Ảnh hưởng của elicitor
Từ đường cong tăng trưởng của rễ tơ ở Hình 1 và
Hình 3 nhận thấy ngày nuôi cấy thứ 20 là thời điểm
thích hợp để bổ sung elicitor vào môi trường nuôi cấy
vì lúc này rễ tơ đang ở cuối của giai đoạn tăng trưởng
và bắt đầu bước vào pha ổn định. Kết quả khảo sát
ảnh hưởng của các elicitor bao gồm: chitosan, methyl
jasmonate và acid salicylic đến sự tăng trưởng và hoạt
tính ức chế a-glucosidase của rễ tơ Ké hoa đào được
trình bày lần lượt ở các Hình 5, 6 và 7.
Kết quả khảo sát ảnh hưởng của các elicitor cho thấy
hầu như không có sự gia tăng đáng kể về sinh khối rễ
tơ sau 7 ngày bổ sung elicitor ở tất cả các thí nghiệm.
Trong ba chất được khảo sát, chỉ có chitosan là chất
có khả năng làm tăng hoạt tính ức chế a-glucosidase
của rễ tơ Ké hoa đào rõ nhất, hai chất còn lại là methyl
jasmonate và acid salicylic tại các thời điểm khảo sát
không có hoặc có hoạt tính thấp hơn so với mẫu đối
chứng. Cụ thể là chitosan ở nồng độ 50 mg/L sau 3
ngày cảm ứng làm tăng hoạt tính ức chế a-glucosidase
cao hơn mẫu đối chứng 1,8 lần, nhưng ở ngày thứ 5
trở đi cũng giống như ở các nồng độ chitosan khác
kết quả đều cho thấy hoạt tính thấp hơn so với mẫu
đối chứng. Kết quả này cho thấy đối với việc nuôi
cấy rễ tơ Ké hoa đào thì chitosan là một tác nhân cảm
ứng có tiềm năng trong việc làm tăng hoạt tính ức chế
a-glucosidase. Tuy nhiên, khi so sánh về hiệu quả
sử dụng trong nuôi cấy rễ tơ Ké hoa đào để làm tăng
hoạt tính ức chế a-glucosidase thì việc bổ sung elicitor là chitosan không đem lại hiệu quả cao bằng việc
bổ sung tiền chất là phenylalanine. Cụ thể, chitosan ở
nồng độ 50 mg/L sau 3 ngày cảm ứng tức là ngày nuôi
cấy thứ 23 có sinh khối rễ tơ là 0,60g và hoạt tính ức
chế a-glucosidase 61,65 ± 1,90%, tuy nhiên từ ngày
nuôi cấy thứ 25 trở đi hoạt tính lại giảm. Trong khi
đó, phenylalanine 1mM ở ngày nuôi cấy thứ 25 có sinh
khối rễ tơ là 0,72 g và hoạt tính ức chế a-glucosidase
95,70 ± 1,22%, hoạt tính này ổn định cho tới ngày
nuôi cấy thứ 40. Rõ ràng, từ các kết quả thu được
đã chứng minh cho thấy hiệu quả của việc sử dụng
phenylalanine để làm tăng sinh khối và hoạt tính ức
chế a-glucosidase trong nuôi cấy rễ tơ in vitro Ké hoa
đào.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của một số tiền chất và elicitor đến sự tăng trưởng và hoạt tính ức chế a-Glucosidase của rễ tơ cây Ké hoa đào (Urena lobata L) nuôi cấy in vitro, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ - Khoa học Tự nhiên, 4(3):660-667
Open Access Full Text Article Bài Nghiên cứu
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên,
ĐHQG-HCM
Liên hệ
Vũ Thị Bạch Phượng, Trường Đại học Khoa
học Tự nhiên, ĐHQG-HCM
Email: vtbphuong@hcmus.edu.vn
Lịch sử
Ngày nhận: 04-4-2020
Ngày chấp nhận: 20-7-2020
Ngày đăng: 11-9-2020
DOI : 10.32508/stdjns.v4i3.902
Bản quyền
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố
mở được phát hành theo các điều khoản của
the Creative Commons Attribution 4.0
International license.
Ảnh hưởng củamột số tiền chất và elicitor đến sự tăng trưởng và
hoạt tính ức chế a-glucosidase của rễ tơ cây Ké hoa đào (Urena
lobata L. ) nuôi cấy in vitro
Vũ Thị Bạch Phượng*, CaoMinh Đại, Quách Ngô Diễm Phương
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
TÓM TẮT
Các nghiên cứu gần đây đã chứng minh tiềm năng của rễ tơ in vitro Ké hoa đào (Urena lobata L.)
trong việc ức chế a-glucosidase, có thể dùng trong hỗ trợ điều trị bệnh đái tháo đường tuýp 2.
Để làm tăng hiệu suất nuôi cấy rễ tơ có hoạt tính ức chế a-glucosidase trong điều kiện nuôi cấy in
vitro, nghiên cứu này đã khảo sát ảnh hưởng của một số yếu tố về biến dưỡng đến sự tăng trưởng
của rễ tơ Ké hoa đào. Cụ thể, các yếu tố biến dưỡng như tiền chất (L-phenylalanine, L-tyrosine)
và elicitor (chitosan, methyl jasmonate, acid salicylic) sẽ được bổ sung vào môi trường nuôi cấy để
khảo sát sự tăng trưởng và hoạt tính ức chế a-glucosidase của rễ tơ Ké hoa đào. Kết quả cho thấy
đối với ảnh hưởng của tiền chất, chỉ có phenylalanine 1 mM làm gia tăng sinh khối rễ và rễ tơ có
hoạt tính ức chế a-glucosidase cao nhất ở ngày nuôi cấy thứ 25. Trái lại, tyrosine lại không có vai
trò trong việc làm tăng sinh khối và hoạt tính ức chế a-glucosidase ở rễ tơ cây Ké hoa đào. Đối với
ảnh hưởng của các elicitor được khảo sát, chỉ có chitosan 50 mg/L sau 3 ngày cảm ứng trong môi
trường nuôi cấy thì rễ tơ có hoạt tính ức chế a-glucosidase cao hơn mẫu đối chứng. Các elicitor
còn lại như methyl jasmonate, acid salicylic tại các thời điểm khảo sát không có hoặc có hoạt tính
thấp hơn so với mẫu đối chứng. Kết quả nghiên cứu này đã chứng minh tiềm năng của việc sử
dụng phenylalanine và chitosan trong việc làm tăng hoạt tính ức chế a-glucosidase ở rễ tơ cây Ké
hoa đào.
Từ khoá: elicitor, hoạt tính ức chế a-glucosidase, Ké hoa đào (Urena lobata L.), rễ tơ, tiền chất
MỞĐẦU
Hiện nay, các kỹ thuật nuôi cấy rễ thực vật vẫn đang
được nghiên cứu và phát triển mạnh mẽ trên thế giới
nhằm mục đích thu nhận sinh khối để sản xuất các
hợp chất thứ cấp có giá trị trong thời gian ngắn nhưng
vẫn đảm bảo chất lượng tương tự như nguồn rễ trồng
ngoài tự nhiên. Một trong những kỹ thuật nuôi cấy
rễ được sử dụng nhiều nhất hiện nay là nuôi cấy rễ
tơ (hairy root)1. Rễ tơ được hình thành là do sự sát
nhập gen tự nhiên của chủng vi khuẩnAgrobacterium
rhizogenes vào bộ gen thực vật.
Để kỹ thuật nuôi cấy rễ tơ có thể đưa vào sản xuất
một cách hiệu quả thì một số phương pháp đã được
sử dụng để làm tăng năng suất hợp chất thứ cấp đó là
bổ sung tiền chất và các tác nhân cảm ứng (elicitor).
Khái niệm bổ sung tiền chất dựa trên ý tưởng rằng
bất kỳ hợp chất nào, dù là một chất trung gian, chất ở
trong hoặc ở giai đoạn đầu của con đường sinh tổng
hợp chất thứ cấp đều có khả năng làm tăng năng suất
của sản phẩm cuối cùng2. Phenylalanine (Phe), tyro-
sine (Tyr) và tryptophan (Trp) là những amino acid
thơm hoạt động như những tiền chất cho sự tổng hợp
nhiều loại chất chuyển hóa thứ cấp mang vòng thơm
khác nhau3. Do vậy, chiến lược bổ sung những amino
acid này, đặc biệt là phenylalanine đã được áp dụng
phổ biến trong nuôi cấy rễ tơ in vitro nhiều loại cây
dược liệu vớimục tiêu cải thiện năng suất các hợp chất
phenolic có giá trị1,4. Elicitor được định nghĩa là tác
nhân gây ra sự cảm ứng sản xuất hợp chất thứ cấp bao
gồm các tác nhân hóa học hoặc sinh học có nguồn gốc
khác nhau có thể gây ra các phản ứng về sinh lý, hình
thái hoặc tích lũy các chất kháng độc ở thực vật. Do
đó, elicitor là công cụ được sử dụng rộng rãi để làm
tăng năng suất các hợp chất thứ cấp do thực vật đáp
ứng với tổn thương của cơ thể5. Có thể nói, sử dụng
elicitor là một trong những kỹ thuật công nghệ sinh
học hiệu quả nhất hiện nay để cải thiện khả năng sản
xuất hợp chất thứ cấp5. Các elicitor được sử dụng để
tăng sản xuất các hợp chất có hoạt tính sinh học là
do nó có thể làm thay đổi sự trao đổi chất của thực
vật hoặc kích thích các con đường sinh tổng hợp hợp
chất thứ cấp trong các hệ thống nuôi cấy như huyền
phù tế bào, rễ tơ, mô sẹo6.
Cây Ké hoa đào thuộc họ Malvaceae (họ Bông hoặc
họ Bụp) có tên khoa học là Urena lobata L., đây là
Tríchdẫnbàibáonày: PhượngV TB, Đại CM, PhươngQND.Ảnhhưởngcủamột số tiền chất vàelicitor
đến sự tăng trưởng và hoạt tính ức chế a-glucosidase của rễ tơ cây Ké hoa đào (Urena lobata L. )
nuôi cấy in vitro. Sci. Tech. Dev. J. - Nat. Sci.; 4(3):660-667.
660
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ - Khoa học Tự nhiên, 4(3):660-667
cây tiểu mộc được trồng nhiều ở các nước nhiệt đới
trên thế giới. Ở Nigeria, Ấn Độ, Bangladesh, Trung
Quốc, Việt Nam, Ké hoa đào được dùng như cây
thuốc truyền thống để chữa bệnh cảm lạnh, ho ra
máu, phong thấp viêm khớp đau nhức, kiết lỵ, phù
nề, bệnh lậu, đau răng, mụn nhọt lở loét, khí hư, rong
huyết, cầmmáu.Đặc biệt ở Nigeria, Ké hoa đào còn
là một trong những cây thuốc phổ biến chữa bệnh đái
tháo đường7. Bên cạnh đó, các nghiên cứu trên thế
giới đã cho thấy khả năng chữa bệnh đái tháo đường
của dịch chiết Ké hoa đào thông qua ức chế hoạt động
của dipeptidyl peptidase IV 8 và dịch chiết từ rễ cây
Ké hoa đào có tác dụng làm giảm lượng đường huyết
ở thỏ9. Gần đây, các công bố của nhóm nghiên cứu
ở Việt Nam cũng đã cho thấy khả năng ức chế a-
glucosidase in vitro và hạ glucose huyết in vivo trên
chuột của rễ cây Ké hoa đào 10.
Dựa trên các kết quả nghiên cứu đã công bố trên thế
giới, rễ cây Ké hoa đào là nguồn dược liệu tiềm năng
trong điều trị bệnh đái tháo đường tuýp 2. Do đó, với
mục đích làm tăng sinh khối và hoạt tính ức chế a-
glucosidase của rễ tơ Ké hoa đào, nghiên cứu này đã
tập trung vào việc khảo sát ảnh hưởng củamột số tiền
chất và elicitor đến sự tăng trưởng và hoạt tính ức chế
a-glucosidase của rễ tơ cây Ké hoa đào nuôi cấy in
vitro.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Vật liệu
Rễ tơ in vitro cây Ké hoa đào (Urena lobata L.) được
cung cấp bởi Phòng thí nghiệm Công nghệ sinh học
thực vật, Khoa Sinh học-Công nghệ sinh học, Trường
Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học học Quốc gia
Hồ Chí Minh.
Rễ tơ in vitro này được cảm ứng bởi chủng vi khuẩn
Agrobacterium rhizogenes ATCC 15834, chủng này
được mua từ ngân hàng RIKEN-BRC thông qua dự
án MEXT của Nhật Bản.
Môi trường nuôi cấy rễ tơ
Rễ tơ được nuôi trong môi trường WPM (woody
plant medium) gấp đôi hàm lượng khoáng đa lượng
(2WPM), bổ sung 4% sucrose, mật độ nuôi cấy ban
đầu là 0,1 g/30 ml, nuôi trên máy lắc vòng với tốc độ
lắc 80 vòng/phút và tối hoàn toàn. Các tiền chất và
elicitor sẽ được bổ sung vào môi trường nuôi cấy để
tiến hành khảo sát sự tăng trưởng và hoạt tính ức chế
a-glucosidase của rễ tơ cây Ké hoa đào. Mỗi nghiệm
thức trong các thí nghiệm được lặp lại 3 lần, với chỉ
tiêu theo dõi là khối lượng khô (DW) và hoạt tính ức
chế a-glucosidase. Nghiệm thức đối chứng là rễ tơ
được nuôi trong môi trường không bổ sung tiền chất
và elicitor. Rễ tơ được cắt thành những đoạn dài từ
3–4 cm, trộn đều để tạo sự đồng nhất trước khi bắt
đầu các thí nghiệm khảo sát.
Khảo sát ảnh hưởng của tiền chất
Hai tiền chất là L-phenylalanine (HiMedia Laborato-
ries) và L-tyrosine (Merk) được bổ sung ngay từ đầu
vào môi trường nuôi cấy ở các nồng độ: 1, 10, 100
và 200 mM. Trọng lượng khô và hoạt tính ức chế a-
glucosidase của rễ tơ được đánh giá sau mỗi 5 ngày
trong suốt 40 ngày nuôi cấy.
Khảo sát ảnh hưởng của elicitor
Các elicitor được bổ sung vào môi trường nuôi cấy ở
ngày thứ 20 với các nồng độ như sau: chitosan (có
độ deacetyl hóa 75%): 0, 50, 100, 150 mg/L; methyl
jasmonate (Sigma): 0, 25, 50, 100 mM; acid salicylic
(Sigma): 0, 25, 50, 100 mM.Thời gian khảo sát các chỉ
tiêu theo dõi là: 1, 3, 5, 7 ngày sau khi elicitor được bổ
sung vào môi trường nuôi cấy.
Khảo sát hoạt tính ức chế a -glucosidase
Mẫu rễ tơ trước khi đem đi thử hoạt tính ức chế a-
glucosidase được sấy khô ở 50oC đến khi khối lượng
cân giữa các lần không vượt quá 0,5 mg và độ ẩm
không vượt quá 13%. Lấy 0,1 g rễ tơ khô ngâm trong
10 mL ethanol sau 24 giờ lấy 30 mL dịch chiết đem đi
khảo sát hoạt tính ức chế a-glucosidase. Dịch chiết
này được phơi cho bay hết ethanol trong đĩa 96 giếng
và được hòa tan lại bằng 50 mL dung dịch đệm phos-
phate pH 6,8 có DMSO 5%. Tiếp theo, cho vào đĩa
96 giếng 40 mL dung dịch enzyme a-glucosidase (0,2
U/mL) ủ ở nhiệt độ phòng trong 20 phút, bổ sung
40 mL cơ chất p-Nitrophenyl-b -D-glucopyranoside
(pNPG) (5 mM), ở nhiệt độ phòng 20 phút. Cuối
cùng, 130 mL dung dịch Na2CO3 0,2 M được cho vào
sẽ bắtmàu sản phẩm tạo ra là p-nitrophenol. Dựa trên
mật độ quang tại 405 nm (OD405), hoạt tính ức chế
của mẫu thử được xác định. Chứng dương là thuốc
Glucobay (acarbose 50 mg) của công ty Bayer South
East Asia Pte., Ltd.11.
Phần trăm ức chế a-glucosidase được tính theo công
thức sau11:
% Ức chế a-glucosidase = [(OD chứng âm - OD
blank chứng âm) - (OD mẫu thử - OD blank mẫu
thử)]x100%/(OD chứng âm - OD blank chứng âm)
Phân tích và xử lí số liệu
Số liệu thu được từ kết quả của các thí nghiệmđược xử
lý thống kê bằng chương trình SPSS 16.0 (Copyright
SPSS Inc.) với độ tin cậy 95%. Biểu đồ, đồ thị được vẽ
bằng chương trình Microsoft Exel 2007.
661
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ - Khoa học Tự nhiên, 4(3):660-667
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Ảnh hưởng của tiền chất
Ảnh hưởng của L-phenylalanine
Kết quả khảo sát ảnh hưởng của tiền chất phenylala-
nine trong Hình 1 và Hình 2 cho thấy, ở 25 ngày đầu
của quá trình nuôi cấy có sự khác nhau rõ ràng về sinh
khối khô giữa các nghiệm thức có nồng độ pheny-
lalanine khác nhau. Nồng độ phenylalanine càng cao
thì rễ tơ càng chậm tăng trưởng, do rễ cần phải có
thời gian để thích nghi với điều kiện môi trường mới.
Ở nồng độ phenylalanine 200 mM trong 15 ngày đầu
rễ bị ngả sang màu vàng và phát triển rất chậm, sau
đó rễ mới thích nghi với môi trường và đi vào pha
tăng trưởng. Ở nồng độ 10 và 100 mMphenylalanine,
rễ cũng chậm tăng trưởng ở 10 ngày đầu nhưng vào
ngày thứ 10 trở đi rễ đã bước vào pha tăng trưởng.
Ở nồng độ phenylalanine 1 mM rễ phát triển rất tốt
và đạt sinh khối khô cao nhất so với các nghiệm thức
còn lại ở ngày nuôi cấy thứ 25. Đồng thời, phenylala-
nine ở nồng độ 1 mM cũng giúp cho rễ sớm đạt hoạt
tính ức chế a-glucosidase cao nhất ở ngày nuôi cấy
thứ 25. Trong khi đó, nồng độ phenylalanine 10 mM
hoạt tính bắt đầu cao ở ngày nuôi cấy thứ 30 trở đi,
mẫu đối chứng không bổ sung phenylalanine ở ngày
nuôi cấy thứ 35 và nồng độ phenylalanine 100 và 200
mM ở ngày nuôi cấy thứ 40 hoạt tính mới đạt ở mức
cao. Shadi Rahimi và cộng sự (2011) đã chứng minh
nồng độ và thời gian đồng nuôi cấy cùng tiền chất là
hai yếu tố quyết định đến sự tích lũy các hợp chất thứ
cấp trong nuôi cấy rễ tơ. Bổ sung tiền chất ở nồng độ
thích hợp có thể thúc đẩy sự tích lũy của các hợp chất
mục tiêu. Tuy nhiên, khi nồng độ tiền chất vượt quá
giới hạn nó có thể gây ức chế con đường chuyển hóa 4
như phenylalanine ở nồng độ 2 mM giúp gia tăng sản
xuất isoflavone trong nuôi cấy rễ tơ Psoralea corylifo-
lia, trong khi đó sự tích lũy isoflavone lại bị ức chế
ở nồng độ phenylalanine 10 mM 12. Phenylalanine ở
nồng độ 10 mM cũng cho hiệu quả tác động đứng thứ
hai (sau nồng độ 1 mM) so với các nồng độ được khảo
sát. Do đó, với mục đích ứng dụng trong quymô công
nghiệp và lợi ích kinh tế, phenylalanine 1 mMsẽ là lựa
chọn thích hợp trong chiến lược làm tăng hoạt tính ức
chếa-glucosidase trong nuôi cấy rễ tơ Ké hoa đào. Cụ
thể, khi nuôi cấy rễ ở nồng độ phenylalanine 1 mMchỉ
cần đến ngày thứ 25 là có thể thu hoạch được rễ tơ có
hoạt tính ức chế a-glucosidase cao, trong khi ở mẫu
đối chứng không bổ sung phenylalanine thì phải đến
ngày thứ 35 mới thu hoạch được. Điều này đã giảm
bớt chi phí nuôi cấy rễ tơ in vitro và mang lại hiệu quả
kinh tế cao.
Kết quả khảo sát ảnh hưởng của tyrosine ở Hình 3
và Hình 4 cho thấy khi bổ sung tyrosine tại các nồng
độ khác nhau đều không làm tăng sinh khối mà còn
làm giảm nhẹ. Xét về hoạt tính ức chế a-glucosidase,
khi bổ sung tyrosine ở các nồng độ đều có hoạt tính
ức chế a-glucosidase thấp hơn so với mẫu đối chứng
trong 35 ngày đầu nuôi cấy, đến ngày nuôi cấy thứ 40
thì hoạt tính ở nồng độ 1 mM và 10 mM tyrosine đều
bằng mẫu đối chứng, còn hai nồng độ 100 mM và 200
mM vẫn thấp hơn so với mẫu đối chứng khoảng 1,1
lần. Các kết quả này cho thấy tyrosine không có vai
trò trong việc làm tăng sinh khối và hoạt tính ức chế
a-glucosidase ở rễ tơ cây Ké hoa đào.
Quan sát trong quá trình nuôi cấy rễ tơ nhận thấy khi
môi trường có sự hiện diện của một trong hai chất
phenylalanine hoặc tyrosine thì sợi rễ tơ sẽ to hơn,
đâm nhiều nhánh hơn và có màu trắng hơn so với
mẫu đối chứng (Hình 2 và Hình 4). Điều này có thể là
do phenylalanine và tyrosine là các amino acid được
cung cấp thêm vào môi trường nuôi cấy và có vai trò
như làmột nguồndinhdưỡngnitơ bổ sung, từ đó thúc
đẩy sự tăng trưởng của rễ làm cho rễ to hơn và phân
nhiều nhánh hơn. Tóm lại, từ các kết quả khảo sát sự
ảnh hưởng của hai chất là phenylalanine và tyrosine
cho thấy chỉ có phenylalanine làm tăng sinh khối và
hoạt tính ức chếa-glucosidase ở rễ tơ cây Ké hoa đào,
trong khi tyrosine lại không có khả năng này. Điều
này có thể giải thích là do những hoạt chất ảnh hưởng
đến hoạt tính ức chế a-glucosidase của rễ cây Ké hoa
đào được biến dưỡng theo con đường của phenylala-
nine, còn những hợp chất được tổng hợp theo con
đường của tyrosine thì không ảnh hưởng đến hoạt
tính này.
Ảnh hưởng của elicitor
Từ đường cong tăng trưởng của rễ tơ ở Hình 1 và
Hình 3 nhận thấy ngày nuôi cấy thứ 20 là thời điểm
thích hợp để bổ sung elicitor vào môi trường nuôi cấy
vì lúc này rễ tơ đang ở cuối của giai đoạn tăng trưởng
và bắt đầu bước vào pha ổn định. Kết quả khảo sát
ảnh hưởng của các elicitor bao gồm: chitosan, methyl
jasmonate và acid salicylic đến sự tăng trưởng và hoạt
tính ức chế a-glucosidase của rễ tơ Ké hoa đào được
trình bày lần lượt ở các Hình 5, 6 và 7.
Kết quả khảo sát ảnh hưởng của các elicitor cho thấy
hầu như không có sự gia tăng đáng kể về sinh khối rễ
tơ sau 7 ngày bổ sung elicitor ở tất cả các thí nghiệm.
Trong ba chất được khảo sát, chỉ có chitosan là chất
có khả năng làm tăng hoạt tính ức chế a-glucosidase
của rễ tơ Ké hoa đào rõ nhất, hai chất còn lại là methyl
jasmonate và acid salicylic tại các thời điểm khảo sát
không có hoặc có hoạt tính thấp hơn so với mẫu đối
chứng. Cụ thể là chitosan ở nồng độ 50 mg/L sau 3
ngày cảmứng làm tănghoạt tínhức chếa-glucosidase
cao hơn mẫu đối chứng 1,8 lần, nhưng ở ngày thứ 5
trở đi cũng giống như ở các nồng độ chitosan khác
662
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ - Khoa học Tự nhiên, 4(3):660-667
Hình 1: Đồ thị thể hiện sự ảnh hưởng của nồng độ phenylalanine đến khối lượng khô (DW) và hoạt tính ức chế
a-glucosidase của rễ tơ Ké hoa đào. P0, P1, P10, P100, P200 là phenylalanine ở các nồng độ 0, 1, 10, 100, 200 mM
Hình 2: Rễ tơ được nuôi cấy ở các nồng độ phenylalanine khác nhau ở ngày thứ 25. P0, P1, P10, P100, P200 là
phenylalanine ở các nồng độ 0, 1, 10, 100, 200 mM.
kết quả đều cho thấy hoạt tính thấp hơn so với mẫu
đối chứng. Kết quả này cho thấy đối với việc nuôi
cấy rễ tơ Ké hoa đào thì chitosan là một tác nhân cảm
ứng có tiềm năng trong việc làm tăng hoạt tính ức chế
a-glucosidase. Tuy nhiên, khi so sánh về hiệu quả
sử dụng trong nuôi cấy rễ tơ Ké hoa đào để làm tăng
hoạt tính ức chế a-glucosidase thì việc bổ sung elici-
tor là chitosan không đem lại hiệu quả cao bằng việc
bổ sung tiền chất là phenylalanine. Cụ thể, chitosan ở
nồng độ 50 mg/L sau 3 ngày cảm ứng tức là ngày nuôi
cấy thứ 23 có sinh khối rễ tơ là 0,60g và hoạt tính ức
chế a-glucosidase 61,65 1,90%, tuy nhiên từ ngày
nuôi cấy thứ 25 trở đi hoạt tính lại giảm. Trong khi
đó, phenylalanine 1mMởngày nuôi cấy thứ 25 có sinh
khối rễ tơ là 0,72 g và hoạt tính ức chế a-glucosidase
95,70 1,22%, hoạt tính này ổn định cho tới ngày
nuôi cấy thứ 40. Rõ ràng, từ các kết quả thu được
đã chứng minh cho thấy hiệu quả của việc sử dụng
phenylalanine để làm tăng sinh khối và hoạt tính ức
chế a-glucosidase trong nuôi cấy rễ tơ in vitro Ké hoa
đào.
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy cả hai chất là phenylala-
nine và chitosan đều có tác động đến việc làm tăng
sinh khối rễ tơ có hoạt tính ức chế a-glucosidase ở
cây Ké hoa đào. Tuy nhiên, việc sử dụng tiền chất
phenylalanine ở nồng độ 1 mMtrongmôi trường nuôi
cấy rễ tơ in vitro Ké hoa đào cho hiệu quả tốt hơn và
sinh khối rễ có hoạt tính cũng nhiều hơn. Việc bổ
sung phenylalanine 1 mM sau 25 ngày nuôi cấy sẽ thu
được sinh khối rễ tơ với năng suất cao hơn so với điều
663
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ - Khoa học Tự nhiên, 4(3):660-667
Hình 3: Đồ thị thể hiện sự ảnh hưởng của nồng độ tyrosine đến khối lượng khô (DW) và hoạt tính ức chế a-
glucosidase của rễ tơ Ké hoa đào. T0, T1, T10, T100, T200 là phenylalanine ở các nồng độ 0, 1, 10, 100, 200 mM
Hình 4: Rễ tơ được nuôi cấy ở các nồng độ tyrosine khác nhau ở ngày thứ 25. T0, T1, T10, T100, T200 là tyrosine ở
các nồng độ 0, 1, 10, 100, 200 mM
kiện ban đầu (0,72 g so với 0,66 g) và hoạt tính ức
chế a-glucosidase cũng vượt trội hơn (95,70% so với
92,44%).
LỜI CẢMƠN
Cảm ơn Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ
Chí Minh và Phòng Thí nghiệm Công nghệ sinh học
Thực vật thuộc Bộ môn Công nghệ sinh họcThực vật
& Chuyển hóa sinh học, Khoa Sinh học-Công nghệ
sinh học, TrườngĐại họcKhoa họcTựnhiên, Đại học
Quốc giaThành phốHồChíMinh (ĐHQG-HCM) đã
tạo điều kiện thực hiện nghiên cứu này.
DANHMỤC TỪ VIẾT TẮT
DW: Khối lượng khô
DMSO: Dimethyl sulfoxide
WPM: Woody plant medium
XUNGĐỘT LỢI ÍCH
Nhóm tác giả cam kết không có xung đột lợi ích.
ĐÓNGGÓP CỦA TÁC GIẢ
Vũ Thị Bạch Phượng: thực hiện thí nghiệm và viết
bản thảo.
Cao Minh Đại: thực hiện thí nghiệm.
Quách Ngô Diễm Phương: cố vấn và góp ý chỉnh sửa
bản thảo.
TÀI LIỆU THAMKHẢO
1. Bensaddek L, Villarreal ML, FliniauxMA. Induction and growth
of hairy roots for the production of medicinal compounds.
Electronic Journal of Integrative Biosciences. 2008;3(1):2–9.
2. Wielanek M, Urbanek H. Enhanced glucotropaeolin produc-
tion in hairy root cultures of Tropaeolum majus L. by com-
bining elicitation and precursor feeding. Plant Cell Tiss Or-
gan Cult. 2006;86:177–186. Available from: https://doi.org/10.
1007/s11240-006-9106-2.
664
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ - Khoa học Tự nhiên, 4(3):660-667
Hình 5: Đồ thị thể hiện sự ảnh hưởng của nồng độ chitosan đến khối lượng khô (DW) và hoạt tính ức chế a-
glucosidase của rễ tơ Ké hoa đào. C0, C50, C100, C150 là chitosan ở các nồng độ 0, 50, 100, 150 mg/L
Hình 6: Đồ thị thể hiện sự ảnh hưởng của nồng độ methyl jasmonate đến khối lượng khô (DW) và hoạt tính ức
chế a-glucosidase của rễ tơ Ké hoa đào. M0, M25, M50, M100 là methyl jasmonate ở các nồng độ 0, 25, 50, 100
mM
665
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ - Khoa học Tự nhiên, 4(3):660-667
Hình 7: Đồ thị thể hiện sự ảnh hưởng của nồng độ acid salicylic đến khối lượng khô (DW) và hoạt tính ức chế
a-glucosidase của rễ tơ Ké hoa đào. S0, S25, S50, S100 là acid salicylic ở các nồng độ 0, 25, 50, 100 mM
3. Mobin M, Wu CH, Tewari RK, Paek KY. Studies on the
glyphosate-induced amino acid starvation and addition of
precursors on caffeic acid accumulation and profiles in ad-
ventitious roots of Echinacea purpurea (L.) Moench. Plant
Cell Tiss Organ Cult. 2015;120:291–301. Available from: https:
//doi.org/10.1007/s11240-014-0606-1.
4. Rahimi S, Hasanloo T, Najafi F, Khavari-Nejad RA. Enhance-
ment of silymarin accumulation using precursor feeding in
Silybum marianum hairy root cultures. Plant Omics Journal.
2011;4(1):34–39.
5. AbouZid S. Yield improvement strategies for the production
of secondary metabolites in plant tissue culture: silymarin
from Silybum marianum tissue culture. Natural Product Re-
search. 2014;28(23):2102–2110. PMID: 24947979. Available
from: https://doi.org/10.1080/14786419.2014.927465.
6. Karla RE, Heriberto VL, Hidalgo D, Moyano E, Golenioswki M,
Rosa MC, Palazon J. Elicitation, an effective strategy for the
biotechnological production of bioactive high-added value
compounds in plant cell factories. Molecules. 2016;21(182):1–
24. PMID: 26848649. Available from: https://doi.org/10.3390/
molecules21020182.
7. Omonkhua AA, Onoagbe IO. Long-term effects of three hy-
poglycaemic plants (Irvingia gabonensis, Urena lobata and
Carica papaya) on the oxidative status of normal rabbits.
Biokemistri An International Journal of the Nigerian Society
for Experimental Biology. 2012;24(2):82–89.
8. Purnomo Y, Soeatmadji DW, Sumitro SB, Widodo MA. Anti-
diabetic potential of Urena lobata leaf extract through inhi-
bition of dipeptidyl peptidase IV activity. Asian Pac J Trop
Biomed. 2015;5(8):645–649. Available from: https://doi.org/
10.1016/j.apjtb.2015.05.014.
9. Omonkhua AA, Onoagbe IO. Evaluation of the long-term ef-
fects of Urena lobata root extracts on blood glucose and hep-
atic function of normal rabbits. J Toxicol Environ Health Sci.
2011;3(8):204–213.
10. Phuong VTB, Dai CM, Anh BL, Hong PTA, Phuong QND. Mass
propagation of Urena lobata L. hairy root possessing a-
glucosidase inhibitory activity by using suitable culture con-
ditions. Asian Journal of Plant Sciences. 2019;18(3):131–138.
Available from: https://doi.org/10.3923/ajps.2019.131.138.
11. Shai LJ, Masoko P, Mokgotho MP, Magano SR, Mogale AM,
Boaduo N, Eloff JN. Yeast alpha glucosidase inhibitory and
antioxidant activities of six medicinal plants collected in ha-
laborwa, South Africa. South African Journal of Botany.
2010;76:465–470. Available from: https://doi.org/10.1016/j.
sajb.2010.03.002.
12. Shinde AN, Malpathak N, Fulzele DP. Enhanced production
of phytoestrogenic isoflavones from hairy root cultures of
Psoralea corylifolia L. using elicitation and precursor feeding.
Biotechnology and Bioprocess Engineering. 2009;14:288–
294. Available from: https://doi.org/10.1007/s12257-008-
0238-6.
666
Science & Technology Development Journal – Natural Sciences, 4(3):660-667
Open Access Full Text Article Research Article
University of Science, VNU-HCM
Correspondence
Vu Thi Bach Phuong, University of
Science, VNU-HCM
Email: vtbphuong@hcmus.edu.vn
History
Received: 04-4-2020
Accepted: 20-7-2020
Published: 11-9-2020
DOI : 10.32508/stdjns.v4i3.902
Copyright
© VNU-HCM Press. This is an open-
access article distributed under the
terms of the Creative Commons
Attribution 4.0 International license.
Effects of some precursors and elicitors on the growth and
a-glucosidase inhibitory activity of in vitro Urena lobata L. hairy
roots
Vu Thi Bach Phuong*, CaoMinh Dai, Quach Ngo Diem Phuong
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
ABSTRACT
Recent studies have demonstrated the potential of in vitro Urena lobata L. hairy roots to inhibit
a-glucosidase for supporting the treatment of type 2 diabetes. To increase the productivities of
hairy roots with a-glucosidase inhibitory activity in in vitro culture conditions, this study focus on
the effects of some metabolic factors such as precursors (L-phenylalanine, L-tyrosine) and elicitors
(chitosan,methyl jasmonate, salicylic acid). Theywere added to the culturemedia to investigate the
growth anda-glucosidase inhibitory activity of Urena lobata L. hairy roots. The results showed that
for the effects of precursors, only phenylalanine (1 mM) increased root biomass with the highest
of a-glucosidase inhibitory activity on the 25th day of culture. In contrast, tyrosine did not play
any role in increasing the biomass and a-glucosidase inhibitory activity in Urena lobata L. hairy
roots. For the effects of elicitors, only chitosan (50 mg/L) resulted in hairy roots with a-glucosidase
inhibitory activity higher than the control after 3 days in culture medium. Other elicitors such as
methyl jasmonate, salicylic acid had lower a-glucosidase inhibitory activity than the control. The
results of this study demonstrated the potential of phenylalanine and chitosan in increasing the
productivity of in vitro hairy roots with higher a-glucosidase inhibitory activity in Urena lobata L.
Key words: a-glucosidase inhibitor activity, elicitors, hairy root, precursors, Urena lobata L
Cite this article : Phuong V T B, Dai C M, Phuong Q ND. Effects of some precursors and elicitors on the
growth and a-glucosidase inhibitory activity of in vitro Urena lobata L. hairy roots. Sci. Tech. Dev. J.
- Nat. Sci.; 4(3):660-667.
667
Các file đính kèm theo tài liệu này:
anh_huong_cua_mot_so_tien_chat_va_elicitor_den_su_tang_truon.pdf