Kết quả chỉ tiêu tỷ lệ tinh trùng kỳ
hình của tinh pha loãng bằng các môi
trường khác nhau theo thời gian bảo quản
Tinh trùng kỳ hình là chỉ tiêu quan trọng
đánh giá chất lượng tinh pha loãng tại các thời
điểm kiểm tra chất lượng tinh trùng bảo quản, vì
tỷ lệ tinh trùng kì hình liên quan đến khả năng
thụ tinh của tinh trùng. Tinh trùng kỳ hình có
hình thái học không bình thường ở đầu, cổ, thân,
đuôi. Chúng không có khả năng thụ tinh. Nếu tỷ
lệ tinh trùng kỳ hình quá nhiều thì tỷ lệ tinh
trùng có khả năng thụ tinh thấp, liều tinh đó sẽ
bị loại bỏ. Theo tiêu chuẩn kỹ thuật, tỷ lệ tinh
trùng kỳ hình của tinh bảo quản đạt yêu cầu kỹ
thuật cho thụ tinh nhân tạo là dưới 20%.
Tỷ lệ % tinh trùng kỳ hình tổng số của các
mẫu tinh dịch pha loãng, bảo quản bằng 8 loại
môi trường thí nghiệm ở nhiệt độ 5°C và 15C
được thể hiện ở bảng 4 và 5.
Theo kết quả trình bày trong bảng 4, tỷ lệ
tinh trùng kỳ hình ở 5C của các mẫu tăng theo
thời gian bảo quản, ở mẫu tinh pha loãng bằng
môi trường TCG + 20% EY và môi trường TCG +
0,04 g/l caffeine có tỷ lệ tinh trùng kỳ hình tương
đương nhau nhưng đều thấp hơn so với giá trị
20%. Trên cơ sở đó, 8 môi trường nghiên cứu đều
cho tỷ lệ tinh trùng kỳ hình đạt so với yêu cầu về
chỉ tiêu tinh trùng kỳ hình theo tiêu chuẩn kỹ
thuật ở tất cả các mốc thời gian bảo quản.
Ở nhiệt độ bảo quản là 15C thì tỷ lệ tinh
trùng kỳ hình của các liều tinh bảo quản có xu
hướng tăng theo thời gian bảo quản và được
trình bày cụ thể ở bảng 5. Theo đó, môi trường
TCG có tỷ lệ tinh trùng kỳ hình cao nhất
(16,81 ± 0,43) nhưng vẫn nằm trong ngưỡng giới
hạn (<20%). Theo tiêu chuẩn kỹ thuật đối với
chỉ tiêu tinh trùng kỳ hình cho các liều tinh bảo
quản thì 8 môi trường đều đạt yêu cầu cho phối.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của môi trường pha loãng bổ sung lòng đỏ trứng gà và Caffeine đến chất lượng tinh dê, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Vietnam J. Agri. Sci. 2020, Vol. 18, No.10: 870-878 Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2020, 18(10): 870-878
www.vnua.edu.vn
870
ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG PHA LOÃNG BỔ SUNG LÒNG ĐỎ TRỨNG GÀ
VÀ CAFFEINE ĐẾN CHẤT LƯỢNG TINH DÊ
Ngô Thành Trung*, Trần Thị Chi, Vũ Hải Yến, Nguyễn Tuấn Dũng,
Trịnh Thị Linh Chi, Sử Thanh Long
Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
*Tác giả liên hệ: nttrungcnsh@vnua.edu.vn
Ngày nhận bài: 25.05.2020 Ngày chấp nhận đăng: 12.09.2020
TÓM TẮT
Mục tiêu của nghiên cứu là xác định được ảnh hưởng của việc bổ sung các thành phần lòng đỏ trứng gà và
caffeine trong môi trường TCG (Tris-Citrate-Glucose) đến hiệu quả bảo tồn tinh của một số giống dê nuôi tại Việt
Nam. Chín dê đực thuộc 3 giống dê là Saanen, Boer và Alpine (3 dê đực/giống) được khai thác tinh bằng âm đạo
giả, pha loãng theo tỷ lệ 1:10 trong môi trường TCG được bổ sung 5, 10, 15 và 20% lòng đỏ trứng gà và 0,02; 0,03
và 0,04g caffeine/lít. Tinh pha loãng được bảo quản ở nhiệt độ 5C và 15C. Hoạt lực tinh trùng và tỷ lệ tinh trùng kỳ
hình của các mẫu tinh được đánh giá và so sánh sau 24 giờ, 72 giờ và 120 giờ bảo quản. Kết quả nghiên cứu cho
thấy, bổ sung 0,03g caffeine/l trong môi trường TCG giúp bảo quản tinh dê tốt hơn ở cả 2 nhiệt độ. Ở nhiệt độ 5C,
môi trường TCG được bổ sung 10% lòng đỏ trứng gà cho chất lượng tinh bảo quản tốt hơn, có thể vẫn được sử
dụng để dẫn tinh nhân tạo sau 72 giờ bảo quản. Ở nhiệt độ 15C, môi trường TCG được bổ sung 10% lòng đỏ trứng
gà cho chất lượng tinh bảo quản tốt hơn, có thể vẫn được sử dụng để dẫn tinh nhân tạo sau 24 giờ bảo quản.
Từ khóa: Tinh dê, môi trường bảo quản tinh, lòng đỏ trứng, caffeine.
Effects of adding chicken egg yolk and caffeine in extender on the quality of goat semen
ABSTRACT
The aims of this study were to assess the effects of adding chicken egg yolk and caffeine in TCG (Tris-Citrate-
Glucose) extender on the quality of goat semen preserved some goat breeds in Vietnam. Semen samples of 9 bucks
belonging to 3 goat breeds, including Saanen, Boer and Alpine, (3 bucks/breed) were collected using artificial vagina,
then diluted at a ratio of 1:10 with TCG extender added 0%, 5%, 10%, 15%, and 20% chicken egg yolk and 0,02;
0,03 and 0,04g caffeine/l. The diluted semen samples were preserved at 5 and 15C, respectively. The sperm motility
and sperm morphological parameters of the preserved semen samples were assessed and compared after 24h, 72h,
and 120h of preservation. Results showed that addition of 0,03g caffeine/l in TCG extender gave a better quality of
preserved goat semen at both temperatures. At 5C, TCG extender added 10% of chicken egg yolk gave a better
quality of preserved goat semen and could be used for artificial insemination after 72h of preservation. At 15C, TCG
extender added 15% of chicken egg yolk resulted in a better quality of preserved goat semen and could be used for
artificial insemination after 24h of preservation.
Keywords: Goat semen, semen extender, egg yolk, caffeine.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đối với các nước nhiệt đới như Việt Nam thì
dê là loài vật nuôi có vai trò quan trọng trong
ngành chăn nuôi. Chăn nuôi dê, cừu cung cấp
nhiều sản phẩm thiết thực cho xã hội. Thịt và
sữa dê cung cấp dinh dưỡng cho người tiêu dung,
đặc biệt đối với trẻ em, người già và làm đẹp cho
phụ nữ. Phân dê quay lại cải thiện độ phì cho
đất, làm tăng năng suất cho cây trồng; lông, da,
sừng móng của cừu, dê là nguyên liệu phục vụ
cho công nghiệp nhẹ; Theo Cục Chăn nuôi, từ
Ngô Thành Trung, Trần Thị Chi, Vũ Hải Yến, Nguyễn Tuấn Dũng, Trịnh Thị Linh Chi, Sử Thanh Long
871
năm 2016-2018, đàn dê cừu của Việt Nam tăng
trưởng 15,45%; sản lượng thịt tăng gần 20%.
Năm 2018, theo số liệu của Tổng cục Thống kê,
Việt Nam có đàn dê và cừu trên 2,8 triệu con.
Năm 2019, tốc độ tăng trưởng của đàn dê, cừu là
15,45%; sản lượng thịt hơi xuất chuồng của dê,
cừu tăng gần 20%. Năm 2019, dịch tả lợn châu
Phi xảy ra, Bộ NN&PTNT đã chỉ đạo tái cơ cấu
ngành chăn nuôi nhằm khơi được tất cả tiềm
năng của ngành chăn nuôi, trong đó, yêu cầu
tăng cơ cấu đàn động vật ăn cỏ.
Như vậy, nhu cầu con giống để đáp ứng việc
tăng quy mô đàn dê đòi hỏi rất lớn. Tuy nhiên,
theo khảo sát thực tế của nhóm tác giả, hiện
nay, tại Việt Nam, việc nhân giống dê vẫn chủ
yếu thực hiện theo phương thức truyền thống là
cho nhảy trực tiếp. Việc áp dụng thụ tinh nhân
tạo trên dê vẫn chưa phổ biến mặc dù phương
thức này đem lại hiệu quả sinh sản cao (Ngoma
& cs., 2016; El-Battawy, 2019), tránh được hiện
tượng cận huyết, giảm nguy cơ lây truyền dịch
bệnh qua đường sinh sản, giảm số con đực, tăng
hiệu quả sử dụng con giống của những cá thể
đực giống chất lượng cao,
Trong thụ tinh nhân tạo dê, hiệu quả của
kỹ thuật này phụ thuộc rất nhiều vào kỹ thuật
khai thác tinh, bảo quản tinh và dẫn tinh
(Ngoma & cs., 2016; El-Battawy, 2019). Tinh dê
có thể được bảo quản ở nhiệt độ từ 2-15C trong
các môi trường pha loãng như môi trường
sodium citrate - lòng đỏ trứng, môi trường
sodium citrate - fructose - lòng đỏ trứng, môi
trường sữa nguyên kem hoặc sữa tách bơ) có
hoặc không bổ sung lòng đỏ trứng. Trong đó,
môi trường pha loãng phổ biến nhất là môi
trường đệm Tris được sử dụng hiệu quả cho cả
tinh dê, tinh cừu và tinh thỏ. Việc bổ sung một
số chất vào môi trường bảo quản tinh động vật
như PVA, PVP, lòng đỏ trứng, các chất chống
oxy hóa như vitamin E, vitamin C, caffeine,
almumin huyết thanh bò có hiệu quả rất tốt
giúp duy trì hoạt lực và bảo vệ tế bào tinh trùng
trong quá trình bảo quản (Long, 2003;
Kubovicova, 2010; Tabatabaei, 2011 (trên tinh
gà); Xuyen, 2004; Mendez, 2012; Sansores, 2011
(trên tinh lợn); Pour, 2013; Asadpour, 2011
(trên tinh dê); Zhao, 2015; Ferdinand, 2014
(trên tinh bò); Sharawy, 2015 (trên tinh chuột)).
Trong đó, lòng đỏ trứng gà chứa các chất cung
cấp năng lượng cho tinh trùng, cung cấp nguồn
protein, các lipoprotein giúp bảo vệ màng tế bào
tinh trùng, chất lecithin đóng vai trò là chất bảo
vệ lạnh đối với tinh trùng (Ferrdinand & cs.,
2014). Caffeine có tác dụng chống oxy hóa, ngăn
ngừa quá trình hình thành AMP vòng hay
cAMP (cyclic adenosine monophosphate) làm
cho tinh trùng hạn chế vận động trong môi
trường bảo quản (Sharma, 1996; Pena, 2003;
Xuyen, 2004; Lanzafame, 2009; Lampiao, 2012).
Ngoài ra, caffeine còn có tác dụng bảo vệ màng
tinh trùng và chúng có mặt trong môi trường
thụ tinh ống nghiệm với vai trò hỗ trợ cho quá
trình thụ tinh.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu này được thực
hiện với mục tiêu xác định được ảnh hưởng của
việc bổ sung các thành phần lòng đỏ trứng gà và
caffeine trong môi trường TCG đến hiệu quả bảo
tồn tinh của một số giống dê nuôi tại Việt Nam.
Nghiên cứu này đóng góp cho việc sử dụng các
loại môi trường có hiệu quả cao trong bảo quản
tinh dê phục vụ cho thụ tinh nhân tạo và có thể
áp dụng để đông lạnh tinh dê giúp bảo tồn và
nhân đàn các giống dê tại Việt Nam.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Các mẫu tinh dê được khai thác từ 9 dê đực
thuộc 3 giống là Saanen, Boer và Alpine (3 dê
đực/giống).
2.2. Dụng cụ và hóa chất thí nghiệm
Hóa chất sử dụng cho thí nghiệm gồm D-
Glucose, KCl, NaCl, Tris, Gentamycine,
Caffeine (các hóa chất của hãng Merck, Đức),
lòng đỏ trứng gà (EY). Máy móc, thiết bị và
dụng cụ thí nghiệm chính gồm kính hiển vi, bể
ổn nhiệt, tủ bảo ôn, tủ sấy, máy đo pH, cân kỹ
thuật và cân phân tích, máy khuấy từ, buồng
đếm Neubauer.
2.3. Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: đánh giá và so sánh chất
lượng tinh nguyên của 3 giống dê: dê Boer
Ảnh hưởng của môi trường pha loãng bổ sung lòng đỏ trứng gà và caffeine đến chất lượng tinh dê
872
(chuyên thịt), dê Saanen (chuyên sữa), dê
Alpine (chuyên sữa).
Nội dung 2: Đánh giá ảnh hưởng của việc bổ
sung lòng đỏ trứng gà (EY) và caffeine đến chất
lượng tinh bảo quản dạng lỏng ở nhiệt độ 5C
và 15C.
Bố trí thí nghiệm:
Nội dung 1: 9 dê đực thuộc 3 giống dê (3
con/giống) được khai thác tinh bằng âm đạo giả
kết hợp sử dụng con cái thí tình đang trong thời
điểm động dục, tần suất khai thác 5 ngày/lần,
thời gian khai thác tinh từ 8 đến 9 giờ sáng, lặp
lại 10 lần. Các chỉ tiêu chất lượng tinh dịch được
đánh giá riêng từng cá thể và lấy giá trị trung
bình để phân tích và so sánh.
Nội dung 2: dựa vào các kết quả công bố của
Sharma (1996), Pena (2003), Xuyen (2004),
Lanzafame (2009), Lampiao (2012) khi nghiên
cứu vai trò của caffein trong quá trình thụ tinh
ở lợn và người; hiệu quả của việc bổ sung
caffeine trong môi trường pha loãng tinh lợn, từ
đó đề xuất các mức hàm lượng caffeine bổ sung
trong môi trường pha loãng tinh để tiến hành
thử nghiệm hiệu quả bảo quản tinh dê thông
qua việc đánh giá các chỉ tiêu chất lượng các
mẫu tinh dê bảo quản. Mẫu tinh của các dê đực
thí nghiệm được trộn đều để loại bỏ yếu tố khác
biệt về cá thể và giống. Mẫu tinh được xác định
các chỉ tiêu chất lượng tinh, lượng tinh thu
nhận được chia đều cho số lượng các môi trường
thí nghiệm và nhân đôi cho hai nhiệt độ bảo
quản, tinh được pha loãng với các môi trường
bảo quản có bổ sung hàm lượng khác nhau của
caffeine và lòng đỏ trứng gà theo bội số pha
loãng 1:10. Thí nghiệm được lặp lại 6 lần, tương
ứng với 6 lần khai thác tinh với tần suất khai
thác là 5 ngày/lần. Các chỉ tiêu chất lượng tinh
bảo quản được đánh giá sau 24, 72 và 120 giờ
sau pha loãng.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Lựa chọn con đực để thai thác tinh
Dê đực giống được chọn là các cá thể dê
giống thuần thuộc 3 giống là dê Boer, dê Saanen
và dê Alpine, có nguồn gốc lý lịch rõ ràng, khỏe
mạnh, kiểu hình đẹp, ở độ tuổi từ 2-4 tuổi. Dê
đực giống có những đặc điểm đặc trưng cho
phẩm giống, được thể hiện ở các đặc điểm về
ngoại hình và thể chất của con vật. Dê đực giống
được chọn không có bệnh tật, ngực và ức nở,
chân khỏe, gót cao, không có khuyết tật.
2.4.2. Pha loãng và bảo quản tinh trùng
Sau khi đưa tinh nguyên trong vòng 10
phút từ vị trí khai thác tinh về tới phòng thí
nghiệm, nhanh chóng xác định nồng độ tinh
nguyên để xác định tỷ lệ pha loãng: lấy 5µl
tinh nguyên cho vào dung dịch NaCl 10%, lắc
đều, lấy 2 giọt cho vào 2 phía của buồng đếm
hồng cầu Neu Bauer → xác định mật độ tinh
trùng → tính nồng độ → lượng cần pha vào 1
liều tinh pha loãng. Ủ ấm môi trường đạt đến
và duy trì ở 34C (ủ ít nhất 1h30 phút trước
khi pha loãng tinh). Lắc đều, pha tỷ lệ 1:1, sau
đó tăng dần lên tỷ lệ 1:10. Các thao tác trong
quá trình pha loãng phải nhẹ nhàng (tránh gây
tổn thương tinh trùng) nhưng vẫn phải đảm
bảo độ phân bố đều của tinh trùng trong môi
trường, tránh lây nhiễm vi sinh vật gây bệnh.
Chỉ được rót môi trường vào tinh dịch, tuyệt
đối không làm ngược lại. Khi rót phải rót từ từ
để cho môi trường chảy theo thành bình, không
được rót mạnh và trực tiếp vào tinh dịch. Ghi
nhãn hiệu của liều tinh gồm thông tin về ngày
pha loãng, môi trường sử dụng, nhiệt độ bảo
quản. Cân bằng 90 phút ở nhiệt độ phòng để
tinh trùng có thể thích nghi với môi trường mới
và hạ dần nhiệt độ, sau đó cho lọ tinh pha vào
bảo quản ở 2 tủ bảo ôn 5oC và 15oC. Trong thời
gian bảo quản, hạn chế mở cửa tủ bảo ôn,
tránh làm thay đổi nhiệt độ bảo quản ảnh
hưởng đến kết quả thí nghiệm.
2.4.3. Xác định pH của tinh dịch
Sử dụng giấy quỳ xác định pH của tinh
nguyên, giá trị pH được so sánh bằng phương
pháp so màu, cần xác định ngay khi tinh được
vận chuyển về phòng thí nghiệm (trong vòng
15 phút sau khi thai thác tinh). Việc xác định
pH tinh nguyên cần được tiến hành nhanh,
đảm bảo thời gian tối thiểu cho đến thời điểm
pha tinh.
Ngô Thành Trung, Trần Thị Chi, Vũ Hải Yến, Nguyễn Tuấn Dũng, Trịnh Thị Linh Chi, Sử Thanh Long
873
Bảng 1. Kết quả đánh giá chất lượng tinh của các giống dê nghiên cứu
Các chỉ tiêu chất lượng tinh
Giống dê (Mean ± SD)
Boer Saanen Alpine
Thể tích tinh dịch (V-ml) 1,32
a
± 0,08
1,13
b
± 0,08
0,95
c
± 0,06
Hoạt lực tinh trùng (A-%) 81,8
a
± 5,14
83,2
a
± 4,62
85,5
a
± 3,50
Nồng độ tinh trùng (C-tỷ tinh trùng/ml) 2,67
a
± 0,09
2,65
a
± 0,12
2,78
b
± 0,04
Tổng số tinh trùng tiến thẳng/lần khai thác (tỷ tinh trùng) 2,83
a
± 0,06
2,84
a
± 0,06
2,89
b
± 0,02
pH tinh dịch 6,87
a
± 0,04
6,85
a
± 0,03
6,81
b
± 0,02
Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình (K-%) 12,2
a
± 0,25
10,37
b
± 0,31
14,14
c
± 0,37
Ghi chú: n = 10; trên cùng một dòng, các giá trị có chữ cái bên trên khác nhau thể hiện sự sai khác có ý nghĩa
thống kê với P <0,05. Mean: Giá trị trung bình, SD: Độ lệch chuẩn.
2.4.4. Xác định nồng độ tinh trùng
Chuẩn bị dụng cụ: ống Fancol 10ml, buồng
đếm Neubauer, lamen, micropipette, đầu côn,
kính hiển vi. Hóa chất sử dụng là NaCl 10%.
Đối với tinh nguyên: sau khi đưa tinh nguyên về
tới phòng thí nghiệm, nhanh chóng lấy 5µl tinh
nguyên trộn đều trong 9.995µl dung dịch NaCl
10%, lắc đều, đưa dung dịch vào 2 phía của
buồng đếm hồng cầu Neu Bauer → xác định mật
độ tinh trùng → tính nồng độ → lượng cần pha
vào 1 liều tinh pha loãng. Chú ý: đối với tinh
nguyên, cần xác định mật độ tinh trùng thật
nhanh chóng và chính xác để xác định liều
lượng tinh pha. Tránh để tinh trùng chờ lâu
trước lúc pha tinh làm ảnh hưởng xấu đến chất
lượng tinh bảo quản.
2.4.5. Xác định tinh trùng kỳ hình
Làm tiêu bản cố định và quan sát trên
kính hiển vi với độ phóng đại 1.000 lần. Cho
10µl tinh pha vào ống Eppendorf có chứa 700µl
dung dịch Formolcitrate 4%. Dùng lam kính
sạch, sấy khô, nhỏ một giọt tinh pha đã được cố
định lên lam. Dùng lamen sạch, trong, đã sấy
khô đặt nghiêng từ từ lên phần lam kính có
chứa giọt tinh pha, sao cho tiêu bản được cố
định mà không có bọt khí. Phần dung dịch
thừa được thấm hết bằng giấy thấm. Đưa tiêu
bản đã cố định lên quan sát trên kính hiển vi.
Quan sát và đếm số tinh trùng kỳ hình trong
tổng số 200 tế bào đã quan sát được. tỷ lệ tinh
trùng kỳ hình được tính bằng tổng số tinh
trùng kỳ hình đếm được chia cho 200 tổng số
tinh trùng được đếm.
2.4.6. Xác định hoạt lực tinh trùng
Xác định hoạt lực tinh trùng của tinh
nguyên: nhỏ 3 giọt tinh nguyên lên lam kính,
quan sát trên kính hiển vi, xác định tỷ lệ %
tinh trùng tiến thẳng sau khi quan sát từ 3
giọt tinh nguyên.
2.4.7. Xử lý số liệu
Số liệu được tổng hợp bằng phần mềm
Excel, phân tích thống kê bằng phần mềm SAS
9.0. So sánh giá trị trung bình bằng T-test với
sai khác có ý nghĩa thống kê khi P <0,05.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Chất lượng tinh dịch của các giống dê
nghiên cứu
Lượng tinh dịch trung bình một lần lấy
tinh của các giống dê rất thấp (dao động trong
khoảng 0,6-2ml). Lượng tinh dịch của các giống
dê khác nhau là khác nhau và nó phụ thuộc
vào từng giống. Nồng độ tinh trùng trung bình
của các dê đực sử dụng trong thí nghiệm này là
rất cao. Độ pH của tinh dịch ảnh hưởng tới sức
sống và khả năng thụ thai của tinh trùng bởi vì
pH có quan hệ tới quá trình trao đổi chất của
tinh trùng thông qua hệ thống enzyme của
chúng. Độ pH của các mẫu tinh dê của ba giống
Ảnh hưởng của môi trường pha loãng bổ sung lòng đỏ trứng gà và caffeine đến chất lượng tinh dê
874
dê nghiên cứu có giá trị tương đương với trung
bình của loài dê. Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình của
các mẫu tinh kiểm tra tương đối cao và có sự
khác nhau có ý nghĩa thống kê với P <0,05 giữa
các giống.
So với công bố của Karagiannidis & cs.
(1999) về các chỉ tiêu chất lượng tinh dê Saanen
và Alpine lần lượt: thể tích tinh dịch là 1,15 và
1,27ml, nồng độ tinh trùng là 3,63 và 3,61 tỷ
tinh trùng/ml, hoạt lực tinh trùng là 64,4 và
59,8%, tỷ lệ tinh trùng kỳ hình là 8,41 và
10,27%. Theo công bố của Yodmingkwan & cs.
(2016) về các chỉ tiêu chất lượng tinh dê Boer:
thể tích tinh dịch là 1,15ml, nồng độ tinh trùng
là 3,0 tỷ tinh trùng/ml, hoạt lực tinh trùng là
80,83%, tỷ lệ tinh trùng kỳ hình dưới 15%. Theo
tiêu chuẩn về chất lượng tinh dê trong TCVN
9715:2013 về Dê giống - Yêu cầu kỹ thuật (chỉ
mới có tiêu chuẩn đối với giống dê Boer) với yêu
cầu về thể tích tinh dịch tối thiểu là 0,6ml, hoạt
lực tinh trùng trên 52%, nồng độ tinh trùng trên
1,5 tỷ tinh trùng/ml. Như vậy, các cá thể đực
giống thí nghiệm của 3 giống dê trong nghiên
cứu này có chất lượng tinh tương đối tốt, tương
đương với công bố của các tác giả trên thế giới
và Việt Nam.
Bảng 2. Hoạt lực tinh trùng được bảo quản ở 5C trong các môi trường TCG
có bổ sung lòng đỏ trứng gà và caffeine (%)
Môi trường
Thời gian bảo quản (Mean ± SD)
24 giờ 72 giờ 120 giờ
Môi trường TCG 74,26
a
± 1,81
57,78
c
± 2,89
36,80
b
± 2,45
Môi trường TCG + 0,02g/l caffeine 75,19
a
± 2,69
57,96
c
± 2,50
36,30
b
± 2,33
Môi trường TCG + 0,03g/l caffeine 75,37
a
± 1,33
62,78
b
± 2,53
37,60
b
± 2,90
Môi trường TCG + 0,04g/l caffeine 74,44
a
± 1,60
57,41
c
± 2,55
35,93
b
± 1,98
Môi trường TCG + 5% lòng đỏ trứng gà 74,07
a
± 1,98
62,85
b
± 3,44
40,19
a
± 2,19
Môi trường TCG + 10% lòng đỏ trứng gà 74,82
a
± 2,94
66,11
a
± 2,53
42,04
a
± 2,50
Môi trường TCG + 15% lòng đỏ trứng gà 73,70
a
± 2,23
63,15
b
± 2,46
40,74
a
± 2,28
Môi trường TCG + 20% lòng đỏ trứng gà 73,89
a
± 2,12
62,96
b
± 2,50
40,56
a
± 1,60
Ghi chú: Trên cùng một cột, các giá trị có chữ cái bên trên khác nhau thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê
với P <0,05; Mean: Giá trị trung bình; SD: Độ lệch chuẩn.
Bảng 3. Hoạt lực tinh trùng được bảo quản ở 15C trong các môi trường TCG
có bổ sung lòng đỏ trứng gà và caffeine (%)
Môi trường
Thời gian bảo quản (Mean ± SD)
24 giờ 72 giờ 120 giờ
Môi trường TCG 73,52
a
± 2,33
56,85
b
± 2,82
37,78
b
± 2,53
Môi trường TCG + 0,02 g/l caffeine 73,15
a
± 2,46
57,41
b
± 2,55
39,07
b
± 1,98
Môi trường TCG + 0,03 g/l caffeine 74,44
a
± 1,60
62,04
a
± 2,50
42,04
a
± 2,50
Môi trường TCG + 0,04 g/l caffeine 72,78
a
± 2,53
56,67
b
± 2,40
38,52
b
± 2,33
Môi trường TCG + 5% lòng đỏ trứng gà 73,14
a
± 2,46
0,0 ± 0,0
0,0 ± 0,0
Môi trường TCG + 10% lòng đỏ trứng gà 73,40
a
± 2,33
0,0 ± 0,0
0,0 ± 0,0
Môi trường TCG + 15% lòng đỏ trứng gà 74,63
a
± 2,37
0,0 ± 0,0
0,0 ± 0,0
Môi trường TCG + 20% lòng đỏ trứng gà 73,33
a
± 2,40
0,0 ± 0,0
0,0 ± 0,0
Ghi chú: Trên cùng một cột, các giá trị có chữ cái bên trên khác nhau thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê
với P <0,05; Mean: Giá trị trung bình; SD: Độ lệch chuẩn.
Ngô Thành Trung, Trần Thị Chi, Vũ Hải Yến, Nguyễn Tuấn Dũng, Trịnh Thị Linh Chi, Sử Thanh Long
875
3.2. Kết quả đánh giá ảnh hưởng của việc
bổ sung lòng đỏ trứng gà và caffeine trong
môi trường đến chất lượng tinh bảo quản
3.2.1. Ảnh hưởng của việc bổ sung lòng đỏ
trứng và caffeine trong môi trường đến
hoạt lực tinh bảo quản
Chỉ tiêu hoạt lực tinh trùng được coi là chỉ
tiêu quan trọng nhất đối với việc đánh giá chất
lượng tinh trùng bảo quản, thể hiện khả năng
thụ tinh của liều tinh pha loãng. Kết quả đánh
giá chỉ tiêu hoạt lực tinh trùng của các liều tinh
pha loãng bằng 8 môi trường thí nghiệm ở nhiệt
độ 5C và 15C theo thời gian bảo quản được thể
hiện lần lượt trong bảng 2 và 3.
Kết quả theo dõi hoạt lực của tinh bảo quản
tại các mốc thời gian khác nhau cho thấy hoạt
lực của tinh trùng giảm dần theo thời gian. Sau
24 giờ bảo quản (ngày thứ nhất sau khai thác và
bảo quản tinh), hoạt lực tinh trùng của các liều
tinh được bảo quản trong các môi trường TCG,
môi trường TCG + 0,02 g/l caffeine, môi trường
TCG + 0,03 g/l caffeine, môi trường TCG + 0,04
g/l caffeine, môi trường TCG + 5% EY (EY là
viết tắt của lòng đỏ trứng gà), môi trường TCG +
10% EY, môi trường TCG + 15% EY, môi trường
TCG + 20% EY không có sự sai khác giữa các
môi trường. Tại thời điểm bảo quản 72 giờ, hoạt
lực tinh trùng được bảo quản trong môi trường
TCG, môi trường TCG + 0,02 g/l caffeine, môi
trường TCG + 0,04 g/l caffeine thấp hơn so với
hoạt lực tinh trùng của các liều tinh được bảo
quản trong môi trường TCG + 0,03 g/l caffeine,
môi trường TCG + 5% EY, môi trường TCG +
10% EY, môi trường TCG + 15% EY, môi trường
TCG + 20% EY. Kết quả tại thời điểm 72 giờ sau
bảo quản được trình bày ở Bảng 3.3. Như vậy,
hoạt lực tinh trùng được bảo quản trong môi
trường TCG + 5% EY, môi trường TCG + 10%
EY, môi trường TCG + 15% EY, môi trường TCG
+ 20% EY ổn định và giảm nhẹ theo thời gian so
với các môi trường TCG, môi trường TCG +
0,02g/l caffeine, môi trường TCG + 0,03 g/l
caffeine, môi trường TCG + 0,04 g/l caffeine.
Theo yêu cầu kỹ thuật đối với tinh dê bảo quản
đủ điều kiện thụ tinh nhân tạo (Nguyễn Tấn
Anh, 1995), hoạt lực của tinh trùng >60% mới
đạt tiêu chuẩn thụ tinh. Hoạt lực tinh trùng của
các liều tinh được bảo quản bằng các môi trường
sau 120 giờ bảo quản đều thấp hơn 60%, không
đủ tiêu chuẩn thụ tinh nhân tạo. Như vậy, ở 5C
môi trường TCG có bổ sung EY thích hợp để bảo
quản tinh trùng dê đạng lỏng. Ở nhiệt độ này,
hàm lượng caffeine và EY tốt nhất khi bổ sung
vào môi trường bảo quản lần lượt là: 0,03 g/l và
15%. Việc bổ sung caffeine trong môi trường pha
loãng tinh giúp bảo quản tinh dê tốt hơn, tương
đồng với kết quả nghiên cứu của Xuyen L.T.
(2004) khi nghiên cứu bổ sung caffeine trong
môi trường bảo quản tinh lợn.
Kết quả theo dõi hoạt lực của tinh bảo quản
tại các mốc thời gian khác nhau cho thấy hoạt
lực của tinh trùng giảm dần theo thời gian. Sau
24 giờ bảo quản (ngày thứ nhất sau khai thác và
bảo quản tinh), hoạt lực tinh trùng của các liều
tinh được bảo quản trong các môi trường TCG,
môi trường TCG + 0,02 g/l caffeine, môi trường
TCG + 0,03 g/l caffeine, môi trường TCG + 0,04
g/l caffeine, môi trường TCG + 5% EY, môi
trường TCG + 10% EY, môi trường TCG + 15%
EY, môi trường TCG + 20% EY không có sự sai
khác không rõ rệt giữa các môi trường. Tại 72
giờ bảo quản hoạt lực tinh trùng của môi trường
TCG + 0,03 g/l caffeine đạt cao nhất là 62,04 ±
2,50 cho phép bảo quản tinh và phối tới ngày
thứ 3 (72 giờ sau bảo quản). Môi trường TCG có
bổ sung lòng đỏ trứng gà ở các hàm lượng khác
nhau có hoạt lực bằng 0. Hoạt lực tinh trùng
của các liều tinh được bảo quản bằng các môi
trường sau 120 giờ bảo quản đều nhỏ hơn 60%,
không đủ tiêu chuẩn thụ tinh nhân tạo. Theo số
liệu Bảng 3.4, ta thấy môi trường TCG có bổ
sung lòng đỏ trứng gà không thích hợp sử dụng
trong môi trường pha loãng dài ngày ở nhiệt độ
15C. Hàm lượng caffeine tốt nhất cho bảo quản
tinh trùng là 0,03 g/l. Từ các kết quả trên, có
thể thấy ở nhiệt độ 15C các chất bổ sung với
hàm lượng tối ưu cho hoạt lực tinh bảo quản là:
0,03 g/l caffeine, 15% EY. Còn đối với 5C các
chất bổ sung với hàm lượng tối ưu cho hoạt lực
tinh bảo quản của caffeine và EY lần lượt là:
0,03 g/l; 10%.
Ảnh hưởng của môi trường pha loãng bổ sung lòng đỏ trứng gà và caffeine đến chất lượng tinh dê
876
3.2.2. Kết quả chỉ tiêu tỷ lệ tinh trùng kỳ
hình của tinh pha loãng bằng các môi
trường khác nhau theo thời gian bảo quản
Tinh trùng kỳ hình là chỉ tiêu quan trọng
đánh giá chất lượng tinh pha loãng tại các thời
điểm kiểm tra chất lượng tinh trùng bảo quản, vì
tỷ lệ tinh trùng kì hình liên quan đến khả năng
thụ tinh của tinh trùng. Tinh trùng kỳ hình có
hình thái học không bình thường ở đầu, cổ, thân,
đuôi. Chúng không có khả năng thụ tinh. Nếu tỷ
lệ tinh trùng kỳ hình quá nhiều thì tỷ lệ tinh
trùng có khả năng thụ tinh thấp, liều tinh đó sẽ
bị loại bỏ. Theo tiêu chuẩn kỹ thuật, tỷ lệ tinh
trùng kỳ hình của tinh bảo quản đạt yêu cầu kỹ
thuật cho thụ tinh nhân tạo là dưới 20%.
Tỷ lệ % tinh trùng kỳ hình tổng số của các
mẫu tinh dịch pha loãng, bảo quản bằng 8 loại
môi trường thí nghiệm ở nhiệt độ 5°C và 15C
được thể hiện ở bảng 4 và 5.
Theo kết quả trình bày trong bảng 4, tỷ lệ
tinh trùng kỳ hình ở 5C của các mẫu tăng theo
thời gian bảo quản, ở mẫu tinh pha loãng bằng
môi trường TCG + 20% EY và môi trường TCG +
0,04 g/l caffeine có tỷ lệ tinh trùng kỳ hình tương
đương nhau nhưng đều thấp hơn so với giá trị
20%. Trên cơ sở đó, 8 môi trường nghiên cứu đều
cho tỷ lệ tinh trùng kỳ hình đạt so với yêu cầu về
chỉ tiêu tinh trùng kỳ hình theo tiêu chuẩn kỹ
thuật ở tất cả các mốc thời gian bảo quản.
Bảng 4. Ảnh hưởng của lòng đỏ trứng gà và
caffeine trong môi trường đến tỷ lệ tinh trùng kỳ hình của tinh bảo quản ở 5C (%)
Môi trường
Thời gian bảo quản (Mean ± SD)
24 giờ 72 giờ 120 giờ
Môi trường TCG 11,86
a
± 0,41
13,44
a
± 0,34
15,74
a
± 0,38
Môi trường TCG + 0,02 g/l caffeine 11,53
a
± 0,40
12,58
b
± 0,46
14,97
b
± 0,47
Môi trường TCG + 0,03 g/l caffeine 11,67
a
± 0,38
12,78
b
± 0,43
15,61
a
± 0,32
Môi trường TCG + 0,04 g/l caffeine 11,89
a
±0,44
13,25
a
± 0,43
15,78
a
± 0,26
Môi trường TCG + 5% lòng đỏ trứng 10,89
b
± 0,32
12,33
b
± 0,34
14,67
b
± 0,66
Môi trường TCG + 10% lòng đỏ trứng 10,94
b
± 0,34
12,47
b
± 0,53
14,89
b
± 0,63
Môi trường TCG + 15% lòng đỏ trứng 11,14
b
± 0,29
12,78
b
± 0,52
15,11
b
± 0,53
Môi trường TCG + 20% lòng đỏ trứng 11,61
a
± 0,21
13,31
a
± 0,52
15,78
a
± 0,43
Ghi chú: Trên cùng một cột, các giá trị có chữ cái bên trên khác nhau thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê
với P <0,05; Mean: Giá trị trung bình; SD: Độ lệch chuẩn.
Bảng 5. Ảnh hưởng của lòng đỏ trứng gà và
caffeine trong môi trường đến tỷ lệ tinh trùng kỳ hình của tinh bảo quản ở 15C (%)
Môi trường
Thời gian bảo quản(Mean ± SD)
24 giờ 72 giờ 120 giờ
Môi trường TCG 13,22
a
± 0,35
15,17
a
± 0,24
16,81
a
± 0,43
Môi trường TCG + 0,02 g/l caffeine 12,83
a
± 0,42
14,86
a
± 0,29
16,19
b
± 0,46
Môi trường TCG + 0,03 g/l caffeine 12,92
a
± 0,39
14,92
a
± 0,31
16,56
a
± 0,24
Môi trường TCG + 0,04 g/l caffeine 13,19
a
± 0,35
15,06
a
± 0,34
16,61
a
± 0,32
Môi trường TCG + 5% lòng đỏ trứng 12,03
b
± 0,46
- -
Môi trường TCG + 10% lòng đỏ trứng 12,11
b
± 0,44
- -
Môi trường TCG + 15% lòng đỏ trứng 12,28
b
± 0,49
- -
Môi trường TCG + 20% lòng đỏ trứng 12,33
b
± 0,45
- -
Ghi chú: Trên cùng một cột, các giá trị có chữ cái bên trên khác nhau thể hiện sự sai khác có ý nghĩa thống kê
với P <0,05; Mean: Giá trị trung bình; SD: Độ lệch chuẩn.
Ngô Thành Trung, Trần Thị Chi, Vũ Hải Yến, Nguyễn Tuấn Dũng, Trịnh Thị Linh Chi, Sử Thanh Long
877
Ở nhiệt độ bảo quản là 15C thì tỷ lệ tinh
trùng kỳ hình của các liều tinh bảo quản có xu
hướng tăng theo thời gian bảo quản và được
trình bày cụ thể ở bảng 5. Theo đó, môi trường
TCG có tỷ lệ tinh trùng kỳ hình cao nhất
(16,81 ± 0,43) nhưng vẫn nằm trong ngưỡng giới
hạn (<20%). Theo tiêu chuẩn kỹ thuật đối với
chỉ tiêu tinh trùng kỳ hình cho các liều tinh bảo
quản thì 8 môi trường đều đạt yêu cầu cho phối.
4. KẾT LUẬN
Việc bổ sung caffeine với hàm lượng 0,03 g/l
môi trường TCG cho hiệu quả bảo tồn tinh dê
tốt hơn ở cả 2 nhiệt độ. Nếu bảo quản tinh ở
nhiệt độ 5oC thì lòng đỏ trứng gà nên được bổ
sung vào môi trường TCG với hàm lượng 10%,
có thể kéo dài thời gian bảo quản tinh đảm bảo
cho thụ tinh cho tới 72 giờ. Nếu bảo quản tinh ở
nhiệt độ 15oC, nên bổ sung 15% lòng đỏ trứng
gà, tuy nhiên thời gian bảo quản tinh dê không
quá 24 giờ. Nên có những nghiên cứu tiếp theo
thử nghiệm trong thực tế để kiểm chứng chất
lượng tinh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Asadpour R., Jafari R. & Nasrabadi H.T. (2011).
Influence of Added Vitamin C and Vitamin E on
Frozen-Thawed Bovine Sperm Cryopreserved in
Citrate and Tris-Based Extenders. Veterinary
Research Forum. 2(1): 37-44.
El-Battawy K.A. (2019). Preservation of goat semen at
5°C with emphasis on its freezability and the
impact of melatonin. Int J Vet Sci Res.
5(2): 035-038
Ferdinand N., Ngwa T.D., Augustave K., Dieudonné
B.P.H., Willington B.O., D’Alex T.C., Pierre K. &
Joseph T. (2014). Effect of Egg Yolk
Concentration in Semen Extender, pH Adjustment
of Extender and Semen Cooling Methods on
Bovine Semen Characteristics. Global Veterinaria.
12 (3): 292-298.
Karagiannidis A., Varsakeli S. & Karatzas G. (1999).
Characteristics and seasonal variations in the
semen of Alpine, Saanen and Damascus goat bucks
born and raised in Greece. Thriogenology.
53: 1285-1293.
Kubovičová, Ríha Ľ., Makarevich A.V., Apolen D. &
Pivko J. (2010). Effect of different semen
extenders and additives to insemination doses on
ewe´s pregnancy rate. Slovak J. Anim. Sci.
43(3): 118-122.
Lampiao F. (2012). Free radicals generation in an in
vitro fertilization setting and how to minimize
them. World Journal of Obstetrics and
Gynecology. 1: 29-34.
Lanzafame F.M., La Vignera S., Vicari E. & Calogero
A.E. (2009). Oxidative stress and medical
antioxidant treatment in male infertility.
Reproductive Bio Medicine Online. 19: 638-59.
Long J.A. & Kramer M. (2003). Effect of vitamin E on
lipid peroxidation and fertility after artifificial
insemination with liquid-stored turkey semen.
Poultry Science. 82: 1802-1807.
Memon A.A., Wahid H., Rosnina Y., Goh Y.M.,
Ebrahimi M., Nadia F.M. & Audrey G. (2011).
Effect of butylated hydroxytoluene on
cryopreservation of Boer goat semen. Animal
Reproduction Science. 129(1-2): 44-49.
Mendez M.F.B., Zangeronimo M.G., Rocha L.G.P.,
Faria B.G., Pereira B.A., Fernandes C.D., Chaves
B.R., Murgas L.D.S. & Sousa R.V. (2012). Effect
of the addition of IGF-I and vitamin E to stored
boar semen. Animal. 7(5): 93-798. doi:10.1017/S1
751731112002285.
Nguyễn Tấn Anh (1995). Một số kết quả bước đầu
nghiên cứu về dê đực Bách Thảo. Tạp chí Khoa
học - Công nghệ và Quản lý kinh tế. 8: 296-297.
Ngoma L., Kambulu L. & Mwanza M. (2016). Factors
Influencing Goat’s Semen Fertility and Storage A
Literature Review. Journal of Human Ecology.
561(2): 114-125
Pech-Sansores A.G.C., Centurión-Castro F.G.,
Rodríguez-Buenfil J.C., Segura-Correa J.C., Aké-
Lope J.R. (2011). Effect of the addition of seminal
plasma, vitamin E and incubation time on post-
thawed sperm viability in boar semen. Tropical and
Subtropical Agroecosystems. 14: 965-971.
Pena F.J., Johannisson A., Wallgren M. & Rodriguez
Martinez H. (2003). Antioxidant supplementation
in vitro improves boar sperm motility and
mitochondrial membrane potential after
cryopreservation of different fractions of the
ejaculate. Animal Reproduction Science.
78: 85-98.
Pour H.A., Tahmasbi A.M. & Naserain A.A. (2013).
The influence of vitamin E on semen
characteristics of ghezel rams in during cooling
and frozen process. European Journal of
Zoological Research. 2(5): 94-99.
Sharawy S.M., Saleh N.H., Attalah S.A., Absy G.M. &
Doaa H.K. (2015). Studies on the effect of added
Ảnh hưởng của môi trường pha loãng bổ sung lòng đỏ trứng gà và caffeine đến chất lượng tinh dê
878
ascorbic acid and trehalose to tris buffered egg
yolk extender on chilled ram semen. MENA
Science Journal - MENASJ. 1(1): 1-4.
Sharma R.K. & Agarwal A. (1996). Role of reactive
oxygen species in male infertility. Urology.
48: 835-850.
Tabatabaei S., Batavani R. & Ayen E. (2011). Effects
of vitamin e addition to chicken semen on sperm
quality during in vitro storage of semen. Veterinary
Research Forum. 2(2): 103-111 .
Tiêu chuẩn Việt Nam (2013) - TCVN 9715:2013 về Dê
giống - Yêu cầu kỹ thuật.
Xuyen L.T. (2004). Influence of extender components
on the liquid preservation of boar sperm. PhD
thesis, Hannover University of Veterimary
Medicine, Germany.
Yodmingkwan P., Guntaprom S., Jaksamrit J. &
Lertchunhakiat K. (2016). Effects of Extenders on
Fresh and Freezing Semen of Boer Goat.
Agriculture and Agricultural Science Procedia.
11: 125-130
Zhao X.L., Li Y.K., Cao S.J., Hu J.H., Wang W.H.,
Hao R.J., Gui L.S. & Zan L.S. (2015). Protective
effects of ascorbic acid and vitamin E on
antioxidant enzyme activity of freeze-thawed
semen of Qinchuan bulls.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
anh_huong_cua_moi_truong_pha_loang_bo_sung_long_do_trung_ga.pdf