Kết quả bảng 1 cho thấy, sợi của 2 chủng nấm sò FH và
PN20 đều phát triển trên môi trường PDA với các giá trị pH
5,5; 6 và 6,5. Sợi của chủng nấm sò FH và PN20 phát triển
tương đương nhau, tốc độ mọc sợi của 2 chủng nấm này
sau 8 ngày trên môi trường PDA đạt 0,93-1,06 cm/ngày.
Không có sự khác biệt quá lớn về tốc độ mọc sợi của cùng
một chủng nấm tại các giá trị pH thí nghiệm. Sau 8 ngày
nuôi, đường kính tản nấm của 2 chủng đều đạt 8-9 cm. Tốc
độ mọc sợi của 2 chủng này nhanh hơn tốc độ mọc sợi của
các chủng nấm trong thí nghiệm của Valentin và cs (2016)
[12]. Trong nghiên cứu của Hasan Sardar và cs (2015) [2],
đa số các chủng nấm sò cũng phát triển tốt nhất tại pH 6,
trừ chủng P. sapidus (FW-133) đạt tốc độ phát triển nhanh
nhất tại pH 6-7. Trong thí nghiệm của Bùi Đoàn Phượng
Linh và cs (2018) [10], sợi nấm bào ngư xám phát triển tốt
trên môi trường có pH 6. Karacanci năm 1997 đã thông báo,
sinh trưởng của chủng nấm P. ostreatus đạt tối đa tại pH
6,5 (trích theo [2]). Các kết quả này có thể giải thích được
do sự khác biệt di truyền của các loài khác nhau trong chi
Pleurotus.
Từ kết quả trên cho thấy, pH 6,5 là phù hợp nhất cho sinh
trưởng phát triển của nấm sò FH và PN20. Giá trị pH này
được chúng tôi sử dụng trong thí nghiệm tiếp theo.
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của nhiệt độ, pH và môi trường nuôi cấy đến sinh trưởng phát triển của chủng nấm sò (Pleurotus sp.) FH và PN20, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
3062(12) 12.2020
Khoa học Nông nghiệp
Đặt vấn đề
Khoảng hơn 200 loài nấm ăn đã được sử dụng như thực
phẩm chức năng trên toàn thế giới, nhưng chỉ khoảng 35
loài được nuôi trồng và thương mại hoá [1]. Các loài nấm
ăn rất giàu protein, glycoproteins, peptides, triterpenoids,
khoáng cũng như vitamin B, C và D [1-3]. Quả thể của
nấm sò (Pleurotus sp.) chứa các thành phần có tính chất
chống viêm, kích thích và điều hoà hệ miễn dịch, có hoạt
tính chống ung thư [4]. Ngoài những ứng dụng trong chế
biến làm thức ăn, thực phẩm chức năng và chiết xuất những
hợp chất có tính chất dược liệu [5], nấm còn được sử dụng
trong quá trình tái chế các phụ phẩm nông nghiệp, chuyển
hoá các hợp chất lignocellulose thành các thành phần có giá
trị hơn, phân huỷ sinh học các hợp chất xenobiotic, sản xuất
enzyme... [3, 4, 6].
Tại các khu vực trồng nấm thuộc vùng nhiệt đới, người
trồng nấm còn gặp cản trở bởi nhiệt độ trong ngày. Giai
đoạn đầu tiên của quá trình sản xuất nấm là chuẩn bị giống
nấm các cấp. Đây là giai đoạn cấy chuyển giống nấm từ
môi trường này sang môi trường khác [7, 8]. Sinh trưởng
của nấm chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như giá thể trồng,
môi trường nhân giống, nhiệt độ, pH môi trường, độ ẩm và
cường độ chiếu sáng [1, 2, 9]. Mục đích của nghiên cứu này
là đánh giá và tìm được điều kiện nhiệt độ, pH môi trường
và môi trường thích hợp với sự phát triển sợi nấm của 2
chủng nấm sò FH và PN20 để quá trình duy trì và sản xuất
giống nấm đạt hiệu quả cao.
Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Hai chủng nấm sò FH và PN20 được lưu giữ tại Trung
tâm Đào tạo, Nghiên cứu và Phát triển nấm, Khoa Công
nghệ sinh học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Chủng
nấm PN20 được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
cung cấp, chủng FH có nguồn gốc từ Thái Lan. Hai chủng
nấm được cấy trong ống thạch nghiêng, không bị nhiễm, sợi
nấm không có dấu hiệu già hoá.
Các môi trường, hoá chất dùng để nuôi cấy sợi nấm sò
Pleurotus sp. gồm:
- PDA: 200 g khoai tây, 20 g dextrose, 15 g agar, 1000
ml nước cất.
- SPDA: 200 g khoai lang, 20 g dextrose, 15 g agar, 1000
ml nước cất.
- YDA: 200 g khoai sọ, 20 g dextrose, 15 g agar, 1000
ml nước cất.
Chuẩn bị môi trường: khoai đã gọt sạch vỏ được luộc với
1000 ml nước cất trong 30 phút, lọc lấy dịch. Dịch này được
pha với các thành phần còn lại của từng loại môi trường và
Ảnh hưởng của nhiệt độ, pH và môi trường
nuôi cấy đến sinh trưởng phát triển
của chủng nấm sò (Pleurotus sp.) FH và PN20
Nguyễn Huy Thuần1, Tạ Thị Huệ2, Bùi Hương Lan2, Vũ Thị Khánh Linh2,
Phạm Thị Thêu2, Đỗ Tuấn Anh2, Nguyễn Thị Bích Thùy2, Nguyễn Văn Giang2*
1Viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ cao, Trường Đại học Duy Tân
2Khoa Công nghệ sinh học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Ngày nhận bài 2/3/2020; ngày chuyển phản biện 6/3/2020; ngày nhận phản biện 20/4/2020; ngày chấp nhận đăng 28/5/2020
Tóm tắt:
Nấm sò (Pleurotus sp.) được trồng nhiều ở nước ta, không chỉ do chúng cung cấp nguồn thực phẩm sạch, các chất có
giá trị dùng trong y tế mà còn đóng vai trò quan trọng trong chuyển hoá các loại phụ phẩm nông nghiệp thành các
sản phẩm có giá trị, xử lý các hợp chất xenobiotic. Sinh trưởng, phát triển của sợi nấm chịu tác động của nhiệt độ,
pH và môi trường nhân giống. Nghiên cứu này được tiến hành với mục đích đánh giá và tìm được điều kiện nhiệt
độ, pH và môi trường nhân giống thích hợp với sự phát triển sợi nấm của 2 chủng nấm sò FH và PN20 để quá trình
duy trì và sản xuất giống nấm đạt hiệu quả cao. Kết quả cho thấy, Potato dextrose agar (PDA) là môi trường tốt nhất
cho sợi nấm sò FH và PN20 phát triển, tiếp theo là Sweet potato dextrose agar (SPDA) và Yam dextrose agar (YDA).
Nhiệt độ và pH môi trường nuôi cấy tối ưu cho 2 chủng nấm này phát triển lần lượt là 25oC và 6,5.
Từ khóa: môi trường PDA, nấm sò, nhiệt độ, pH, SPDA, YDA.
Chỉ số phân loại: 4.1
*Tác giả liên hệ: Email: vangianghua@gmail.com
3162(12) 12.2020
Khoa học Nông nghiệp
hấp khử trùng 15 phút tại 121oC. Môi trường sau khi hấp
được chuyển sang các đĩa petri và làm nguội xuống 40oC.
Các chủng nấm được cấy tại trung tâm của các đĩa môi
trường và nuôi trong các điều kiện thí nghiệm. Tốc độ phát
triển của tản nấm được đo 2 ngày 1 lần trong 8 ngày [8].
Thí nghiệm 1 - Đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ đến
sinh trưởng của chủng giống nấm sò FH và PN20: cắt lấy
0,5 x 0,5 cm mỗi chủng nấm và cấy tại trung tâm của các
đĩa petri chứa 20 ml môi trường PDA và nuôi trong các điều
kiện nhiệt độ 10, 15, 20, 25, 30 và 35oC. Tốc độ mọc của
sợi nấm, đường kính tản nấm được quan sát và đo sau 2, 4,
6 và 8 ngày nuôi. Tốc độ mọc của sợi nấm (cm/ngày) được
xác định theo [7].
Thí nghiệm 2 - Đánh giá ảnh hưởng của pH môi trường
đến sinh trưởng của chủng giống nấm sò FH và PN20: sau
khi tìm được nhiệt độ thích hợp, 2 chủng nấm sò được nuôi
trên môi trường PDA với các giá trị pH (5,5; 6; 6,5) để tìm
giá trị pH thích hợp. Tốc độ mọc của sợi nấm, đường kính
tản nấm được quan sát và đo sau 2, 4, 6 và 8 ngày nuôi. Tốc
độ mọc của sợi nấm (cm/ngày) được xác định theo [7, 10].
Thí nghiệm 3 - Đánh giá ảnh hưởng của môi trường nuôi
cấy đến sinh trưởng của chủng giống nấm sò FH và PN20:
các chủng nấm sò được cấy vào trung tâm các đĩa petri chứa
20 ml môi trường PDA, SPDA và YDA với giá trị pH thích
hợp (kết quả của thí nghiệm 2). Các đĩa petri được ủ tại
nhiệt độ thích hợp với từng chủng nấm (kết quả thí nghiệm
1). Tốc độ mọc của sợi nấm được đo hàng ngày theo [7].
Mỗi thí nghiệm được bố trí lặp lại 3 lần, số liệu được xử
lý bằng phần mềm Excel 2013 và IRRISTST 5.0. Mật độ
hệ sợi được đánh giá bằng cách quan sát mức độ dày, mỏng
của tản nấm và mức độ bám chắc của hệ sợi nấm vào môi
trường.
Kết quả và thảo luận
Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sinh trưởng của sợi nấm
sò FH và PN20
Nhiệt độ và pH môi trường nuôi ảnh hưởng rất lớn tới
sự phát triển của sợi nấm, đặc biệt trong giai đoạn ra quả
thể. Nhiệt độ trong ngày dao động từ 25 đến 35oC là một
trở ngại lớn với người trồng nấm ở vùng nhiệt đới. Chính vì
vậy, chọn được các chủng nấm sò có thể chịu được nhiệt độ
cao là rất cần thiết để đảm bảo năng suất, chất lượng nấm
[2]. Hai chủng nấm sò FH và PN20 được nuôi cấy trên đĩa
petri chứa môi trường PDA với giá trị pH 6,5 tại các nhiệt
độ 10, 15, 20, 25, 30 và 35oC. Tốc độ phát triển của tản nấm
được quan sát và đo 2 ngày 1 lần, trong 8 ngày. Tốc độ mọc
sợi của 2 chủng nấm FH và PN20 có xu hướng giống nhau
tại các nhiệt độ khác nhau (hình 1, 2 và 3). Sợi của 2 chủng
nấm sò thí nghiệm phát triển được tại các nhiệt độ khảo sát,
tuy nhiên tốc độ mọc sợi của chúng chịu ảnh hưởng trực tiếp
bởi nhiệt độ.
Effects of temperature, pH,
and cultural media on the growth
of Oyster mushroom
(Pleurotus sp.) FH and PN20
Huy Thuan Nguyen1, Thi Hue Ta2, Huong Lan Bui2,
Thi Khanh Linh Vu2, Thi Theu Pham2, Tuan Anh Do2,
Thi Bich Thuy Nguyen2, Van Giang Nguyen2*
1Institute of Research and Development, Duy Tan University
2Faculty of Biotechnology, Vietnam National University of Agriculture
Received 2 March 2020; accepted 28 May 2020
Abstract:
Oyster mushrooms (Pleurotus sp.) are widely grown in
Vietnam, because they not only provide clean food, and
valuable pharmaceutical substances for medical use, but
also play an important role in converting agricultural
byproducts into valuable products, in biotreatment of
xenobiotic compounds. The growth of mycelia is affected
by temperature, pH, and culture medium. Therefore, the
present study aimed at investigating the behaviour of
oyster mushroom strains FH and PN20 under different
media, temperature, and pH requirements for mycelial
growth for the maintenance and production mushroom
spawn with high efficiency. The results showed that the
Potato dextrose agar (PDA) medium was the best culture
for mycelial growth of FH and PN20 oyster mushrooms,
followed by Sweet potato dextrose agar (SPDA) and Yam
dextrose agar (YDA). The optimum culture temperature
and pH for mycelium growth of FH and PN20 oyster
mushrooms are 25°C, and 6.5, respectively.
Keywords: medium PDA, Oyster mushroom, pH,
Sweet potato dextrose agar (SPDA), temperature, Yam
deextrose agar (YDA).
Classification number: 4.1
3262(12) 12.2020
Khoa học Nông nghiệp
Hình 1. Ảnh hưởng của nhiệt độ nuôi cấy tới sự phát triển của sợi
nấm sò FH (trái) và PN20 (phải).
Hình 3. Tốc độ mọc sợi của chủng nấm sò FH (trái) và PN20 (phải)
trên môi trường PDA tại các ngưỡng nhiệt độ thí nghiệm.
Sau 8 ngày nuôi sợi, ở các nhiệt độ 20, 25 và 30oC tốc độ
mọc sợi của 2 chủng nấm sò FH và PN20 khá cao, sợi nấm
phát triển tốt, hệ sợi mọc đều về các hướng. Tại các ngưỡng
nhiệt độ 15, 20 và 30oC hệ sợi nấm mảnh, nhiều sợi khí sinh;
khi nuôi tại nhiệt độ 25oC sợi nấm tạo hệ sợi dày, bám chắc
vào môi trường nuôi sợi. Tốc độ mọc sợi của chủng nấm sò
FH cao hơn tốc độ mọc sợi của PN20 (hình 1). Một số nhà
nghiên cứu như Hasan Sardar và cs (2015) [2], Zharare và
cs (2010) [7], Neelam và cs (2013) [11] cũng có kết luận,
nhiệt độ thích hợp để sợi nấm sò phát triển là 20-30oC,
nhiệt độ thích hợp nhất là 25oC. Trong nghiên cứu của Bùi
Đoàn Phượng Linh và cs (2018) [10], sợi nấm bào ngư xám
(Pleurotus sajor-caju) phát triển tốt tại ngưỡng nhiệt độ 23-
30oC, tốt nhất trong khoảng 25-28oC. Sinh trưởng của sợi
nấm và quá trình hình thành quả thể nấm của các chủng
nấm sò chịu tác động của nhiệt độ và chúng có thể phát triển
được ở nhiệt độ cao tại các vùng nhiệt đới [8]. Kết quả thí
nghiệm này cho thấy, 2 chủng nấm sò FH và PN20 có khả
năng sinh trưởng tốt trong điều kiện của các vùng nhiệt đới
và cận nhiệt đới, tăng cơ hội sản xuất nấm ăn cho các hộ
gia đình.
Tốc độ mọc của sợi nấm có ý nghĩa rất lớn trong quá
trình trồng nấm, cụ thể tại pha ươm sợi nấm sau khi cấy
nấm vào bịch giá thể nuôi trồng, trước pha tạo quả thể nấm.
Trong pha ươm sợi này, tốc độ mọc của sợi nấm quyết định
thời gian nuôi trồng và năng suất nấm. Tốc độ mọc sợi
nhanh làm tăng tốc độ ăn sâu của sợi nấm vào trong giá thể
nuôi trồng, thu nhận được nhiều dinh dưỡng để nuôi sợi.
Bên cạnh đó, sợi nấm mọc nhanh sẽ dễ dàng loại trừ các vi
sinh vật gây nhiễm. Nếu sợi nấm mọc chậm, cơ chất không
được bao phủ bởi sợi nấm sẽ rất dễ bị nhiễm các loại nấm
dại, vi khuẩn, kết quả làm giảm năng suất [7].
Tốc độ mọc sợi của 2 chủng nấm sò FH và PN20 thấp
nhất và có xu hướng dừng lại tại nhiệt độ nuôi sợi 10 và
35oC; tốc độ mọc sợi của hai chủng nấm sò này sau 8 ngày
10oC 15oC 20oC 25oC 30oC 35oC
Hình 2. Sinh trưởng của sợi nấm sò FH (hàng trên) và PN20 (hàng dưới) trên môi trường PDA sau 8 ngày nuôi ở các nhiệt độ khác nhau.
3362(12) 12.2020
Khoa học Nông nghiệp
nuôi chỉ đạt lần lượt 0,22 cm/ngày và 0,03 cm/ngày. Tốc
độ phát triển của sợi tăng dần khi nhiệt độ tăng từ 15oC đến
25oC và đạt giá trị cao nhất tại 25oC. Khi tăng nhiệt độ lên
30oC và 35oC tốc độ mọc sợi của chủng nấm FH chỉ đạt 85,3
và 14,7% và PN20 là 97,2 và 26,4% so với tốc độ mọc sợi
tại 25oC. Như vậy, có thể kết luận chủng nấm sò PN20 mẫn
cảm với nhiệt độ hơn là FH. 25oC cũng là nhiệt độ tối ưu
để sợi của các chủng nấm sò trong nghiên cứu của Hasan
Sardar và cs (2015) [2], Zharare và cs (2010) [7] phát triển.
Bùi Đoàn Phượng Linh và cs (2018) [10] khi đánh giá ảnh
hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển của sợi nấm bào ngư
xám cũng kết luận nhiệt độ cao hơn 30oC không thích hợp
cho sợi nấm phát triển, sợi nấm mảnh. Kết quả này có khác
với nghiên cứu của Ian và cs (2019) [9], các tác giả này cho
rằng nhiệt độ 22oC thích hợp cho sợi nấm sò P. ostreatus
phát triển.
Ảnh hưởng của pH môi trường nuôi cấy đến sinh
trưởng của sợi nấm sò FH và PN20
Mỗi chủng nấm sẽ phát triển tốt trên môi trường nuôi
cấy với giá trị pH thích hợp. Giá trị pH từ 4,0 đến 7,0 thích
hợp cho sợi nấm phát triển, giá trị pH tối ưu là 6,5 [1]. Khi
sợi nấm phát triển tốt sẽ đảm bảo quá trình hình thành quả
thể diễn ra thuận lợi và đảm bảo năng suất nấm, do pH và
nhiệt độ ảnh hưởng tới hoạt động của các enzyme thuỷ phân
các hợp chất hữu cơ có trong cơ chất. Thí nghiệm này được
tiến hành trên môi trường PDA với các pH (5,0; 6,0 và 6,5)
tại nhiệt độ 25oC.
Bảng 1. Ảnh hưởng của pH tới tốc độ mọc sợi của hai chủng nấm
sò FH và PN20 trên môi trường PDA.
pH
Đường kính tản nấm (cm) Tốc độ
mọc sợi
(cm/ngày)2 ngày nuôi 4 ngày nuôi 6 ngày nuôi 8 ngày nuôi
FH PN20 FH PN20 FH PN20 FH PN20 FH PN20
5,5 1,4 1,03 3,7 2,97 5,73 6,03 8,0 8,97 0,93 1,06
6 1,83 1,03 4,03 2,97 6,07 6,03 8,67 8,97 1,02 1,06
6,5 2,93 1,6 5,67 4,13 8,97 7,23 9,0 8,9 1,06 1,05
LSD
0,05
0,15 0,14 0,58 0,18 0,49 0,2 0,54 0,3
Kết quả bảng 1 cho thấy, sợi của 2 chủng nấm sò FH và
PN20 đều phát triển trên môi trường PDA với các giá trị pH
5,5; 6 và 6,5. Sợi của chủng nấm sò FH và PN20 phát triển
tương đương nhau, tốc độ mọc sợi của 2 chủng nấm này
sau 8 ngày trên môi trường PDA đạt 0,93-1,06 cm/ngày.
Không có sự khác biệt quá lớn về tốc độ mọc sợi của cùng
một chủng nấm tại các giá trị pH thí nghiệm. Sau 8 ngày
nuôi, đường kính tản nấm của 2 chủng đều đạt 8-9 cm. Tốc
độ mọc sợi của 2 chủng này nhanh hơn tốc độ mọc sợi của
các chủng nấm trong thí nghiệm của Valentin và cs (2016)
[12]. Trong nghiên cứu của Hasan Sardar và cs (2015) [2],
đa số các chủng nấm sò cũng phát triển tốt nhất tại pH 6,
trừ chủng P. sapidus (FW-133) đạt tốc độ phát triển nhanh
nhất tại pH 6-7. Trong thí nghiệm của Bùi Đoàn Phượng
Linh và cs (2018) [10], sợi nấm bào ngư xám phát triển tốt
trên môi trường có pH 6. Karacanci năm 1997 đã thông báo,
sinh trưởng của chủng nấm P. ostreatus đạt tối đa tại pH
6,5 (trích theo [2]). Các kết quả này có thể giải thích được
do sự khác biệt di truyền của các loài khác nhau trong chi
Pleurotus.
Từ kết quả trên cho thấy, pH 6,5 là phù hợp nhất cho sinh
trưởng phát triển của nấm sò FH và PN20. Giá trị pH này
được chúng tôi sử dụng trong thí nghiệm tiếp theo.
Ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy đến sinh trưởng
của chủng nấm sò FH và PN20
Hai chủng nấm FH và PN20 được nuôi trên môi trường
PDA, SPDA và YDA tại 25oC, pH 6,5 để đánh giá ảnh
hưởng của môi trường nuôi sợi tới sinh trưởng của sợi nấm
sau 6 ngày. Kết quả hình 4 cho thấy, 3 môi trường đều ảnh
hưởng tới sự phát triển của sợi nấm.
Hình 4. Đường kính tản nấm sò FH và PN20 trên môi trường PDA,
SPDA và YDA.
7
T k t quả trên cho thấy, pH 6,5 là phù h p nhấ ch inh ng phát triển c a
nấm à N . Giá tr p này đ c chúng tôi s d ng trong thí nghiệm ti p
theo.
Ảnh hưởng củ i trư ng nuôi c đến sinh trưởng của chủng n m sò FH
và PN20
i ch ng nấ à PN20 đ c nu i n i ng à
i oC, pH 6,5 để đ nh gi ảnh h ng c i ng nu i i i inh ng c
i nấ u ngày. uả h nh ch hấy, i ng đ u ảnh h ng i ph
iển c i nấ
H nh ư n nh t n n t n t ư n .
H nh . t độ n (trái) (ph i) t n t ư n
YMA sau 6 ngày nuôi.
Hai ch ng nấ à N ph iển n cả 3 i ng nu i cấy
ng nh ản nấ à c đ c i c ch ng PN20 n nhấ ,83 à
c ngày đ đ c u ngày nu i n i ng T c đ c i c i nấ
N n i ng nh nh h n n c c i ng c n i ng nh ản
nấ à c đ c i c ch ng nấ h ng c h c biệ n cả 3 i
ng h nghiệ (đ à 1,1 c ngày). Tuy nhiên, i c ch ng à N
n i ng b ch à i ng nu i à hệ i nấ dày h n hi i
nấ ph iển trên i ng à (h nh ). i nấ đ c nu i n c c
i ng h c nh u ph iển i c đ h c nh u d đ c cung cấp ngu n dinh
YDA
SPDA PDA
PDA SPDA
YDA
ình 5. Mật sợi nấm sò FH (trái) và PN20 (phải) trên các môi
trường PDA, SPDA và YDA sau 6 ngày nuôi.
Hai chủng nấm sò FH và PN20 át triể tốt trên cả 3
môi trường nuôi cấy. Đường kính tản nấm và tốc độ mọc
sợi của chủng PN20 lớn nhất (7,83 và 1,22 cm/ngày) đạt
được sau 6 ngày nuôi trên môi trường PDA. Tốc độ mọc
sợi của sợi nấm sò PN20 trên môi trường PDA nhanh hơn
trên các môi trường còn lại. Đường kính tản nấm và tốc
độ mọc sợi của chủng nấm sò FH không có sự khác biệt
trên cả 3 môi trường thí nghiệm (đạt 7,37 và 1,17 cm/ngày).
Tuy nhiên, sợi của chủng FH và PN20 trên môi trường PDA
3462(12) 12.2020
Khoa học Nông nghiệp
bám chặt vào môi trường nuôi và hệ sợi nấm dày hơn khi
sợi nấm phát triển trên môi trường SPDA và YDA (hình
5). Sợi nấm sò được nuôi trên các môi trường khác nhau
sẽ phát triển với tốc độ khác nhau do được cung cấp nguồn
dinh dưỡng khác nhau, đặc biệt nguồn carbon. Sự phát triển
của sợi nấm trên môi trường được cung cấp nguồn carbon
là glucose và sucrose sẽ tốt hơn trên các môi trường chứa
các nguồn carbon khác [13]. Kết quả thí nghiệm của chúng
tôi tương tự với kết quả thí nghiệm của Thanh M. Nguyen
và Senaratne L. Ranamukhaarachchi (2020) [14]; Hasan
Sardar và cs (2015) [2]; Ha Thi Hoa và Chun Li Wang
(2015) [8]; Hussain và cs (2004) [15]. Các tác giả này cũng
khẳng định sợi nấm sò phát triển nhanh nhất trên môi trường
PDA. Hasan Sardar và cs (2015) [2] cho rằng, môi trường
PDA chứa nguồn carbon thích hợp với sợi nấm sò hơn các
môi trường khác.
Kết luận
Tốc độ mọc sợi của hai chủng nấm sò thí nghiệm chịu
tác động của điều kiện nuôi sợi. Các yếu tố nhiệt độ, pH,
môi trường nuôi cấy đều có ảnh hưởng đến sự tăng trưởng
sợi nấm của hai chủng nấm sò FH và PN20. Nhiệt độ thuận
lợi cho sự mọc sợi của hai chủng nấm này từ 20 đến 30oC,
tốt nhất tại 25oC. Sợi nấm phát triển mạnh trên môi trường
có pH 6,5.
Môi trường PDA thích hợp với sự mọc sợi của hai chủng
nấm sò FH và PN20 hơn môi trường SPDA và YDA. Trên
môi trường PDA hệ sợi của hai chủng nấm sò thí nghiệm
dày, sợi nấm mọc đều và bám chắc vào môi trường nuôi.
Khi nuôi sợi của hai chủng nấm thí nghiệm trên môi trường
YDA và SPDA, sợi nấm mảnh, không bám chắc vào môi
trường nuôi sợi.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] M.B. Bellettini, et al. (2019), “Factors affecting mushroom
Pleurotus spp.”, Saudi Journal of Biological Sciences, 26, pp.633-
646.
[2] Hasan Sardar, et al. (2015), “Effects of different culture media,
temperature and pH levels on the growth of wild and exotic pleurotus
species Pak”, J. Phytopathol., 27, pp.139-145.
[3] Yashvant Patel, et al. (2012), “Medicinal properties of
Pleurotus species (Oyster mushroom): a review”, World Journal of
Fungal and Plant Biology, 3(1), pp.1-12.
[4] A.S. Sekan, et al. (2019), “Green potential of Pleurotus spp. in
biotechnology”, PeerJ, DOI: 10.7717/peerj.6664.
[5] M.H.Z. Abidin, et al. (2017), “Therapeutic properties of
Pleurotus species (Oyster mushrooms) for atherosclerosis: a review”,
Int. J. of Food Proper., 20, pp.1251-1261.
[6] E.A. Adebayo, J.K. Oloke (2017), “Oyster mushroom
(pleurotus species): a natural functional food”, Journal of
Microbiology, Biotechnology and Food Sciences, 7, pp.254-264.
[7] G.E. Zharare, et al. (2010), “Effects of temperature and
hydrogen peroxide on mycelial growth of eight Pleurotus strains”,
Scientia. Hortic., 125, pp.95-102.
[8] Ha Thi Hoa, Chun Li Wang (2015), “The effects of
temperature and nutritional conditions on mycelium growth of two
Oyster mushrooms (Pleurotus ostreatus and Pleurotus cystidiosus)”,
Mycobiology, 43, pp.14-23.
[9] F. Ian, et al. (2019), “Effect of temperature and growth media
on mycelium growth of Pleurotus ostreatus and Ganoderma lucidum
strains”, Cohesive J. Microbiol. Infect. Dis., 2, DOI: 10.31031/
CJMI.2019.02.000549.
[10] Bùi Đoàn Phượng Linh, Nguyễn Thị Thủy Trúc, Bùi Hoàng
Thiêm (2018), “Môi trường tối ưu cho nuôi cấy meo giống và nuôi
trồng nấm bào ngư xám (Pleurotus sajor-caju) tại TP Biên Hòa”, Tạp
chí Khoa học, Trường Đại học Đồng Nai, 9, tr.138-148.
[11] S. Neelam, et al. (2013), “Comparative studies on growth
parameters and physio-chemical analysis of Pleurotus ostreatus and
Pleurotus florida”, Asian J. Plant Sci. Res., 3, pp.163-169.
[12] Z. Valentin, et al. (2016), “Effect of nutritive media and pH on
mycelial growth of some Pleurotus eryngii strains in vitro”, Bulletin
UASVM Horticulture, 73(2), DOI: 10.15835/buasvmcn-hort:12352.
[13] C.M. Santiago (1983), “Basidiocarp production in volvariella
volvacea in laboratory cultures”, Philippines Journal of Biology, 12,
pp.70-76.
[14] Thanh M. Nguyen, Senaratne L. Ranamukhaarachchi
(2020), “Effect of different culture media, grain sources and alternate
substrates on the mycelial growth of Pleurotus eryngii and Pleurotus
ostreatus”, Pakistan Journal of Biological Sciences, 23, pp.223-230.
[15] A. Hussain, N. Hussain (2004), “Evaluation of different
media, spawn and substrates for the cultivation of Pleurotus ostreatus
in Muzaffarabad (Pakistan)”, Mycopath., 2, pp.67-69.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
anh_huong_cua_nhiet_do_ph_va_moi_truong_nuoi_cay_den_sinh_tr.pdf