,0 80,21 550 44.115,5 18.918,5 +5.170,5
9 P1M3 9.566,0 16.600,0 26.166,0 64,88 550 35.684,0 9.518,0 –4.230,0
10 P2M3 10.217,5 16.600,0 26.817,5 74,33 550 40.881,5 14.064,0 +316,0
11 P3M3 11.092,5 16.600,0 27.692,5 79,40 550 43.670,0 15.977,5 +2.229,5
12 P4M3 11.042,0 16.600,0 27.642,0 85,43 550 46.986,5 19.344,5 +5.596,5
82
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 3(100)/2019
Tương tự, ở các mật độ trồng thưa yêu cầu về
lượng hạt giống ít hơn, có thể thấy tại các công thức
tại mật độ M1 (9,116 - 10,592 triệu đồng/ha) chi phí
vật tư thấp hơn so với các mức mật độ trồng M2
(9,221 - 10,697 triệu đồng/ha) và M3 (9,566 - 11,042
triệu đồng/ha). Do đó, tổng chi phí tại công thức
P1M1 thấp nhất với 22,776 triệu đồng/ha; cao nhất
tại P4M3 với 27,642 triệu đồng/ha. Tổng thu của
các công thức phụ thuộc vào năng suất thực thu,
trong cùng điều kiện về chất lượng giống, giá bán
như nhau (5.500 đồng/kg hạt), các công thức có mức
tổng thu dao động từ 31,488 - 46,987 triệu đồng/ha;
trong đó công thức P4M3 có tổng thu cao nhất. So
sánh với công thức đối chứng P2M2 cho thấy có 2
công thức có mức lãi ròng trên 5 triệu đồng/ha là
P4M2 và P4M3 trong đó P4M3 có mức tăng thêm
cao nhất (+5,597 triệu đồng/ha).
IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
4.1. Kết luận
Đã xác định được mật độ và liều lượng phân bón
thích hợp cho giống ngô lai VS6939 trồng tại các
tỉnh miền Trung. Giống ngô lai VS6939 có khả năng
chống chịu với điều kiện ngoại cảnh và nhiễm sâu
bệnh hại chính ở mức nhẹ và đạt năng suất cao, phù
hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng và tập quán
canh tác của địa phương. Cụ thể là: ảnh hưởng của
mật độ trồng và phân bón lên quá trình sinh trưởng,
phát triển và năng suất của giống ngô lai VS6939.
Đã xác định được công thức P4M3 (mật độ 65 cm ˟
20 cm) đạt năng suất thực thu cao nhất (85,43 tạ/ha;
tăng 23,3%) và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với
công thức đối chứng P2M2 (nền phân bón 120 N;
100 P2O5; 80 K2O ở mật độ 70 ˟ 25 cm) ở mức tin cậy
95%; mang lại hiệu quả kinh tế trong sản xuất cao
nhất với mức lãi ròng tăng thêm 5,597 triệu đồng/ha.
4.2. Đề nghị
Cho phép mở rộng nội dung nghiên cứu tại một
số địa phương khác để có thêm cơ sở xác định mật
độ trồng và mức phân bón tối ưu cho quá trình canh
tác giống ngô lai ngắn ngày VS6939.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2011. QCVN 01-56:2011/
BNNPTNT. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo
nghiệm giá trị canh tác và sử dụng giống ngô.
Phạm Văn Chương, 2006. Báo cáo tổng kết đề tài
nghiên cứu các giải pháp khoa học công nghệ đảm
bảo phát triển sản xuất lương thực, thực phẩm có
hiệu quả cho vùng Duyên hải mền Trung giai đoạn
2002 - 2005.
Ngô Hữu Tình, 2006. Kết quả nghiên cứu chọn tạo
giống ngô lai thích hợp các vùng sinh thái giai đoạn
2001 - 2005.
Viện Nghiên cứu Ngô, 2009. Nghiên cứu mật độ
khoảng cách nhằm tăng năng suất và hiệu quả sản
xuất ngô vùng Đồng bằng sông Hồng. Báo cáo tổng
kết đề tài “Nghiên cứu mật độ và khoảng cách nhằm
tăng năng suất và hiệu quả sản xuất ngô vùng Đồng
bằng sông Hồng”, Hà Nội.
Effect of planting densities and fertilizer doses on hybrid maize variety VS6939
in the South Central Coast of Vietnam
Vu Hoai Son, Nguyen Anh Tuan, Tran Quang Dieu
Abstract
A field experiment was conducted in Spring of 2018 in the South Central Coast of Vietnam to determine the effect
of planting densities and fertilizer doses on yield and agrobiological characteristics of early maturing hybrid maize
variety VS6939. The treatments comprised of four N - P2O5 - K2O fertilizer doses (20 - 100 - 80; 160 - 80 - 100; 160
- 120 - 100 and 180 - 100 - 100 kg.ha-1) and three planting densities (57,000; 61,000 and 76,000 plants.ha-1). The
fertilizer dose of 180 N - 100 P2O5 - 100 K2O and planting density of 76,000 plants.ha-1 showed the highest grain yield
(85.43 quintal.ha-1). These results were significally higher in comparison with that of the control plot where fertilizer
was applied at 120 N - 100 P2O5 - 80 K2O and crop was sown at planting density of 57,000 plant.ha-1. The economic
efficiency of the above dose of fertilizer and planting density was significantly higher than that of the control.
Keywords: Maize variety VS6939, planting density, fertilizer doses, South Central Coast
Ngày nhận bài: 27/1/2019
Ngày phản biện: 4/2/2019
Người phản biện: TS. Lê Văn Dũng
Ngày duyệt đăng: 11/3/2019
Các file đính kèm theo tài liệu này:
anh_huong_cua_mat_do_trong_va_lieu_luong_phan_bon_doi_voi_gi.pdf