Ảnh hưởng của một số loài thuốc trừ nấm đến tỷ lệ nảy mầm, sự phát triển của tản nấm và khả năng hình thành bào tử của nấm beauveria bassiana (bals)

Cây ngũ sắc có tên khoa học là Lantana camara L. (Camara vulgaris Benth., Lantana scabrida Ait., Lantana mexicana Turner, Lantana mixta Medik., ). Cây ngũ sắc có vị trí phân loại như sau: giới thực vật Plantae, ngành Spermatophyta, lớp Dicotyledonae, bộ Lamiales, họ Verbenaceae, chi Lantana, loài Lantana camara L. Cây ngũ sắc còn có các tên Việt Nam khác như cây hoa ngũ sắc, bông ổi, thơm ổi, trâm ổi, Cây ngũ sắc là cây bụi lâu năm, có mùi thơm, kích thước trung bình (chiều cao 2-5 m). Thân gần thẳng đứng, hoặc giống thân bò, đôi khi giống thân leo (leo lên cây thân gỗ thấp hoặc cây thân bụi khác, leo được nhờ điểm bám là gai trên thân, nhánh thân hoặc lá cây). Cây ngũ sắc có bộ rễ khỏe, với một rễ cái và nhiều rễ phụ. Thân cây có 4 cạnh, đôi khi có gai. Thường thường có nhiều thân cùng mọc khỏi mặt đất. Lá mọc đối, có hình ô van hoặc hình mũi giáo rộng với chiều dài 2-12 cm và chiều rộng 2-6 cm. Mép lá có răng cưa. Mặt lá từ màu xanh vàng đến màu xanh, xù xì, có lông tơ nhỏ. Lá bốc ra mùi hăng khi nghiền nát. Hoa nhỏ sặc sỡ nhiều màu, có cuống, mọc dày thành cụm với 20-40 hoa, đường kính cụm hoa khoảng 4 cm. Cụm hoa có thể màu vàng, da cam, trắng, tím nhạt, hồng hoặc đỏ. Quả dạng quả hạch, hình tròn nhỏ, màu xanh sau thành màu tía và cuối cùng có màu xanh đen. Mỗi quả thường có 2 hạt. Theo APFISN (2017), một cây trưởng thành mỗi năm có thể sản sinh được 12.000 hạt và hạt cây ngũ sắc vẫn có thể sống sót khi cho qua lửa nóng nhất. Hạt tươi có sức nảy mầm thấp, nhưng sức nảy mầm gia tăng đáng kể khi hạt được đi qua đường tiêu hóa của chim hoặc động vật gặm nhấm, cáo. Nhiệt độ đất cao và cường độ chiếu sáng mạnh sẽ kích thích sự nảy mầm của hạt. Cây ngũ sắc có sức chịu đựng đối với sự biến động rộng của các điều kiện sinh thái, thích ứng với nhiều kiểu môi trường sống. Do đó, loài thực vật này bắt gặp ở nhiều môi trường sống khác nhau như đất hoang, đất rìa rừng, dải đất dọc bãi biển, những sinh cảnh bị phá vỡ như mép đường bộ, mép đường sắt, đất rừng sau cháy hay sau đốn hạ cây, đất nông nghiệp. Cây ngũ sắc có thể mọc ở bóng râm, nhưng sinh triển tốt nhất ở nơi không có bóng râm. Nó không thể xâm lấn rừng kín chưa bị tác động, nhưng có thể sinh trưởng phát triển ở rìa rừng và lan nhanh khi những khoảng trống rìa rừng gia tăng.

pdf9 trang | Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 12 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của một số loài thuốc trừ nấm đến tỷ lệ nảy mầm, sự phát triển của tản nấm và khả năng hình thành bào tử của nấm beauveria bassiana (bals), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 1/2018 42 7. Manjunath T.M., V.S. Bhatnagar, C.S. Pawar and S. Sithanantha, 1989. Economic importance of Heliothis spp. in India and assesment of their natural enemies and host plants. Proceeding of the Workshop on the Biological Control of Heliothis: Increasing the effectiviness of natural enemies. Nov.11-15, 1985. New Delhi, India, pp. 197-228. 8. Nasreen Abida and Ghulam Mustafa, 2000. Biology of Helicoverpa armigera (Hübner) reared in laboratory on natural diet. Pakistan Journal of Biological Sciences: 3(10): 1668-1669. 9. Smith Pardo A. H., 2014. The Old World Bollworm Helicoverpa armigera (Hübner) (Lepidoptera: Noctuidae: Heliothinae) Its Biology, Economic importance and Its recent Introduction into the Weastern Hemisphere. Boletin del Musio Entomólogico, Francisco Luis Gallego, Vol. 6(1): 18-28. 10. Venette R.C., E.E. Davis, J. Zaspel, H. Heisler, and M. Larson, 2003. Mini Risk Assessment Old World bollworm, Helicoverpa armigera (Hübner) (Lepidoptera: Noctuidae). Cooperative Agricultural Pest Survey, Animal and Plant Health Inspection Service, US Department of Agriculture. Phản biện: GS.TS.NCVCC. Phạm Văn Lầm ẢNH HƢỞNG CỦA MỘT SỐ LOÀI THUỐC TRỪ NẤM ĐẾN TỶ LỆ NẢY MẦM, SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TẢN NẤM VÀ KHẢ NĂNG HÌNH THÀNH BÀO TỬ CỦA NẤM Beauveria bassiana (BALS.) VUILL Effect of Commercial Fungicides on Conidial Germination, Vegetative Growth and Sporulation of Entomopathogenic Fungi Beauveria bassiana (Bals.) Vuill Huỳnh Hữu Đức 1 và Trần Văn Hai 2 Ngày nhận bài: 03.01.2018 Ngày chấp nhận: 26.02.2018 Abstract Entomopathogenic fungus Beauveria bassiana, a natural enemy of many species of insects, is an important biological agent to apply in the programme of Integrated Pest Management (IPM). To have a suitable strategy of using B. bassiana, we need to have basic knowledge about the compatibility of B. bassiana fungi with pesticides, specifically fungicides. Using B. bassiana, which was divided and selected with high toxicity, quick growth to evaluate the compatibility with fungicides at three concentrations (½ × RD), (1 × RD) and (2 × RD); (RD: Recommended dose) on conidial germination, vegetative growth and sporulation in the in-vitro condition. Most fungicides have a negative effect on vegetative growth and germination of B. bassiana fungi (Propiconazole + Tricyclazole, Azoxytrobin + Difenoconazole, Hexaconazole, Fenbuconazole, Picoxystrobin, Mancozeb and Kasugamycin), only three active ingredients, such as Metalaxyl, Fenoxanil, Validamycin, are ineffective to fungi at low concentration (½ × RD). Collected data in this research, which is the basis to recommend for applying successfully B. bassiana entomopathogenic fungi as a biocontrol agent in the IPM programmes. Keywords: Beauveria bassiana, Integrated Pest Management (IPM) 1. ĐĂT VẤN ĐỀ * Một tập hợp đa dạng của vi sinh vật khác nhau hiện đang được xem xét như là các tác nhân sinh học kiểm soát côn trùng như: virus, vi 1. Nghiên cứu sinh ngành Bảo vệ thực vật, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ. 2. Bộ môn Bảo vệ thực vật, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Trường Đại Học Cần Thơ. khuẩn, nguyên sinh động vật và nấm. Trong đó, giới nấm theo ước tính của các nhà khoa học có khoảng 1,5 triệu loài (Hawksworth, 2001), với khoảng 110.000 loài được mô tả (Kirk et al., 2008). Trong số này, 700 loài trong 90 chi được công nhận là tác nhân gây bệnh côn trùng (Roberts and Humber, 1981) và khoảng 170 sản phẩm kiểm soát dịch hại đã được phát triển dựa trên ít nhất 12 loài nấm gây bệnh côn trùng (De Faria and Wraight, 2007). Như vậy, nấm ký sinh Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 1/2018 43 côn trùng là kẻ thù tự nhiên của nhiều loài côn trùng, cung cấp một tác nhân sinh học quan trọng của hệ sinh thái góp phần kiểm soát dịch hại nhưng ít tác động tiêu cực với môi trường (Vestergaard et al., 2003). Các nghiên cứu tập trung phát triển và ứng dụng các loài ký sinh côn trùng thuộc Hyphomycetes trong đó có nấm Beauveria bassiana. Nấm Beauveria bassiana là loài nấm ký sinh gây bệnh trên côn trùng được quan tâm nghiên cứu phát triển và ứng dụng như là tác nhân phòng trừ sinh học do có phổ ký chủ rộng, ký sinh gây chết nhiều loại côn trùng gây hại cây trồng nông lâm nghiệp. Nấm Beauveria bassiana gây bệnh trên 700 loài côn trùng thuộc bộ cánh cứng (Coleoptera), cánh nửa (Hemiptera), cánh đều (Homoptera), cánh bằng (Isoptera), và sâu non của bộ cánh vẩy (Lepidoptera) (Dembilio et al., 2010; Phạm Thị Thùy, 2004) Tuy nhiên, một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chiến lược quản lý côn trùng bằng nấm ký sinh đó là tập quán sử dụng thuốc hóa học để quản lý dịch hại cây trồng. Trong đó, việc sử dụng thuốc hóa học trừ nấm để phòng trừ nấm bệnh gây hại cây trồng làm ảnh hưởng đến hiệu lực của nấm ký sinh côn trùng. Do vậy, mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá ảnh hưởng của một số thuốc diệt nấm đến sự nảy mầm bào tử vô tính, sinh trưởng và hình thành bào tử của nấm ký sinh B. bassiana, một tác nhân phòng trừ sinh học quan trọng được sử dụng trong các chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM). 2. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nguồn nấm ký sinh: Chủng nấm Beauveria bassiana ký sinh côn trùng được thu thập từ côn trùng ngoài tự nhiên và được tuyển chọn tại phòng thí nghiệm phát triển chế phẩm sinh học, Bộ môn Bảo vệ thực vật, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ. 2.2 Môi trƣờng nuôi cấy: Môi trường SDAY3 (Sabouraud Dextrose Agar Yeast + khoáng chất): 10g pepton, 40g dextrose, 2g yeast extract, 2g NaNO3, 1g KH2PO4, 0,5g MgSO4.7H2O, 20g agar, 1000ml nước cất, pH 6,5. 2.3 Chuẩn bị dung dịch bào tử nấm B. bassiana Bào tử nấm được thu nhận sau 15 ngày nuôi cấy ở nhiệt độ 27 o C trên môi trường SDAY3. Dung dịch bào tử được thu nhận bằng cách cạo lớp bào tử phát triển trên môi trường nuôi cấy với 5 ml dung dịch 0.05% Tween 20. Dung dịch bào tử được lắc đều để tách bào tử bằng máy vortex tạo thành dung dịch đồng nhất, sau đó dùng lam đếm đếm mật độ bào tử trên buồng đếm hồng cầu. 2.4 Kiểm tra sự nảy mầm của nấm B. bassiana Đánh giá tỷ lệ nẩy mầm theo phương pháp của Bugeme et al. (2008) có cải tiến. Trải đều 0,1 ml dịch bào tử (10 6 bào tử/ml trong dung dịch nước cất thanh trùng có chứa 0,05% Tween 20) trên các lame có phủ một lớp môi trường nuôi cấy SDAY3 làm đối chứng và môi trường SDAY3 có bổ sung thêm thuốc trừ nấm ở ba nồng độ (½ × LKC), (1 × LKC) và (2 × LKC), đặt ở nhiệt độ phòng và trong điều kiện tối. Mỗi mẫu phân lập thực hiện trên bốn lame tương ứng với bốn lần lặp lại. Tỷ lệ bào tử nẩy mầm (%) được đánh giá 2 giờ một lần trong vòng 24 giờ dưới kính hiển vi OLYMPUS DP20 với độ phóng đại 400 lần. Quan sát bốn thị trường/lame. 25 bào tử/thị trường, tổng số bào tử quan sát là 400 cho mỗi mẫu phân lập. 2.5 Đánh giá ảnh hƣởng của các loại thuốc trừ nấm đối với sự sinh trƣởng và phát triển của nấm ký sinh côn trùng B. bassiana Tên hoạt chất và tên thương mại của các loại thuốc trừ nấm bệnh sử dụng trong nghiên cứu được trình bày trong bảng 1. Thí nghiệm được thực hiện theo phương pháp của Hokkanen and Kotiluoto, 1992; Amutha et al., 2010 và Usha et al., 2014. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, năm lần lặp lại tương ứng với năm đĩa petri. Các công thức gồm 10 loại thuốc trừ nấm và công thức đối chứng không xử lý thuốc. Môi trường SDAY3 được hấp khử trùng ở nhiệt độ 121 o C trong 25 phút, để nguội khoảng 50 o C, sau đó cho từng loại thuốc khảo nghiệm vào môi tường nuôi cấy với ba nồng độ (½ × LKC), (1 × LKC) và (2 × LKC); (LKC: Liều Khuyến Cáo). Sau đó, cho 10 ml hỗn hợp môi trường và thuốc vào đĩa petri và cấy nấm Beauveria bassiana có đường kính 10 mm vào giữa đĩa môi trường hỗn hợp và đặt ở nhiệt độ phòng. Các chỉ tiêu theo dõi sau 15 ngày nuôi cấy và 24 ngày nuôi cấy gồm: Đường kính khuẩn lạc (cm): cách hai ngày đo chỉ tiêu sự phát triển của khuẩn lạc bằng cách lấy trung bình đường kính trên hai trục của khuẩn lạc theo công thức: Trong đó: d1 và d2 là độ dài hai đường chéo phần khuẩn lạc phân bố (d1 + d2) 2 d = Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 1/2018 44 Tính phần trăm sự phát triển của sợi nấm bị ức chế so với đối chứng theo công thức: Trong đó: I: % khuẩn lạc bị ức chế C: đường kính khuẩn lạc được đo ở nghiệm thức đối chứng T: đường kính khuẩn lạc được đo ở nghiệm thức xử lý thuốc (Theo công thức Abbott, 1925) Ảnh hưởng của thuốc được đánh giá theo bốn cấp độ: (Usha et al., 2014) Trong đó: T: là giá trị hiệu chỉnh của tốc độ tăng trưởng đường kính khuẩn lạc và khả năng tăng trưởng sinh sản để phân loại sản phẩm VG: là phần trăm tốc độ tăng trưởng đường kính khuẩn lạc và SP là phần trăm hình thành bào tử so với đối chứng. Các giá trị T để phân loại về hiệu quả của sản phẩm hóa học trên các loại nấm như: 0 - 30 (rất ảnh hưởng), > 30 - 45 (ảnh hưởng), > 45 - 60 (ảnh hưởng trung bình) và > 60 (không ảnh hưởng). Bảng 1. Tên hoạt chất và tên thƣơng mại của các loại thuốc thí nghiệm Hoạt chất Tên thương mại Liều khuyến cáo (ml / lít) Thuốc trừ nấm bệnh Propiconazole + Tricyclazole Tillage super 525SE 1 ml Azoxytrobin + Difenoconazole Amistartop 325SC 1 ml Hexaconazole Tecvil 50SC 1 ml Fenbuconazole Indar 240SC 1,1 ml Picoxystrobin Aproach 250SC 1,6 ml Mancozeb TaiYou 20SC 1,56 ml Metalaxyl Mataxyl 500WP 1,50 ml Fenoxanil Dithane M - 45 80WP 3,125 ml Validamycin Validan 5SL 3,75 ml Kasugamycin Kasumin 2SL 5 ml 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Kết quả sự phát triển của khuẩn lạc nấm được trình bày ở bảng 2 và hình 1(a,b) cho thấy sau 15 ngày thử thuốc, ở hai công thức chứa hoạt chất Propiconazole + Tricyclazole, Azoxytrobin + Difenoconazole và Hexaconazole cho kết quả ức chế hoàn toàn sự phát triển đường kính tản nấm Beauveria bassiana ở cả ba nồng độ thử nghiệm. Công thức chứa hoạt chất Fenbuconazole, Mancozeb và Kasugamycin có ảnh hưởng tương đối cao đối với sự phát triển đường kính tản nấm B. bassiana ở cả ba nồng độ, khi tăng nồng độ lên (2 × LKC) thì cả ba hoạt chất Fenbuconazole, Mancozeb và Kasugamycin có khả năng ức chế sự sinh trưởng cao lần lượt là (89%, 80% và 57%) so với hai nồng độ còn lại. Ba công thức chứa hoạt chất Metalaxyl, Fenoxanil và Validamycin ít ảnh hưởng tới sự phát triển đường kính tản nấm B. bassiana ở hai nồng độ thuốc (½ × LKC) và (1 × LKC), chỉ gây ức chế đường kính tản nấm phát triển trung bình ở nồng độ (2 x LKC) (24% - 45%). Hoạt chất Validamycin ít ảnh hưởng đến sự phát triển của nấm B. bassiana ở cả ba nồng độ. 20 [VG] + 80 [SP] 100 T = (C - T) C I = x 100 Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 1/2018 45 Ghi chú: (½ × LKC) 1 , (LKC) 2 và (2 × LKC) 3 Hình 1(a). Ảnh hƣởng của sáu loài thuốc trừ bệnh ở ba dãy nồng độ đối với sự phát triển của nấm Beauveria bassiana tại thời điểm 15 NSKC Kết quả mật độ bào tử nấm Beauveria bassiana hình thành sau 15 ngày sau khi cấy (NSKC) cho thấy các hoạt chất gây ức chế khuẩn lạc nấm phát triển cao thì có khả năng hình thành bào tử thấp (bảng 2). Ba hoạt chất Propiconazole + Tricyclazole, Azoxytrobin + Difenoconazole và Hexaconazole gây ức chế hoàn toàn sự phát triển của nấm, dẫn đến không hình thành bào tử, hoạt chất Fenbuconazole tuy tản nấm có phát triển nhưng không thể hình thành bào tử và bị ức chế hoàn toàn. Các hoạt chất còn lại đều bị ức chế hình thành bào tử cao (trên 50%) ở hai nồng độ (1 × LKC) và (2 × LKC). Tuy nhiên, ba hoạt chất Picoxystrobin, Mancozeb và Kasugamycin có khả năng ức chế cao ngay cả ở nồng độ (½ × LKC). Hai hoạt chất Metalaxyl và Validamycin gần như cho kết quả ức chế tương đương nhau ở cả ba nồng độ khảo nghiệm. Hoạt chất Fenoxanil cho khả năng ức chế hình thành bào tử thấp nhất ở nồng độ (½ × LKC) so với các hoạt chất còn lại. Ghi chú: (½ × LKC) 1 , (LKC) 2 và (2 × LKC) 3 Hình 1(b). Ảnh hƣởng của bốn loài thuốc trừ bệnh ở ba dãy nồng độ và nghiệm thức đối chứng đối với sự phát triển của nấm Beauveria bassiana tại thời điểm 15 NSKC Thang đánh giá độ độc của thuốc trừ nấm gây bệnh cây trồng đối với nấm ký sinh ký sinh côn trùng B. bassiana được tính theo công thức tính của theo công thức tính của Usha et al. (2014) cho thấy sáu hoạt chất Propiconazole + Tricyclazole, Azoxytrobin + Difenoconazole, Hexaconazole, Fenbuconazole, Picoxystrobin và Mancozeb ảnh hưởng rất nhiều đến sinh trưởng và phát triển của nấm B. bassiana ở cả ba nồng độ. Hoạt chất Kasugamycin có ảnh hưởng đến sinh trưởng của nấm ở mức độ ảnh hưởng tại hai nồng độ (½ × LKC) và (1 × LKC) và tăng khả năng ức chế lên mức độ rất ảnh hưởng tại Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 1/2018 46 nồng độ (2 × LKC). Trong điều kiện thí nghiệm ba hoạt chất Metalaxyl, Fenoxanil và Validamycin không ảnh hưởng sinh trưởng và phát triển của nấm B. bassiana ở nồng độ thấp (½ × LKC) và ảnh hưởng trung bình cho đến mức độ ảnh hưởng ở hai nồng độ (1 × LKC) và (2 × LKC). (bảng 3). Bảng 2. Ảnh hƣởng của các nồng độ thuốc trừ bệnh đến tỷ lệ nẩy mầm, sự phát triển tản nấm và mật độ bào tử của nấm Beauveria bassiana (ở điều kiện T = 28 ± 2 o C, H = 72 ± 4) Hoạt chất Nồng độ Tỷ lệ nẩy mầm (%) sau 24 giờ (TB ± SD) Đường kính khuẩn lạc (cm) Mật độ bào tử (x10 7 /cm 2 ) (TB ± SD) (%) Ức chế (TB ± SD) (%) Ức chế Propiconazole + Tricyclazole ½ × LKC 0 m 0 l 100 0 k 100 1 × LKC 0 m 0 l 100 0 k 100 2 × LKC 0 m 0 l 100 0 k 100 Azoxytrobin + Difenoconazole ½ ×LKC 0 m 0 l 100 0 k 100 1 × LKC 0 m 0 l 100 0 k 100 2 × LKC 0 m 0 l 100 0 k 100 Hexaconazole ½ × LKC 3,2 ± 0,04 lm 0 l 100 0 k 100 1 × LKC 0 m 0 l 100 0 k 100 2 × LKC 0 m 0 l 100 0 k 100 Fenbuconazole ½ × LKC 16,2 ± 0,09 j 1,37 ± 0,04 j 75 0 k 100 1 × LKC 17,8 ± 0,03 j 1,29 ± 0,05 j 76 0 k 100 2 × LKC 6,4 ± 0,04 kl 0,62 ± 0,57 k 89 0 k 100 Picoxystrobin ½ × LKC 51,6 ± 0,09 h 2,99 ± 0,07 g 45 1,36 ± 0,12 gh 85 1 × LKC 36,8 ± 0,03 i 2,56 ± 0,04 h 53 1,05 ± 0,13 hi 88 2 × LKC 36,2 ± 0,03 i 2,49 ± 0,04 h 54 0,38 ± 0,03 j 96 Mancozeb ½ × LKC 35,2 ± 0,09 i 2,54 ± 0,09 h 59 2,04 ± 0,18 f 77 1 × LKC 20,6 ± 0,04 j 2,09 ± 0,05 i 66 1,58 ± 0,21 g 82 2 × LKC 12,2 ± 0,03 jk 1,30 ± 0,07 j 80 0,57± 0,05 i 94 Metalaxyl ½ × LKC 96,4 ± 0,01ab 4,87 ± 0,07 c 21 6,75 ± 0,23 b 24 1 × LKC 90,4 ± 0,04 bcd 4,15 ± 0,05 d 33 3,83 ± 0,15 d 57 2 × LKC 81,6 ± 0,11 de 3,39 ± 0,02 f 45 2,65 ± 0,28 e 70 Fenoxanil ½ × LKC 83,4 ± 0,01 d 4,12 ± 0,03 d 24 7,09 ± 0,25 ab 20 1 × LKC 72,8 ± 0,03 ef 3,92 ± 0,04 de 28 4,02 ± 0,16 d 55 2 × LKC 67,8 ± 0,03 ef 3,72 ± 0,03 e 32 2,78 ± 0,30 e 69 Validamycin ½ × LKC 93,8 ± 0,01 abc 5,23 ± 0,06 b 16 5,34 ± 0,71 c 40 1 × LKC 90,4 ± 0,04 bcd 5,15 ± 0,06 b 17 4,83 ± 0,78 cd 45 2 × LKC 85,4 ± 0.07 cd 4,72 ± 0,08 c 24 2,94 ± 0,41 e 67 Kasugamycin ½ × LKC 83,4 ± 0.05 de 3,91 ± 0,02 de 28 2,94 ± 0,39 e 67 1 × LKC 59,8 ± 0,05 gh 3,14 ± 0,05 fg 42 2,16 ± 0,78 f 76 2 × LKC 48,2 ± 0,02 hi 2,33 ± 0,04 hi 57 1,17 ± 0,17 h 87 Đối chứng - 98,6 ± 0,01 a 5,80 ± 0,06 a 0,0 8,85 ± 0,15 a 0,0 Mức ý nghĩa * * - * - CV (%) 8,39 4,74 - 0,99 - Ghi chú: Trong cùng một cột các số trung bình có cùng chữ theo sau giống nhau thì không khác biệt nhau qua phép thử TUKEY HSD; *: Khác biệt có ý nghĩa mức 5%. LKC: Liều Khuyến Cáo Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Sè 1/2018 47 Bảng 3. Đánh giá độ độc của các loại thuốc trừ nấm bệnh với nấm ký sinh côn trùng B. bassiana Hoạt chất Nồng độ (½ x LKC) (1 x LKC) (2 x LKC) Propiconazole + Tricyclazole Rất ảnh hưởng (0) * Rất ảnh hưởng (0) Rất ảnh hưởng (0) Azoxytrobin + Difenoconazole Rất ảnh hưởng (0) Rất ảnh hưởng (0) Rất ảnh hưởng (0) Hexaconazole Rất ảnh hưởng (0) Rất ảnh hưởng (0) Rất ảnh hưởng (0) Fenbuconazole Rất ảnh hưởng (5) Rất ảnh hưởng (5) Rất ảnh hưởng (2) Picoxystrobin Rất ảnh hưởng (23) Rất ảnh hưởng (19) Rất ảnh hưởng (13) Mancozeb Rất ảnh hưởng (27) Rất ảnh hưởng (21) Rất ảnh hưởng (9) Metalaxyl Không ảnh hưởng (77) Ảnh hưởng trung bình (48) Ảnh hưởng (35) Fenoxanil Không ảnh hưởng (79) Ảnh hưởng trung bình (51) Ảnh hưởng (39) Validamycin Không ảnh hưởng (65) Ảnh hưởng trung bình (60) Ảnh hưởng (42) Kasugamycin Ảnh hưởng (41) Ảnh hưởng (31) Rất ảnh hưởng (19) Độ độc của thuốc tính theo công thức Usha et al. (2014) với các cấp độ: 0-30 (rất ảnh hưởng), > 30-45 (ảnh hưởng), >45-60 (ảnh hưởng trung bình) và > 60 (không ảnh hưởng) (công thức tính được nêu trong mục 2.3 thí nghiệm 2.6 Kết quả thí nghiệm trên phù hợp với các nhận định của Ambethgar et al. (2010) cho rằng hoạt chất Hexaconazole có ảnh hưởng ức chế hoàn toàn nấm Beauveria bassiana ở các nồng độ thí nghiệm dưới liều khuyến cáo 10 lần, liều khuyến cáo và trên liều khuyến cáo 10 lần, hoạt chất Propiconazole và Tricyclazole chỉ gây ức chế nấm B. bassiana ở nồng độ khuyến cáo và nồng độ cao hơn liều khuyến cáo 10 lần. Theo kết quả nghiên cứu của Gatarayiha et al. (2010) thì Azoxytrobin gần như vô hại với nấm Beauveria bassiana, tuy nhiên do thuốc trong thử nghiệm lại kết hợp Azoxytrobin + Difenoconazole (Amistartop 325SC) nên rất ảnh hưởng với nâm B. bassiana. Hoạt chất Mancozeb xuất hiện khả năng ức chế nấm ở nồng độ khuyến cáo. Loria et al. (1983) kết luận rằng hoạt chất Mancozeb có khả năng ức chế nấm B. bassiana ở trong điều kiện phòng thí nghiệm và ngoài thực tế. Theo Pandey và Kanaujia (2009) thì hoạt chất Validamycin không gây ức chế sự sinh trưởng và phát triển của nấm B. bassiana ở dãy nồng độ thí nghiệm (5000, 2500, 1000, 500, 300, 200, 150 và 100 ppm). Tương tự, Trần Văn Hai và cs. (2008), Võ Thi Thu Oanh (2010) cũng kết luận rằng hoạt chất Validamycin cũng ít ảnh hưởng cho sự sinh trưởng và phát triển của nấm B. bassiana ở nồng độ khuyến cáo. 4. KẾT LUẬN Đa số thuốc trừ bệnh có ảnh hưởng bất lợi đến sự phát triển và nẩy mầm của nấm B. bassiana ở cả ba nồng độ khảo sát (Propiconazole + Tricyclazole, Azoxytrobin + Difenoconazole, Hexaconazole, Fenbuconazole, Picoxystrobin, Mancozeb và Kasugamycin). Ngoài trừ, ba hoạt chất Metalaxyl, Fenoxanil, Validamycin không ảnh hưởng đối với nấm ở nồng độ thấp (½ × LKC), nhưng vẫn gây ảnh hưởng đến nấm B. bassiana ở cấp độ ảnh hưởng và ảnh hưởng vừa ở hai nồng độ còn lại. Khuyến cáo nông dân cần thận trọng khi xử lý thuốc trừ bệnh cây trồng và nấm ký sinh côn trùng để không làm ảnh hưởng hiệu quả của nấm ký sinh trên côn trùng gây hại. TÀI LIÊU THAM KHẢO 1. Ambethgar, V., Swamiappan M., Rabindra R. J. and Rabindran R.,2010. Effect of selected fungicides on in vitro vegetative growth of Beauveria bassiana (Balsamo) Vuillemin, a pathogen of rice leaf folders. Journal of Biological Control 24(1): 85-87 2. Amutha, M., Gulsar Banu J., Surulivelu T. and Gopalakrishnan N.,2010. Effect of commonly used insecticides on the growth of white Muscardine fungus, Beauveria bassiana under laboratory conditions. Journal of Biopesticides 3: 143 - 146. 3. Bugeme, D. M., Maniania N.K., Knapp M. and Boga H.I.,2008. Effect of temperature on virulence of Beauveria bassiana and Metarhizium anisopliae isolates to Tetranychus evansi. Exper Appl Acarol. 46: 275–285 4. De Faria, M. R. and Wraight S. P., 2007. Mycoinsecticides and mycoacaricides: a comprehensive list with worldwide coverage and international classification of formulation types. Biological Control 43:237-256 5. Dembilio, O., Quesada-Moraga E., Santiago- Alvarez C. and Jacas J. A., 2010. Potential of an indigenous strain of the ento- mopathogenic fungus Beauveria bassiana as a biological control agent against the red palm weevil, Rhynchophorus ferrugineus. Journal of Invertebrate Pathology 104:214-221 Chỉ đạo sản xuất BVTV - Sè 1/2018 48 6. Gatarayiha, M. C., Laing M. D., Miller R. M., 2010. In vitro effects of flutriafol and azoxystrobin on Beauvaria bassiana and its efficacy against Tetranychus urticae. Pest Management Science 66(7):773-778. 7. Hawksworth, D. L., 2001. The magnitude of fungal diversity: the 1.5 million species estimate revisited. Mycological Reseach 105:1422–1432 8. Hokkanen, H. M. T. and Kotiluoto R., 1992. Bioassay of the side effects of pesticides on Beauveria bassiana and Metarhizium anisopliae: standardized sequential testing procedure. IOBC/WPRS Bulletins 11(3): 148-151. 9. Kirk, P. M., Cannon P. F., Minter D. W., Stalpers J. A., 2008. Dictionary of the fungi, 10th edn. CAB International, Wal- lingford, UK. 10. Loria, R., Galaini S. and Roberts D. W., 1983. Survival of Inoculum of the Entomopathogenic Fungus Beauveria bassiana as Influenced by Fungicides. Environmental Entomology 12(6): 1724-1726. 11. Pandey, A. K., and Kanaujia K. R., 2009. Effect of different fungicides on growth, sporulation and germination of Beauveria bassiana (Balsamo) Vuillemin. International Journal of Plant Protection 2(1): 4-7. 12. Phạm Thị Thùy, 2004. Công nghệ sinh học trong bảo vệ thực vật. Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội. 335 trang. 13. Roberts, D. W., and Humber R. A., 1981. Entomogenous fungi. In: Cole GT, Kendrick B, (Eds.), 14. Trần Văn Hai, 2008. Ứng dụng chế phẩm sinh học từ nấm có ích để phòng trừ sâu ăn lá, bọ cánh cứng (sùng đất) hại rễ cây trồng cạn cho vùng đất giồng cát tỉnh Trà Vinh. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh, Đại học Cần Thơ. 15. Võ Thị Thu Oanh, 2010. Nghiên cứu các đặc tính sinh học và đánh giá độc tính của các mẫu phân lập nấm Beauveria và Metarhizium ký sinh trên trùng gây hại. Luận án tiến sĩ nông nghiệp. Trường Đại Học Nông Lâm. Thành phố Hồ Chí Minh. 16. Usha, J., Naren Babu M. and Padmaja V., 2014. Detection of compatibilty of entomopathogenic fungus Beauveria bassiana (Bals.) vuill. with pesticides, fungicides and botanicals. International journal of plant animal and environmental sciences 4(2): 2231-4490 17. Vestergaard, S., Cherry A., Keller S. and Goettel M., 2003. Safety of hyphomycete fungi as microbial control agents. In: Hok- kanen HMT, Hajek AE (eds) Environmental impacts of microbial insecticides. Kluwer Academic Publishers, Dordrecht: 35-62 Phản biện: TS. Ngô Vĩnh Viễn THÔNG BÁO KẾT QUẢ HỘI NGHỊ TỔNG KẾT CÔNG TÁC BẢO VỆ THỰC VẬT CÁC TỈNH PHÍA NAM NĂM 2017 Cục Bảo vệ thực vật Ngày 05/12/2017 Trung tâm Bảo vệ thực vật (BVTV) phía Nam đã tổ chức Hội nghị “Tổng kết công tác BVTV năm 2017, kế hoạch công tác năm 2018” tại Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Tham dự Hội nghị có Lãnh đạo Cục BVTV, Cục Trồng trọt, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh Tiền Giang, Lãnh đạo Chi cục Trồng Trọt và BVTV các tỉnh phía Nam; Viện nghiên cứu lúa ĐBSCL, Trường đại học Cần Chỉ đạo sản xuất BVTV - Sè 1/2018 49 Thơ, ĐH Tiền Giang, Lãnh đạo một số doanh nghiệp kinh doanh thuốc BVTV; phóng viên Đài phát thanh truyền hình tỉnh Vĩnh Long, Đài phát thanh truyền hình tỉnh Tiền Giang, Thông tấn xã Việt Nam tại Tiền Giang. Chủ trì Hội nghị gồm các đồng chí: Phó Cục trưởng Cục BVTV Lê Văn Thiệt, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT Tiền Giang Lê Minh Khánh và Giám đốc Trung tâm BVTV phía Nam Lê Quốc Cường. Hội nghị đã nghe Báo cáo Tổng kết công tác BVTV năm 2017, kế hoạch công tác năm 2018 do Trung tâm BVTV phía Nam trình bày cùng các tham luận, báo cáo sau: - Tình hình sâu năn và công tác quản lý sâu năn hại lúa của Chi cục Trồng Trọt và BVTV Kiên Giang; - Kết quả công tác quản lý Bọ xít muỗi và bệnh thán thư hại điều của Chi cục Trồng Trọt và BVTV Bình Phước; - Báo cáo kết quả dự án huấn luyện IPM cho 3 tỉnh Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang giai đoạn 2015-2017 của Tổ Chức GIZ phối hợp với Trung tâm BVTV phía Nam; - Báo cáo nội dung và tiến độ thực hiện chương trình Cùng Nông dân bảo vệ môi trường giai đoạn 2017-2021 của Ban điều hành chương trình Cùng Nông dân bảo vệ môi trường. Tại Hội nghị, các đại biểu đã thảo luận về tình hình dịch hại trên một số cây trồng như lúa, cây điều, cây khoai mì, đăc biệt về nguy cơ bùng phát dịch rầy nâu, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá lúa trong năm 2018 qua số liệu phân tích tỷ lệ rầy mang virus trong tháng 12 của Trung tâm BVTV phía Nam. Do vậy việc tuân thủ lịch xuống giống “Né rầy” của Cục BVTV là rất quan trọng, tuy nhiên việc xuống giống lúa còn phải quan tâm đến nguồn nước; Bên cạnh bệnh VL- LXL lúa, các dịch hại khác cũng cần quan tâm như sâu năn, rầy xanh đuôi đen, rầy bông, bệnh đạo ôn, bệnh bạc lá lúa. Các biện pháp phòng chống sâu bệnh bằng gải pháp thúc đẩy ứng dụng IPM trên diện rộng, công tác quản lý sử dụng thuốc BVTV có vai trò lớn trong việc kiểm soát sự bùng phát của dịch hại, an toàn vệ sinh thực phẩm và môi trường; Công tác thúc đẩy sản xuất nông sản an toàn phục vụ xuất khẩu và liên kết sản xuất nông sản, đặc biệt cây ăn quả cũng được đề cặp đến. Phó Cục trưởng Lê Văn Thiệt đánh giá cao thành tích của Trung tâm Vùng cùng với Chi cục Trồng trọt và BVTV các tỉnh đã đạt được, Công tác dự tính dự báo tốt, phát hiện bệnh VL- LXL sớm giúp Cục BVTV chỉ đạo kịp thời nhờ đó diện tích nhiễm VL – LXL đã giảm xuống đáng kể góp phần quan trọng vào bảo vệ sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, trong năm 2017. Công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật: 1 phải 5 giảm, 3 Giảm 3 tăng, Công nghệ sinh thái đã tập hợp được nông dân sản xuất theo chuỗi đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Bên cạnh đó có sự phối hợp tốt giữa ngành với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thuốc BVTV trong thời gian qua thể hiện qua Chương trình “Cùng nông dân bảo vệ môi trường” giai đoạn 2, với sự đồng thuận của 16 đơn vị sản xuất kinh doanh thuốc BVTV. Cho đến nay, một số tỉnh đã triển khai mô hình cùng Nông dân bảo vệ môi trường rất tốt như tỉnh Lâm Đồng. Tuy nhiên trong công tác, ngành BVTV cũng còn gặp phải một số khó khăn: tình hình biến đổi khí hậu dẫn đến diễn biến sâu bệnh phức tạp hơn; Nông dân sử dụng thuốc rất bất cập, mặc dù được hướng dẫn theo 4 đúng nhưng chưa tuân thủ; lực lượng cán bộ BVTV cấp cơ sở còn mỏng, khó khăn trong công tác điều tra phát hiện. Để tiếp tục phát huy thành tích đạt được, khắc phục khó khăn, tiếp tục bảo vệ sản xuất và ứng phó biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng, Cục BVTV yêu cầu Chi cục Trồng trọt và BVTV các tỉnh lưu ý thực hiện tốt các nội dung sau đây: 1) Thiết lập, củng cố hệ thống bẩy đèn, tăng cường công tác điều tra phát hiện, dự tính dự báo, chỉ đạo phòng trừ sâu bệnh gây hại cây trồng; Trên cây lúa chú ý đến muỗi hành, bệnh VL – LXL, bệnh đạo ôn. Năm nay tình hình lũ vừa phải đã cung cấp lượng phù sa cho đất, cần khuyến cáo nông dân sạ thưa, bón phân cân đối. 2) Các tỉnh Đông Nam Bộ năm vừa qua bị bọ xít muỗi và thán thư trên điều rất nặng. Tỉnh Bình Phước đã có nhiều nổ lực trong công tác phòng chống dịch hại trên cây điều, đã đưa ra các giải pháp quản lý và tập huấn nông dân nhận biết bọ xít muỗi rất tốt, cần tiếp tục quan tâm công tác quản lý dịch hại trên cây điều. 3) Bệnh khảm trên khoai mì: giống HL – S11 đang khảo nghiệm chưa được phép đưa vào sản xuất vì vậy cán bộ kỹ thuật tỉnh cần khuyến cáo nông dân không mua, trao đổi và sử dụng giống này. 4) Bộ đã khẳng định và công nhận Tiến bộ kỹ thuật 3 tăng 3 giảm. Đối với chương trình IPM (chương trình mục tiêu quốc gia): sắp tới sẽ tập huấn IPM trên các loại cây trồng bằng nguồn kinh phí vay của WorldBank Tổng hợp BVTV - Sè 1/2018 50 5) Triển khai và thực hiện tốt đề án IPM trên cây trồng, quản lý bọ cánh cứng hại dừa bằng biện pháp sinh học, dự án VnSat và chương trình “Cùng nông dân bảo vệ môi trường”. 6) Bộ NN&PTNT đã giao cho Cục BVTV quản lý về phân bón. Cục BVTV đang xây dựng chương trình, biên soạn bộ tài liệu tập huấn khảo nghiệm, lấy mẫu phân bón, để sớm triển khai tập huấn cho Chi TT& BVTV cục các tỉnh. TRỒNG, HƢỚNG DẪN VÀ KHUYẾN CÁO TRỒNG CÂY NGŨ SẮC Lantana camara LÀ HÀNH VI PHẠM PHÁP Phạm Văn Lầm Hội Côn trùng học Việt Nam Cây ngũ sắc có tên khoa học là Lantana camara L. (Camara vulgaris Benth., Lantana scabrida Ait., Lantana mexicana Turner, Lantana mixta Medik.,). Cây ngũ sắc có vị trí phân loại như sau: giới thực vật Plantae, ngành Spermatophyta, lớp Dicotyledonae, bộ Lamiales, họ Verbenaceae, chi Lantana, loài Lantana camara L. Cây ngũ sắc còn có các tên Việt Nam khác như cây hoa ngũ sắc, bông ổi, thơm ổi, trâm ổi, Cây ngũ sắc Lantana camara Cây ngũ sắc là cây bụi lâu năm, có mùi thơm, kích thước trung bình (chiều cao 2-5 m). Thân gần thẳng đứng, hoặc giống thân bò, đôi khi giống thân leo (leo lên cây thân gỗ thấp hoặc cây thân bụi khác, leo được nhờ điểm bám là gai trên thân, nhánh thân hoặc lá cây). Cây ngũ sắc có bộ rễ khỏe, với một rễ cái và nhiều rễ phụ. Thân cây có 4 cạnh, đôi khi có gai. Thường thường có nhiều thân cùng mọc khỏi mặt đất. Lá mọc đối, có hình ô van hoặc hình mũi giáo rộng với chiều dài 2-12 cm và chiều rộng 2-6 cm. Mép lá có răng cưa. Mặt lá từ màu xanh vàng đến màu xanh, xù xì, có lông tơ nhỏ. Lá bốc ra mùi hăng khi nghiền nát. Hoa nhỏ sặc sỡ nhiều màu, có cuống, mọc dày thành cụm với 20-40 hoa, đường kính cụm hoa khoảng 4 cm. Cụm hoa có thể màu vàng, da cam, trắng, tím nhạt, hồng hoặc đỏ. Quả dạng quả hạch, hình tròn nhỏ, màu xanh sau thành màu tía và cuối cùng có màu xanh đen. Mỗi quả thường có 2 hạt. Theo APFISN (2017), một cây trưởng thành mỗi năm có thể sản sinh được 12.000 hạt và hạt cây ngũ sắc vẫn có thể sống sót khi cho qua lửa nóng nhất. Hạt tươi có sức nảy mầm thấp, nhưng sức nảy mầm gia tăng đáng kể khi hạt được đi qua đường tiêu hóa của chim hoặc động vật gặm nhấm, cáo. Nhiệt độ đất cao và cường độ chiếu sáng mạnh sẽ kích thích sự nảy mầm của hạt. Cây ngũ sắc có sức chịu đựng đối với sự biến động rộng của các điều kiện sinh thái, thích ứng với nhiều kiểu môi trường sống. Do đó, loài thực vật này bắt gặp ở nhiều môi trường sống khác nhau như đất hoang, đất rìa rừng, dải đất dọc bãi biển, những sinh cảnh bị phá vỡ như mép đường bộ, mép đường sắt, đất rừng sau cháy hay sau đốn hạ cây, đất nông nghiệp. Cây ngũ sắc có thể mọc ở bóng râm, nhưng sinh triển tốt nhất ở nơi không có bóng râm. Nó không thể xâm lấn rừng kín chưa bị tác động, nhưng có thể sinh trưởng phát triển ở rìa rừng và lan nhanh khi những khoảng trống rìa rừng gia tăng. Nghiên cứu của

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfanh_huong_cua_mot_so_loai_thuoc_tru_nam_den_ty_le_nay_mam_su.pdf
Tài liệu liên quan