Sự tạo huyền phù tế bào xạ đen
Việc nuôi cấy huyền phù tế bào thực vật cần
thiết cho quá trình nhân giống cây trồng in vitro,
sản xuất sinh khối tế bào ở quy mô công nghiệp để
thu nhận các chất có hoạt tính sinh học. Kết quả
khảo sát sự tăng trưởng của huyền phù tế bào ở
điều kiện sáng và tối được trình bày trên Hình 4.
Sau tuần nuôi cấy đầu tiên trong môi
trường lỏng, mô sẹo bắt đầu phóng thích tế bào và
cụm nhỏ tế bào vào môi trường nuôi cấy. Sự gia
tăng sinh khối diễn ra chậm. Từ tuần thứ 2 đến
tuần thứ 4, tế bào bước sang giai đoạn phân chia và
tăng nhanh sinh khối. Sinh khối tế bào cao nhất
được ghi nhận sau 4 tuần nuôi cấy ở cả hai điều
kiện sáng và tối với các tế bào nhỏ, mịn, phân tán
đều trong môi trường (Hình 5). Sau đó, sự sinh
trưởng của tế bào giảm đáng kể ở tuần thứ 5, tế bào
bước sang giai đoạn suy yếu và chết nếu không
được cấy chuyền sang môi trường mới. Vì vậy,
tuần thứ 4 của quá trình nuôi cấy là thời điểm thích
hợp cho việc cấy chuyền huyền phù tế bào xạ đen.
Kết quả ghi nhận trên đây cũng cho thấy
huyền phù tế bào tăng sinh ở trong tối mạnh hơn
ngoài sáng. Cụ thể, ở tuần thứ 4, sinh khối tế bào ở
trong tối đạt 149,933 g/L trong khi ở ngoài sáng chỉ
đạt 106,883 g/L.
Ánh sáng ảnh hưởng mạnh đến sự tăng
trưởng ở thực vật. Một hoặc nhiều chất cần thiết
cho sự phân chia tế bào có thể bị giảm hàm lượng
do tiếp xúc với ánh sáng [27]. Ngoài ra, ánh sáng
có thể ngăn chặn sự hoạt động của các enzyme liên
quan đến sự tăng trưởng tế bào [28]. Năm 2017, Mir
và cs. đã khảo sát ảnh hưởng của điều kiện chiếu
sáng lên sự gia tăng sinh khối khi nuôi cấy huyền
phù tế bào cây Artemisia amygdalina Decne. Các tác
giả ghi nhận sinh khối tế bào đạt cao nhất ở ngày
thứ 35 của giai đoạn ổn định khi huyền phù tế bào
được nuôi trong tối [29].
11 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến quá trình nuôi cấy tế bào xạ đen (ehretia asperula zoll. et mor.), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 31–41, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5676 31
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG ĐẾN
QUÁ TRÌNH NUÔI CẤY TẾ BÀO XẠ ĐEN (Ehretia asperula Zoll. et Mor.)
Phạm Thị Mỹ Trâm1,2*, Ngô Kế Sương3, Lê Thị Thuỷ Tiên2
1 Trường Đại học Thủ Dầu Một, 6 Trần Văn Ơn, Bình Dương, Việt Nam
2 Trường Đại học Bách Khoa, ĐHQG Tp. Hồ Chí Minh, 268 Lý Thường Kiệt, Q. 10, Tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam
3Viện Sinh học Nhiệt đới, 9/621 Xa lộ Hà Nội, Q. Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh, Việt Nam
* Tác giả liên hệ Phạm Thị Mỹ Trâm
(Ngày nhận bài: 24-02-2020; Ngày chấp nhận đăng: 27-03-2020)
Tóm tắt. Xạ đen, tên khoa học là Ehretia asperula Zoll. et Mor., thuộc họ Vòi voi (Boraginaceae), có nguồn
gốc từ các nước Đông Nam Á. Xạ đen thường được dùng để chữa bệnh như u nhọt (kể cả ung bướu),
viêm thũng và giải độc. Khảo sát ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng thực vật và nguồn
cung cấp carbon lên sự hình thành và tăng sinh mô sẹo từ mẫu cấy lá của cây xạ đen in vitro nhằm tạo
nguyên liệu cho các hệ thống nuôi cấy tế bào để cung cấp các hợp chất có giá trị cho ngành dược liệu.
Kết quả cho thấy mô sẹo phát triển tốt trên môi trường B5 bổ sung glucose 30 mg/L và 2,4-D 0,4 mg/L
kết hợp với BA 0,1 mg/L. Trên môi trường này, mô sẹo có màu vàng xanh, xốp, mịn và tăng sinh nhanh.
Mô sẹo chuyển sang màu trắng sữa sau 10 tuần nuôi cấy và được sử dụng làm nguyêu liệu cho nuôi cấy
huyền phù tế bào. Huyền phù tế bào trong điều kiện tối phát triển tốt hơn ngoài sáng với lượng sinh
khối cao nhất đạt được sau 4 tuần nuôi cấy (149,933 g/L).
Từ khóa: Ehretia asperula Zoll. et Mor., huyền phù tế bào, mô sẹo, xạ đen
Effects of medium composition on Xa den (Ehretia asperula Zoll. et Mor.)
cell cultures
Pham Thi My Tram1,2*, Ngo Ke Suong3, Le Thi Thuy Tien2
1 Thu Dau Mot University, 6 Tran Van On St., Thu Dau Mot, Binh Duong, Vietnam
2 VNUHCM – University of Technology, 268 Ly Thuong Kiet St., Dist. 10, Ho Chi Minh City, Vietnam
3 Institute of Tropical Biology, Ho Chi Minh City, 9/621 Hanoi Road., Dist. Thu Duc, Ho Chi Minh City, Vietnam
* Correspondence to Pham Thi My Tram
(Received: 24 February 2020; Accepted: 27 March 2020)
Abstract. Xa den (Ehretia asperula Zoll. et Mor.) belongs to the Boraginaceae family and appears in
Southeast Asian countries. Xa den is often used to treat diseases such as tumors, emphysema, and
detoxification. The effects of plant growth regulators and carbon sources on the formation and
proliferation of callus from Xa den leaves in vitro were studied. The results show that callus proliferates
well on the medium supplemented with 30 mg/L glucose, 0.4 mg/L 2,4-D, and 0.1 mg/L BA. In this
medium, the callus is yellowish-green, friable, and rapid proliferating. After the first subculture, the
callus is milky white and friable after 10 weeks of culture. This callus is used as a material for cell
Phạm Thị Mỹ Trâm và CS.
32
suspension cultures. Suspension cells grow in the dark better than in the light with the highest biomass
after four weeks of culture (149.933 g/L).
Keywords: callus, cell suspension cultures, Ehretia asperula Zoll. et Mor., xa den
1 Mở đầu
Theo Tổ chức Y tế Thế giới thì khoảng 80%
dân số toàn cầu dựa vào y học cổ truyền để chăm
sóc sức khỏe, trong đó thuốc dùng để điều trị chủ
yếu từ thực vật. Khoảng 25–28% các loại thuốc hiện
tại có nguồn gốc từ thực vật bậc cao và hơn 60%
thuốc chống ung thư có nguồn gốc trực tiếp hoặc
gián tiếp từ thực vật [1] như taxol chiết xuất từ vỏ
cây thuỷ tùng (Taxus brevifolia) [2] và vinblastine
được bán tổng hợp từ việc nuôi cấy tế bào lá của
cây dừa cạn (Catharanthus roseus) để thu nhận hai
hợp chất trung gian là catharanthine và vindoline
[3].
Xạ đen trước đây được biết đến với tên khoa
học là Celastrus hindsii. Năm 2009, tên khoa học
chính xác của xạ đen được xác định là Ehretia
asperula Zol. and Mor. thuộc họ Vòi voi
(Boraginaceae), mọc hoang trên các vùng núi cao
[4]. Theo Kuo và Kuo, maytenfolone-A trong cây
xạ đen có khả năng gây độc tế bào ung thư gan với
ED50 là 2,3 µg/mL và ung thư biểu mô vòm họng
với ED50 là 3,8 µg/mL; celasdin-B có khả năng
chống HIV nhân rộng trong các tế bào lymphocyte
H9 với EC50 là 0,8 µg/mL [5]. Ly và cs. đã phân lập
được tám hợp chất chống oxy hóa từ dịch chiết
methanol 50% lá xạ đen khô với thành phần chính
là acid rosmarinic và acid lithospermic [6]. Nguyễn
Huy Cường đã bước đầu thử nghiệm thành công
hoạt tính kháng vi khuẩn kiểm định và hoạt tính
gây độc tế bào của các chất phân lập được từ cây
xạ đen. Kết quả cho thấy lup-20(29)-en-3β,11β-diol
ức chế mạnh sự tăng trưởng của vi khuẩn
Staphylococcus aureus với IC50 là 3,2 µg/mL [7]. Năm
2016, Ly đã đưa ra quy trình chiết xuất acid
rosmarinic từ cao chiết ethanol 50% của lá xạ đen
khô [8]. Theo Trần Thị Mỹ Trâm và cs., trong cao
chiết xạ đen có sự hiện diện của các nhóm hợp chất
như carbohydrate, protein, amino acid, chất béo,
alkaloid, phenol và tannin [9].
Với mục đích bảo tồn và nhân nhanh cây xạ
đen, nhiều nghiên cứu nhân giống in vitro đã được
thực hiện [9-12]. Tuy nhiên, các nghiên cứu về viẹ ̂c
thu nhận sinh khối từ mô sẹo và huyền phù tế bào
xạ đen còn hạn chế [13].
Trong nghiên cứu này, chúng tôi khảo sát
ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến quá
trình nuôi cấy tế bào xạ đen nhằm thu nhận sinh
khối tế bào để phục vụ cho các nghiên cứu thu
nhận hợp chất có hoạt tính sinh học.
2 Vật liệu và phương pháp
2.1 Vật liệu
Mẫu cấy là lá xạ đen in vitro (12 tuần tuổi),
màu xanh đậm, có kích thước khoảng 0,5 × 1 cm và
được tạo vết cắt trên bề mặt lá.
2.2 Phương pháp
Khảo sát ảnh hưởng của BA (benzyl adenine) kết
hợp với 2,4-D (2,4-dichlorophenoxyacetic acid)
lên sự hình thành mô sẹo từ lá xạ đen [11]
Mẫu cấy được đặt trên môi trường B5 [14] bổ
sung sucrose 30 g/L, BA 0,1 mg/L kết hợp với 2,4-
D nồng độ 0,4–3,0 mg/L.
Khảo sát ảnh hưởng của nguồn cung cấp carbon
lên sự tăng sinh mô sẹo từ lá xạ đen
Mô sẹo từ lá xạ đen hình thành trong môi
trường B5 bổ sung BA 0,1 mg/L, 2,4-D 0,4 mg/L và
sucrose 30 g/L được cấy chuyền sau mỗi 4 tuần.
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 31–41, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5676 33
Trong thí nghiệm này, mẫu cấy là mô sẹo đã qua
một lần cấy chuyền (khối lượng khởi đầu 0,05–0,07
g) được chuyển sang môi trường B5 bổ sung chất
điều hoà sinh trưởng thực vật (CĐHSTTV) tương
tự môi trường tạo mô sẹo với sự thay đổi nguồn
cung cấp carbon (glucose, fructose và sucrose) ở 3
nồng độ khảo sát 20, 30 và 40 g/L.
Khảo sát ảnh hưởng của NAA (Naphthalene
acetic acid) lên sự tăng sinh mô sẹo từ lá xạ đen
Mô sẹo từ lá xạ đen sau 4 tuần nuôi cấy (khối
lượng khởi đầu 0,02–0,05 g) được cấy chuyền sang
môi trường B5 bổ sung nguồn carbon thích hợp ở
thí nghiệm 2, BA 0,1 mg/L và NAA nồng độ
0,4–5,0 mg/L.
Khảo sát sự hình thành và tăng sinh của mô sẹo
từ lá xạ đen theo thời gian
Nhằm theo dõi sự hình thành và tăng sinh
của mô sẹo xạ đen, mẫu cấy lá được nuôi trên môi
trường B5 bổ sung CĐHSTTV và nguồn carbon với
loại và nồng độ thích hợp đã được xác định từ các
nghiên cứu trước. Mẫu cấy được theo dõi trong 7
tuần và ghi nhận sự tăng trưởng sau mỗi tuần
nuôi cấy.
Nuôi cấy huyền phù tế bào xạ đen
Mô sẹo hình thành trên môi trường B5 bổ
sung CĐHSTTV và nguồn carbon với loại và nồng
độ thích hợp sau 5 tuần được cấy chuyền sang môi
trường mới. Mô sẹo được dùng làm nguyên liệu
nuôi cấy huyền phù tế bào là loại mô sẹo xốp sau 1
lần cấy chuyền (10 tuần nuôi cấy). Mô sẹo (1 g)
được đưa vào bình chứa 30 mL môi trường lỏng có
thành phần tương tự môi trường tạo mô sẹo. Hệ
thống tế bào được nuôi trên máy lắc vòng với tốc
độ lắc 150 vòng/phút ở hai điều kiện tối và sáng.
Huyền phù tế bào được nuôi cấy trong 5 tuần và
đánh giá sự tăng trưởng sau mỗi tuần nuôi cấy.
Chỉ tiêu theo dõi trong thí nghiệm
Quá trình nuôi cấy tế bào xạ đen được tiến
hành ở 25 ± 2 °C và độ ẩm 70 ± 2%.
Mẫu cấy tạo mô sẹo được đặt trong tối với
các chỉ tiêu theo dõi bao gồm: ngày hình thành,
hình thái, tỉ lệ mẫu cấy tạo mô sẹo, khối lượng tươi
và chỉ số tăng trưởng của mô sẹo.
Tỉ lệ mẫu tạo mô sẹo được xác định theo
công thức
100=(%) *
a
X
A
,
trong đó X là tỉ lệ mẫu cấy tạo mô sẹo (%); a là số
mẫu hình thành mô sẹo; A là số mẫu cấy ban đầu
[15].
Chỉ số sinh trưởng (GI) được tính theo
công thức
−
= F I
I
W W
GI
W
,
trong đó WF là khối lượng tươi mô sẹo sau 4 tuần
nuôi cấy; WI là khối lượng tươi mô sẹo ban đầu
[15].
Xác định sinh khối tươi của tế bào huyền
phù [16]: cân ống eppendorf 1 mL, sau đó dùng
pipetman hút 1 mL huyền phù tế bào đã được lắc
đều cho vào ống. Huyền phù tế bào được ly tâm
với tốc độ 12.000 vòng/phút trong 15 phút bằng
máy ly tâm (Hermle Z216 MK, Đức). Cân lại ống
eppendorf chứa sinh khối tế bào lắng ở đáy sau khi
đã hút bỏ phần dịch nổi. Sinh khối tươi của tế bào
là độ chênh lệch khối lượng giữa hai lần cân.
Xử lý số liệu
Số liệu là kết quả trung bình của 3 lần lặp lại,
được xử lý thống kê bằng phần mềm Statgraphics
Centurion XV với sự khác biệt có ý nghĩa ở mức
5%.
3 Kết quả và thảo luận
3.1 Ảnh hưởng của BA kết hợp với 2,4-D lên
sự hình thành mô sẹo từ lá xạ đen
Sự cảm ứng tạo mô sẹo từ mẫu cấy lá xạ đen
được thực hiện bằng việc kết hợp BA 0,1 mg/L và
Phạm Thị Mỹ Trâm và CS.
34
2,4-D ở các nồng độ khác nhau vào môi trường. Sau
1 tuần, hầu hết các mẫu cấy từ lá đều gia tăng kích
thước. Tuy nhiên, chỉ có các mẫu cấy trên môi
trường có nồng độ 2,4-D từ 0,4 đến 1,5 mg/L mới
hình thành các khối mô sẹo nhỏ ở gân lá chính,
quanh mép lá và ở vết cắt. Sau 4 tuần, mẫu cấy trên
môi trường có BA 0,1 mg/L kết hợp 2,4-D 0,4 mg/L
có tỉ lệ tạo mô sẹo cao nhất (85%); khối lượng tươi
của mô sẹo cũng cao nhất (0,642 g); mô sẹo có màu
vàng xanh, trong và xốp. Mẫu cấy trên môi trường
bổ sung BA 0,1 mg /L và 2,4-D 1,5 mg/L có tỉ lệ hình
thành mô sẹo thấp nhất (37%), các sẹo xốp, rất nhỏ
xuất hiện ở mép lá và vết cắt. Môi trường có BA 0,1
mg/L kết hợp với 2,4-D nồng độ 2,0–3,0 mg/L
không cảm ứng được sự hình thành mô sẹo, tất cả
mẫu cấy đều bị đen và chết sau 4 tuần (Bảng 1
và Hình 1).
Bảng 1. Ảnh hưởng của BA và 2,4-D lên sự hình thành mô sẹo từ lá xạ đen sau 4 tuần nuôi cấy
Các chữ cái khác nhau trong một cột thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa với p ≤ 0,05
Hình 1. Mô sẹo từ lá xạ đen sau 4 tuần nuôi cấy trên môi trường B5 bổ sung BA 0,1 mg/Lvà 2,4-D: (A) 0,4 mg/L; (B)
1,0 mg/L; (C) 1,5 mg/L; (D) 2,0 mg/L; (E) 2,5 mg/L; (F) 3,0 mg/L
CĐHSTTV (mg/L)
Tỉ lệ mẫu cấy tạo mô sẹo (%) Khối lượng tươi mô sẹo (g) Hình thái mô sẹo
BA 2,4-D
0,1
0,4 85 0,642 0,068b Vàng xanh, trong,
xốp
1,0 67 0,108 0,019a Vàng xanh, trong,
xốp
1,5 37 0,031 0,006a Vàng nhạt, xốp
2,0 – – –
2,5 – – –
3,0 – – –
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 31–41, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5676 35
Loại và nồng độ CĐHSTTV được sử dụng
trong môi trường nuôi cấy ảnh hưởng rất lớn đến
sự hình thành mô sẹo, cấu trúc và màu sắc của
chúng. Trong quá trình tạo mô sẹo, việc bổ sung
auxin vào môi trường nuôi cấy là cần thiết. Trong
một số trường hợp, cytokinin được thêm vào môi
trường nuôi cấy để phối hợp với auxin kích thích
sự hình thành và tăng sinh mô sẹo. Cytokinin cần
thiết cho sự phân chia tế bào trong mẫu cấy. Khi
không có cytokinin, metaphase của chu trình tế bào
bị kéo dài vì sự sinh tổng hợp protein bị gián đoạn,
do đó có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát
triển của tế bào [17]. Auxin và cytokinin (như 2,4-
D và BA) thường được kết hợp để điều chỉnh quá
trình sinh trưởng của mô sẹo [18].
2,4-D là auxin có tác dụng kích thích phân
chia tế bào, kéo dài và gia tăng kích thước tế bào
nên thường được dùng để gây cảm ứng tạo mô sẹo.
Tuy nhiên, ở nồng độ cao, 2,4-D có thể dẫn đến
ngăn chặn sự hoạt động bình thường của acid
nucleic và sinh tổng hợp protein, do đó tế bào có
thể hóa nâu, giảm khả năng sống và chết [19]. Kết
quả khảo sát cho thấy môi trường bổ sung nhiều
hơn 1,0 mg/L 2,4-D không có tác dụng cảm ứng sự
hình thành mô sẹo từ lá xạ đen.
Tương tự, theo Phua và cs., mô sẹo xốp hình
thành từ lá cây cỏ rắn Clinacanthus nutans khi môi
trường MS được bổ sung 2,4-D nồng độ dưới 1,0
mg/L. Trong đó, môi trường MS bổ sung 2,4-D 0,5
mg/L tạo mô sẹo tốt nhất với khối lượng tươi trung
bình sau 15 tuần nuôi cấy đạt 6,230 g [19]. Le Thi
Tam Hong và Tran Van Minh cũng cho thấy việc
bổ sung BA 0,1 mg/L và 2,4-D nồng độ dưới 2,5
mg/L vào môi trường MS đã kích thích sự hình
thành mô sẹo từ lá của cây xạ đen in vitro trong khi
môi trường có 2,4-D 3,0 mg/L không cảm ứng được
sự hình thành mô sẹo [13].
3.2 Ảnh hưởng của nguồn cung cấp carbon lên
sự tăng sinh mô sẹo từ lá xạ đen
Đường được bổ sung vào môi trường nuôi
cấy in vitro với vai trò vừa là nguồn năng lượng,
vừa là chất điều chỉnh áp suất thẩm thấu của tế
bào; cả hai đều rất quan trọng trong việc cảm ứng
hình thành mô sẹo [20]. Ngoài ra, chúng cũng có
thể là phân tử tín hiệu và đóng vai trò tương tự
CĐHSTTV, giúp điều chỉnh quá trình trao đổi chất,
tăng trưởng và phát triển của tế bào bằng sự kích
thích biểu hiện hoặc ức chế các gen mã hoá enzyme
[21]. Do đó, việc khảo sát nguồn cung cấp carbon
và nồng độ thích hợp cần thiết để xác định điều
kiện tốt nhất cho sự tăng sinh mô sẹo từ lá xạ đen.
Glucose và sucrose là hai loại đường thường
hay sử dụng nhất trong nuôi cấy in vitro. Ngoài ra,
trong một số thí nghiệm, fructose, maltose, lactose
và galactose cũng được sử dụng để cảm ứng sự
hình thành và tăng sinh mô sẹo [17]. Kết quả ở
Bảng 2 cho thấy các loại đường với nồng độ khác
nhau đã ảnh hưởng khác biệt đến sự tăng sinh của
mô sẹo. Môi trường chứa glucose 30 g/L giúp mô
sẹo tăng sinh nhanh với sự gia tăng sinh khối cao
nhất sau 4 tuần (0,139 g) và chỉ số tăng trưởng đạt
2,109. Tiếp theo là môi trường có sucrose nồng độ
20 và 30 g/L với sự gia tăng khối lượng mô sẹo là
0,120 và 0,111 g. Trong khi đó, môi trường có
fructose và sucrose 40 g/L đã làm giảm đáng kể sự
tăng sinh của mô sẹo.
Bảng 2. Ảnh hưởng của nguồn carbon đến sự tăng sinh mô sẹo từ lá xạ đen sau 4 tuần nuôi cấy
Loại đường Nồng độ (g/L) Sự gia tăng khối lượng tươi mô sẹo (g) GI
Fructose
20 0,043 0,025ab 0,928 0,540abc
30 0,056 0,010abc 1,140 0,223abcd
40 0,039 0,026a 0,689 0,484a
Phạm Thị Mỹ Trâm và CS.
36
Loại đường Nồng độ (g/L) Sự gia tăng khối lượng tươi mô sẹo (g) GI
Glucose
20 0,090 0,042bcd 1,724 0,773bcd
30 0,139 0,014e 2,109 0,370d
40 0,098 0,042cde 1,904 0,933cd
Sucrose
20 0,120 0,028de 1,805 0,490bcd
30 0,111 0,003de 1,913 0,494cd
40 0,037 0,031a 0,863 0,725ab
Các chữ cái khác nhau trong một cột thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa với p ≤ 0,05.
Trejgell và cs. đã nghiên cứu ảnh hưởng của
nguồn carbon (sucrose, fructose, glucose, mannose
hoặc sorbitol, được khử trùng bằng nồi hấp hoặc
lọc vô trùng) để cảm ứng tạo mô sẹo từ nụ hoa, lá
mầm và trụ hạ diệp của cây bìm bìm biếc Pharbitis
nil. Khảo sát này cho thấy việc bổ sung glucose hấp
khử trùng đã kích thích sự tạo mô sẹo ở nụ hoa và
lá mầm. Theo các tác giả, cách khử trùng đường bổ
sung là một trong những yếu tố có ảnh hưởng quan
trọng đến sự hình thành mô sẹo, đặc biệt trong
trường hợp fructose. Tác dụng kích thích tạo mô
sẹo của fructose chỉ thể hiện khi được lọc vô trùng
[22]. Theo Sumaryono và cs., việc sử dụng fructose
sau khi hấp tiệt trùng có thể hạn chế sự tăng sinh
của tế bào do ở nhiệt độ cao nó giải phóng ra chất
độc (5-hydroxymethyl-2-furaldehyd) làm tăng tình
trạng mất nước của tế bào [23].
3.3 Ảnh hưởng của NAA lên sự tăng sinh mô
sẹo từ lá xạ đen
Nhằm thay thế 2,4-D, môi trường B5 bổ sung
NAA với các nồng độ khác nhau được sử dụng để
khảo sát sự tăng sinh mô sẹo nuôi cấy in vitro.
Auxin cần thiết cho việc tạo rễ và mô sẹo từ
mẫu cấy; chúng có khả năng thay đổi chương trình
di truyền sinh lý học sẵn có của tế bào thực vật.
Naphthalene acetic acid thường được sử dụng với
nồng độ thấp để kích thích sự phân chia và tăng
trưởng tế bào, khả năng đậu trái và hình thành rễ
[24]. Trong thí nghiệm này, các mẫu khảo sát có sự
gia tăng khối lượng từ 0,102 đến 0,157 g sau 4 tuần
nuôi cấy. Trong đó, môi trường bổ sung NAA 0,4
và 1,0 mg/L có sự gia tăng khối lượng mô sẹo cao
hơn so với các môi trường chứa NAA khác. Riêng
ở nghiệm thức đối chứng (môi trường có bổ sung
BA 0,1 mg/L và 2,4-D 0,4 mg/L), mô sẹo có khối
lượng tăng cao nhất (0,282 g) với chỉ số tăng trưởng
12,373 (Bảng 3).
Bảng 3. Ảnh hưởng của NAA lên sự tăng sinh mô sẹo từ lá xạ đen sau 4 tuần nuôi cấy
BA (mg/L) NAA (mg/L) Sự gia tăng khối lượng tươi mô sẹo (g) GI
0,1
Đối chứng 0,282 0,058c 12,373 2,722a
0,4 0,157 0,039b 2,944 0,656b
1,0 0,148 0,045ab 3,645 0,708b
2,0 0,105 0,027ab 3,300 1,070b
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 31–41, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5676 37
BA (mg/L) NAA (mg/L) Sự gia tăng khối lượng tươi mô sẹo (g) GI
3,0 0,084 0,008a 2,526 0,653b
4,0 0,106 0,053ab 3,532 1,985b
5,0 0,102 0,022ab 4,110 1,840b
Các chữ cái khác nhau trong một cột thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa với p ≤ 0,05.
Sự đáp ứng của tế bào thực vật với auxin để
phân chia tạo mô sẹo cũng như sự tăng sinh và
hình thái của mô sẹo phụ thuộc rất nhiều vào loại
auxin sử dụng. Theo Bhagya và Chandrashekar,
mẫu cấy từ đoạn thân non cây sâm nam Cyclea
peltata Lam. trên môi trường MS bổ sung NAA
riêng rẽ hoặc NAA kết hợp BA/KIN (Kinetin) đều
hình thành mô sẹo cứng trong khi sử dụng 2,4-D
riêng rẽ hoặc 2,4-D kết hợp BA/KIN đều hình thành
mô sẹo xốp [25]. Trong khi đó, Nguyễn Hữu Nhân
và cs. lại cho thấy mô sẹo của cây bách bệnh
(Eurycoma longifolia Jack) nuôi cấy trên môi trường
MS bổ sung NAA riêng rẽ hoặc NAA kết hợp KIN
tăng sinh tốt hơn so với môi trường bổ sung 2,4-D
riêng rẽ hoặc kết hợp KIN [26].
3.4 Khảo sát sự tăng sinh của mô sẹo từ lá xạ
đen theo thời gian
Mẫu cấy lá xạ đen được đặt trên môi trường
B5 bổ sung 2,4-D 0,4 mg/L, BA 0,1 mg/L và glucose
30 g/L để theo dõi sự hình thành và tăng trưởng
của mô sẹo theo thời gian (Hình 2)
Sau một tuần nuôi cấy, mẫu lá bắt đầu gia
tăng kích thước và mô sẹo nhỏ xuất hiện xung
quanh mép lá, chỗ vết cắt và gân lá chính. Sang
tuần thứ 2, mô sẹo đã xuất hiện nhiều hơn trên bề
mặt lá, mô sẹo xốp xuất hiện ở tuần thứ 3 và gia
tăng kích thước. Đến tuần thứ 5, sự sinh trưởng của
mô sẹo chuyển sang giai đoạn ổn định với sự gia
tăng sinh khối thấp hơn rất nhiều so với thời gian
trước đó. Ở thời điểm này, mô sẹo xốp, mọng nước
và có màu vàng xanh phát triển trên toàn bề mặt
mẫu cấy. Tuy nhiên, ở tuần thứ 6, trên mô sẹo bắt
đầu xuất hiện những đốm nâu. Đến tuần thứ 7 thì
sinh khối mô sẹo bắt đầu giảm và chuyển sang màu
vàng với nhiều vết đen.
Hình 2. Sự tăng trưởng của mô sẹo xạ đen theo thời gian
Phạm Thị Mỹ Trâm và CS.
38
Hình 3. Mô sẹo lá xạ đen nuôi cấy in vitro: (A) sau 5 tuần; (B) 1 lần cấy chuyền (10 tuần); (C) dưới kính
hiển vi quang học ở vật kính 40
Như vậy, dựa vào sự tăng sinh của mô sẹo
xạ đen theo thời gian, mô sẹo nên được cấy chuyền
sau tuần thứ 5 của quá trình nuôi cấy (Hình 2 và
3A). Sau một lần cấy chuyền (10 tuần), mô sẹo có
màu trắng sữa hoặc vàng nhạt, mọng nước, mềm,
mịn và rất dễ vỡ (Hình 3B). Mô sẹo sau 10 tuần
nuôi cấy dưới kính hiển vi (Hình 3C) gồm các tế
bào dài, rời nhau.
3.5 Sự tạo huyền phù tế bào xạ đen
Việc nuôi cấy huyền phù tế bào thực vật cần
thiết cho quá trình nhân giống cây trồng in vitro,
sản xuất sinh khối tế bào ở quy mô công nghiẹ ̂p để
thu nhận các chất có hoạt tính sinh học. Kết quả
khảo sát sự tăng trưởng của huyền phù tế bào ở
điều kiện sáng và tối được trình bày trên Hình 4.
Sau tuần nuôi cấy đầu tiên trong môi
trường lỏng, mô sẹo bắt đầu phóng thích tế bào và
cụm nhỏ tế bào vào môi trường nuôi cấy. Sự gia
tăng sinh khối diễn ra chậm. Từ tuần thứ 2 đến
tuần thứ 4, tế bào bước sang giai đoạn phân chia và
tăng nhanh sinh khối. Sinh khối tế bào cao nhất
được ghi nhận sau 4 tuần nuôi cấy ở cả hai điều
kiện sáng và tối với các tế bào nhỏ, mịn, phân tán
đều trong môi trường (Hình 5). Sau đó, sự sinh
trưởng của tế bào giảm đáng kể ở tuần thứ 5, tế bào
bước sang giai đoạn suy yếu và chết nếu không
được cấy chuyền sang môi trường mới. Vì vậy,
tuần thứ 4 của quá trình nuôi cấy là thời điểm thích
hợp cho viẹ ̂c cấy chuyền huyền phù tế bào xạ đen.
Hình 4. Sự tăng trưởng của huyền phù tế bào xạ đen theo thời gian
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 31–41, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5676 39
Hình 5. Huyền phù tế bào xạ đen
Kết quả ghi nhận trên đây cũng cho thấy
huyền phù tế bào tăng sinh ở trong tối mạnh hơn
ngoài sáng. Cụ thể, ở tuần thứ 4, sinh khối tế bào ở
trong tối đạt 149,933 g/L trong khi ở ngoài sáng chỉ
đạt 106,883 g/L.
Ánh sáng ảnh hưởng mạnh đến sự tăng
trưởng ở thực vật. Một hoặc nhiều chất cần thiết
cho sự phân chia tế bào có thể bị giảm hàm lượng
do tiếp xúc với ánh sáng [27]. Ngoài ra, ánh sáng
có thể ngăn chặn sự hoạt động của các enzyme liên
quan đến sự tăng trưởng tế bào [28]. Năm 2017, Mir
và cs. đã khảo sát ảnh hưởng của điều kiện chiếu
sáng lên sự gia tăng sinh khối khi nuôi cấy huyền
phù tế bào cây Artemisia amygdalina Decne. Các tác
giả ghi nhận sinh khối tế bào đạt cao nhất ở ngày
thứ 35 của giai đoạn ổn định khi huyền phù tế bào
được nuôi trong tối [29].
4 Kết luận
Sau quá trình thí nghiệm, chúng tôi rút ra
một số kết luận sau:
- Môi trường B5 bổ sung glucose 30 g/L, BA
0,1 mg/L và 2,4-D 0,4 mg/L thích hợp cho
nuôi cấy mô sẹo từ lá xạ đen in vitro. Mô sẹo
sau 5 tuần nuôi cấy có màu vàng xanh, xốp.
Sau 10 tuần nuôi cấy, mô sẹo có màu trắng
sữa hoặc vàng nhạt, mềm, mịn và dễ vỡ,
được sử dụng để nuôi cấy huyền phù tế bào.
- Huyền phù tế bào phát triển tốt trong điều
kiện tối với các tế bào nhỏ mịn, phân tán đều
trong môi trường lỏng. Sinh khối tế bào gia
tăng cao nhất ở tuần thứ 4 của quá trình nuôi
cấy với khối lượng tế bào tươi đạt 149,933
g/L.
Lời cảm ơn
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn Trường
ĐH Bách Khoa, Tp. HCM và Trường Đại học Thủ
Dầu Một đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất để thực
hiện nghiên cứu này.
Tài liệu tham khảo
1. Pant B. Application of plant cell and tissue culture
for the production of phytochemicals in medicinal
plants. Advances in Experimental Medicine and
Biology. 2014;808:25-39.
2. Subedi T. Phytochemical studies of Taxus species
and their uses in cancer treatment. Janapriya Journal
of Interdisciplinary Studies. 2017;6:160-71.
3. Ramani S, Jayabaskaran C. Enhanced catharanthine
and vindoline production in suspension cultures of
Catharanthus roseus by ultraviolet-B light . Journal of
Molecular Signaling. 2008;3(9):1-6.
4. Hoa HQ, Khánh TC. Đặc điểm thực vật của ba loại
cây thuốc thuộc chi Cườm rụng (Ehretia P. BR.), họ
Vòi voi (Boraginaceae). Tạp chí Dược liệu.
2009;14(3):137-41.
5. Kuo YH, Kuo LMY. Antitumour and anti_AIDS
triterpenes from Celastrus hindsii. Phytochemistry.
1997;44(7):1275-81.
6. Ly TN, Shimoyamada M, Yamauchi R. Isolation and
characterization of rosmarinic acid oligomers in
Celastrus hindsii Benth leaves and their antioxidative
activity. Agricultural and Food Chemistry. 2006;
54(11):3786-93.
7. Cường NH. Nghiên cứu thành phần hóa học và
thăm dò hoạt tính sinh học cây xạ đen (Celastrus
hindsii Benth. and Hook.) và cây cùm rụm răng
Phạm Thị Mỹ Trâm và CS.
40
(Ehretia dentata Courch.) [Luận án]. [Hà Nội: VN]:
Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam; 2008.
8. Ly TN. Separation process of rosmarinic acid and
their derivatives from Celastrus hindsii Benth leaves.
Journal of Science and Technology. 2016;54(2C):380-
7.
9. Trâm TTM, Hương TT, Loan LQ, Dũng NH, Tuấn
TT. Khảo sát sự sinh trưởng, khả năng kháng oxy
hoá và hàm lượng phenolic của cây xạ đen Ehretia
asperula Zollinger et Moritzi in vitro dưới tác động
của đèn led. Tạp chí Khoa học công nghệ và Thực
phẩm. 2018;16(1):38-48.
10. Anh TNT, Thu NTB. Nghiên cứu nhân nhanh cây xạ
đen Ehretia asperula Zoll. et Mor. Tạp chí Dược liệu.
2012;17(4):244-8.
11. Tien LTT, Minh TV. Tissue cultures of xa den Ehretia
asperula Zollinger et Moritzi. An Giang University
Journal of Science. 2015;3(3):113-23.
12. Tuan TT, Loan NTK, Thuy PTT, Hang NTT, Trang
NTH, et al. Quanlitative rosmarinic acid content in
ex vitro plant and initial micropropagation of
Celastrus hindsii. Vietnamese Journal of
Biotechnology, 2016;14(1A): 283-90.
13. LTT Hong, Minh TV. Saponin accumulation in cell
suspension culture of Ehretia asperula Zollinger et
Moritzi. In: 8th International Conference on
Advances in Civil, Structural and Environmental
Engineering - ACSEE; 2019 January 12–13; Kuala
Lumpur, Malaysia. New York (USA): Institute of
Research Engineers and Doctors; 2019. p. 21-25.
14. Gamborg OL, Miller RA, Ojima K. Nutrient
requirements of suspension cultures of soybean root
cells. Experimental Cell Research. 1986;50:151-8.
15. Sahraroo A, Babalar M, Mirjalili MH, Fattahi
Moghaddam MR, Nejad Ebrahimi S. In vitro callus
induction and rosmarinic acid quantification in
callus culture of Satureja khuzistanica Jamzad
(Lamiaceae). Iranian Journal of Pharmaceutical
Research. 2014;13(4):1447-1456.
16. Cương LK, Chiến HX, Nam NB, Hương TT, Nhựt
DT. Ảnh hưởng của một số yếu tố lên khả năng tăng
sinh mô sẹo "xốp" và bước đầu nuôi cấy huyền phù
tế bào sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et
Grushv.). Tạp chí Sinh học. 2012;34(3):265-276.
17. Lượng NĐ, Tiên LTT. Công nghệ tế bào. Hồ Chí
Minh: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia; 2006. tr.376.
18. Benítez-García I, EmilioVanegas-Espinoza P, Meléndez-
Martínez AJ, Heredia FJ, Paredes-López, O, Del Villar-
Martínez AA. Callus culture development of two
varieties of Tagetes erecta and carotenoid production.
Electronic Journal of Biotechnology. 2014;17(3):107-13.
19. Phua QY, Chin CK, Asri ZRM, Lam DYA. The
callugenic effects of 2,4-Dichlorophenoxy acetic acid
(2,4-D) on leaf explants of sabah snake grass
(Clinacanthus nutans). Pakistan Journal of Botany.
2016;48(2):561-566.
20. André SB, Mongomaké K, Modeste KK, Edmond
KK, Tchoa K, Hilaire KT, Justin KY. Effects of plant
growth regulators and carbohydrates on callus
induction and proliferation from leaf explant of
Lippia multiflora Moldenke (Verbenacea).
International Journal of Agriculture and Crop
Sciences. 2015;8(2):118-27.
21. Ilczuk A, Jagieo-Kubiec K, Jacygrad E. The effect of
carbon source in culture medium on
micropropagation of common ninebark (Physocarpus
opulifolius (L.) Maxim.) ‘Diable D’or’. Acta
Scientiarum Polonorum Hortorum Cultus.
2013;12(3):23-33.
22. Trejgell A, Jarkiewicz M, Tretyn A. The effect of
carbon source on callus induction and regeneration
ability in Pharbitis nil. Acta Physiologiae Plantarum.
2006;28(6):619-26.
23. Sumaryono, Muslihatin W, Ratnatnadewwi D.
Effect of carbohydrate source on growth and
performance of in vitro sago palm (Metroxylon sagu
Rottb.) plantlets. Hayati Journal of Biosciences.
2012;19(2):88-92
24. Yan YH, Li JL, Zhang XQ, Yang WY, Ma YM, Zhu
YQ, et al. Effect of naphthalene acetic acid on
adventitious root development and associated
physiological changes in stem cutting of Hemarthria
compressa. PLoS One. 2014;9(3):1-6.
25. Bhagya N, Chandrashekar KR. Effect of growth
regulators on callus induction from Cyclea peltata
(lam.) Hook. f. Thoms. Asian Journal of
Pharmaceutical and Clinical Research. 2013;6(4):85-
88.
26. Nhân NH, Quảng HT, Lộc NH. Ảnh hưởng của môi
trường nuôi cấy lên khả năng sinh trưởng của callus
cây bách bệnh (Eurycoma longifolia Jack). Tạp chí
Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên.
2019;128(1E):69-76.
27. Yeoman MM, Davidson AW. Effect of light on cell
division in developing callus cultures. Annals of
Botany. 1971;35:1085-100.
28. Tiên LTT, Việt BT, Lượng NĐ. Khảo sát vài yếu tố
ảnh hưởng đến sự sinh tổng hợp taxol của các hệ
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 129, Số 1A, 31–41, 2020
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v129i1A.5676 41
thống tế bào Taxuz Wallichiana Zucc. in vitro. Tạp chí
phát triển khoa học và công nghệ. 2010;13(3):67-77.
29. Mir MY, Kamili AN, Hassan OP, Tyub S. Effect of
light and dark conditions on biomass accumulation
and secondary metabolite production in suspension
cultures of Artemisia amygdalina Decne. Journal of
Himalayan Ecology and Sustainable Development.
2017;12:107-112.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
anh_huong_cua_mot_so_yeu_to_moi_truong_den_qua_trinh_nuoi_ca.pdf