Kết quả nghiên cứu này (bảng 2) cho thấy trong
tá tràng, không tràng và kết tràng, nhóm bổ sung
BW có số vi khuẩn Lactobacillus sp. và tổng số vi
khuẩn hiếu khí cao hơn của nhóm đối chứng. Số
lượng vi khuẩn E. coli và C. perfringens trong các
đoạn ruột này không khác nhau giữa hai nhóm lợn.
Trong manh tràng, lợn được bổ sung BW có tổng
số vi khuẩn hiếu khí cao hơn của nhóm lợn đối
chứng. Các chỉ số vi khuẩn này không có sự sai
khác trong chất chứa trực tràng của hai nhóm lợn.
Kết quả này cho thấy, bổ sung BW có thể không
làm thay đổi số lượng E. coli và C. perfringens,
nhưng làm tăng số lượng Lactobacillus, vi khuẩn
được coi là “có lợi” trong đường ruột.
Bohmer et al. 2006 cho rằng probiotic không
làm thay đổi số lượng vi khuẩn đường ruột của lợn
con, trong khi Baker và cs. (2013) đã xác định số
lượng của L. gasseri và L. johnsonii tăng lên sau
3 ngày bổ sung probiotic. Gerbert và cs. (2011)
cho thấy probiotic có khả năng làm giảm số lượng
E. coli trong chất chứa không tràng và hồi tràng.
Nghiên cứu của Maneewan và cs. (2011) chứng
minh probiotic chứa B. subtilis MP19 làm giảm
số lượng E.coli và Salmonella spp. trong chất
chứa ruột lợn con, đồng thời làm tăng số lượng
Lactobacillus spp. và B. subtilis MP. Shim và cs.
(2005) cũng chứng minh vi khuẩn Bacillus trong
probiotic làm tăng số lượng Bifidobacteria và
giảm chỉ số coliform. Như vậy, tác dụng của các
loại probiotic khác nhau đến số lượng vi khuẩn
đường ruột rất đa dạng.
Trong nghiên cứu này, Bacillus dạng bào tử
chịu nhiệt trong BW đã làm thay đổi số lượng
của Lactobacillus spp và tổng số vi khuẩn hiếu
khí trong hấu hết các phần của ruột non và ruột
già lợn con sau cai sữa, nhưng không làm thay
đổi số lượng vi khuẩn E.coli và C. perfringens.
Từ kết quả này có thể thấy rằng, BW có tác dụng
một phần đến hệ vi khuẩn đường ruột, từ đó tác
động đến môi trường ruột, tương tác giữa các vi
khuẩn đường ruột, tương tác vi khuẩn với niêm
mạc ruột cuối cùng làm thay đổi tỷ lệ chuyển
hóa thức ăn và sức khỏe đường ruột, góp phần cải
thiện tình trạng mắc tiêu chảy của đàn.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 35 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của probiotic chứa bacillus dạng bào tử chịu nhiệt đến sinh trưởng và số lượng một số vi khuẩn đường ruột lợn con sau cai sữa, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
64
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 1 - 2018
AÛNH HÖÔÛNG CUÛA PROBIOTIC CHÖÙA BACILLUS DAÏNG BAØO TÖÛ CHÒU NHIEÄT
ÑEÁN SINH TRÖÔÛNG VAØ SOÁ LÖÔÏNG MOÄT SOÁ VI KHUAÅN ÑÖÔØNG RUOÄT
LÔÏN CON SAU CAI SÖÕA
Nguyễn Đình Trình1, Nguyễn Thị Dung2, Vũ Đức Hạnh1,
Phạm Kim Đăng 3, Trần Minh Hải1, Nguyễn Bá Tiếp1
TÓM TẮT
Tác dụng của chế phẩm Bacillus Weaner (BW) chứa vi khuẩn Bacillus dạng bào tử chịu nhiệt
đến sinh trưởng và số lượng của một số vi khuẩn đường ruột ở lợn con sau cai sữa đã được đánh giá
trong nghiên cứu này. Kết quả nghiên cứu cho thấy BW không ảnh hưởng đến sinh trưởng, nhưng cải
thiện hệ số chuyển hóa thức ăn của lợn; giảm tỷ lệ lợn mắc bệnh tiêu chảy và tổng số ngày tiêu chảy.
BW không làm thay đổi số lượng vi khuẩn Clostridium perfringens và Escherichia coli trong mẫu
chất chứa tá tràng, không tràng, kết tràng và trực tràng; làm tăng số lượng Lactobacillus và tổng số
vi khuẩn hiếu khí trong chất chứa tá tràng, không tràng, kết tràng. Kết quả nghiên cứu này có thể là
căn cứ để bổ sung BW vào thức ăn cho lợn con sau cai sữa.
Từ khóa: Bacillus Weaner, lợn con sau cai sữa, sinh trưởng, vi khuẩn đường ruột
Effect of probiotic containing heat resistance Bacillus spores on the
growth and some intestinal bacteria number of post-weaning piglets
Nguyen Dinh Trinh, Nguyen Thi Dung, Vu Duc Hanh,
Pham Kim Dang, Tran Minh Hai, Nguyen Ba Tiep
SUMMARY
Effects of Bacillus Weaner (BW) containing Bacillus spores on growth and some intestinal
bacteria number of the post-weaning piglets were assessed in this study. The studied result
showed that BW did not affect the growth of pig, but reduced FCR, rate and duration of diarrhea.
In addition, when feeding the piglets with BW supplemented diet, BW did not make the change
of Clostridium perfringens and Escherichia coli numbers in duodenum, jejunum, cecum, colon
and rectum of the piglets, but Lactobacillus number and total aerobic bacteria were increased
in duodenum, jejunum, colon of the piglets. The result of this study can be considered as
supportive evidences for supplementing BW in feed for the post-weaning piglets.
Keywords: Bacillus Weaner, post-weaning piglets, growth, intestinal bacteria.
1. Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
2. Công ty BioSpring
3. Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cộng đồng châu Âu cấm sử dụng kháng sinh
trong thức ăn chăn nuôi là nguyên nhân cũng như
động lực cho sự phát triển và sử dụng ngày càng
nhiều chế phẩm bổ sung, trong đó có probiotic
cho gia súc, gia cầm và động vât cảnh với mục
đích kích thích thu nhận thức ăn (Nahashon và cs.,
1994), cải thiện cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột
(Fuler, 1989), tăng khả năng tiêu hóa thức ăn và
hấp thu dinh dưỡng, cải thiện tiêu hóa và nâng cao
năng suất chăn nuôi (Collins và cs., 1999); tăng
cường miễn dịch, qua đó cải thiện sức khỏe và
sức sản xuất của vật nuôi (Perdigon và cs., 1999;
Collins và cs., 1999; Blok và cs., 2002). Maxwell
và cs. (1983) cùng Hong và cs. (2002) cho rằng
bổ sung probiotic chứa Lactobacillus sp. có tác
động tốt đến khả năng tiêu hóa. Theo Tokach và
cs. (1992), probiotic có tác dụng chuẩn bị cho lợn
sẵn sàng đáp ứng tốt hơn với các thay đổi môi
65
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 1 - 2018
trường và các tác nhân gây bệnh đường ruột, đặc
biệt trong giai đoạn cai sữa với những tác nhân
gây stress.
Một số nghiên cứu khác lại cho rằng probiotic
Lactobacillus hoặc Bacillus không ảnh hưởng đến
khả năng tiêu hóa của lợn thí nghiệm (Hale và cs.,
1979, Kornegay và cs., 1996). Những kết luận
trái ngược này có thể do có sự khác nhau về đặc
tính của vi sinh vật trong chế phẩm, điều kiện bảo
quản, và cách thức sử dụng chế phẩm probiotic.
Thời điểm cai sữa, lợn con chịu tác động đồng
thời bởi nhiều yếu tố như dinh dưỡng, nhiệt độ
và nhiều yếu tố khác do dừng bú sữa mẹ, chuyển
chuồng, thay đổi chế độ ăn, ghép đàn..., dẫn đến
những thay đổi về tập tính và hoạt động của các
tuyến nội tiết (Orgeur và cs., 2002). Mặc dù được
tối ưu hóa về dinh dưỡng nhưng stress do dừng bú
và thay đổi môi trường, thay đổi tiếp xúc giữa các
cá thể khi nhập đàn làm giảm thu nhận thức ăn, rối
loạn chuyển hóa và hấp thu, tăng nguy cơ mắc tiêu
chảy. Các nghiên cứu cho thấy, dừng bú sữa mẹ
gây giai đoạn khủng hoảng cho sức khỏe đường
ruột, trong đó hai nhóm chỉ tiêu bị ảnh hưởng nhất
là biểu mô niêm mạc ruột và hệ vi khuẩn đường
ruột. Các tình toán cho rằng phải mất 2 tuần từ khi
cai sữa, mức năng lượng mới phục hồi.
Tác dụng của probiotic được đánh giá qua các
chỉ tiêu số lượng và thành phần vi khuẩn trong
đường ruột, tỷ lệ vi khuẩn lactic:coliform; thay
đổi hình thái biểu mô ruột; thay đổi miễn dịch
thông qua phản ứng với các tác nhân gây viêm
và nhiễm trùng. Các chỉ số sản xuất được dùng để
đánh giá gồm tăng khối lượng cơ thể trung bình/
ngày; hệ số chuyển hóa thức ăn và tỷ lệ chết. Tuy
nhiên, tác dụng của probiotic phụ thuộc vào các
đặc tính lý sinh của chế phẩm, các yếu tố vật nuôi
và môi trường. Probiotic chứa vi khuẩn dạng bào
tử có khả năng chịu nhiệt có thể trộn trực tiếp vào
thức ăn trong các nhà máy sản xuất thức ăn công
nghiệp. Sản phẩm Bacillus Weaner (BW) được
công ty Biospring phát triển nhằm cải thiện sinh
trưởng cho lợn con. Để cung cấp cơ sở cho sử
dụng BW, nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của
BW đến một số yếu tố sinh trưởng và một số vi
khuẩn đường ruột của lợn sau cai sữa.
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm với 300 lợn con cai sữa giống lai
(Yorkshire + Landrace + Duroc) 28 ngày tuổi được
phân làm hai nhóm: Nhóm đối chứng được nuôi
bằng khẩu phần cơ sở; nhóm thí nghiệm được nuôi
bằng khẩu phần cơ sở bổ sung thêm BW (300g
BW /tấn thức ăn, mật độ Bacillus 1x1012CFU/kg
chế phẩm).Tất cả lợn thí nghiệm được nuôi trong
điều kiện vệ sinh tốt tại trang trại Trung Đoàn 102,
huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội.
2.2. Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu
Khối lượng cơ thể (KLCT) được xác định
vào ngày tuổi 28 (bắt đầu thí nghiệm); 35; 42;
49 và 56 ngày tuổi. Tăng khối lượng trung bình/
ngày (TBNg) cho từng tuần tuổi được tính bằng
khối lượng cơ thể ở các thời điểm:7 (ngày).
Lượng thức ăn thu nhận (TĂTN) được kiểm
tra hàng ngày. Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR)
được tính dựa trên lượng thức ăn thu nhận hàng
ngày và khối lượng cơ thể tăng thêm của mỗi
giai đoạn.
Trạng thái sức khỏe của lợn, biểu hiện của
hội chứng tiêu chảy, số lợn chết được quan sát
dựa vào triệu chứng lâm sàng. Quan sát phân
lợn theo từng ô chuồng. Các ô chuồng có phân
mềm được theo dõi để phát hiện các cá thể lợn
con mắc tiêu chảy.
Vào ngày cuối của thí nghiệm, 3 lợn thuộc
mỗi nhóm được chọn ngẫu nhiên để lấy chất
chứa tá tràng, không tràng, manh tràng, kết tràng
và trực tràng để xác định mật độ (Log10 CFU/g)
của vi khuẩn E. coli, Clostridium perfringens,
Lactobacillus sp. và tổng số vi khuẩn hiếu khí.
Các tiêu chuẩn tham chiếu tương ứng cho các vi
khuẩn trên gồm ISO 13349/2001, ISO 7937/2004.
ISO/Dis 11290/1994 và ISO 4833/2003.
2.3. Phương pháp phân tích số liệu
Tất cả số liệu thí nghiệm được phân tích
bằng phần mềm thống kê SAS 9.1. Sai khác có
ý nghĩa được xác định bằng Duncan’s Multiple
Range Test.
66
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 1 - 2018
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Ảnh hưởng chế phẩm BW đến khối lượng
cơ thể lợn con sau cai sữa
Kết quả thí nghiệm cho thấy KLCT vào thời
điểm bắt đầu thí nghiệm (28 ngày tuổi), 35 ngày
và 42 ngày tuổi của hai nhóm lợn không có sự
sai khác. Vào ngày tuổi 49 và ngày kết thúc thí
nghiệm (ngảy 56), KLCT nhóm được bổ sung
BW cao hơn của nhóm đối chứng. Đến 56 ngày
tuổi, giá trị trung bình của nhóm bổ sung BW là
20,54kg, tăng 0,38kg so với nhóm đối chứng. Đây
là chênh lệch tương đối lớn đối với lợn con. Tuy
nhiên, sai khác này không có ý nghĩa thống kê
(hình 1a).
Chỉ số tăng khối lượng TBNg của giai đoạn từ 28
đến 35 ngày và từ 35 đến 42 ngày tuổi không có sự
khác nhau đáng kể giữa hai nhóm lợn. Ở tuần tuổi 42
đến 49 ngày, 49 đến 56 ngày, TBNg của nhóm được
bổ sung BW tương ứng là 578,57g và 579,29g/ngày,
cao hơn của nhóm đối chứng (505,86g và 549,29g).
Chênh lệch khối lượng tương ứng là 65,76g và 30g.
Tuy vậy, các sai khác này không có ý nghĩa thống kê
(hình 1b). Như vậy, chế phẩm BW có xu hướng làm
tăng KLCT lợn con sau cai sữa ở hai tuần cuối của
thí nghiệm.
Hình 1a. KLCT ở các tuần tuổi (Mean±SD)
nhóm đối chứng (ĐC) và nhóm bổ sung
chế phẩm (BW)
Hình 1b. Tăng KLCT trung bình/ngày
(Mean±SD) nhóm đối chứng (ĐC) và
nhóm bổ sung chế phẩm (BW)
Lượng TĂTN của lợn con của hai nhóm không
có sự khác nhau ở các thời điểm đánh giá tăng
theo tuổi (hình 2a). Tuy nhiên, hệ số chuyển hóa
thức ăn (FCR) giảm dần từ tuần thứ 2 đến tuần
cuối của thí nghiệm. Trong giai đoạn này, FCR
của nhóm được bổ sung BW thấp hơn các giá trị
tương ứng của nhóm đối chứng (hình 2b). Tính
chung cho cả giai đoạn, FCR của nhóm được bổ
sung BW thấp hơn của nhóm đối chứng 5,7%.
Đây cũng là tỷ lệ cải thiện giá trị dinh dưỡng của
khẩu phần nếu được bổ sung BW.
Nghiên cứu của Ahmed và cs. (2013) chứng
minh rằng probiotic với thành phần chính là
Lactobacillus spp. bổ sung trong khẩu phần của
lợn con có ảnh hưởng tích cực, tăng khối lượng cơ
thể và giảm hệ số chuyển hóa thức ăn. Nhiều nghiên
cứu cho rằng chính các Lactobacillus spp. trong
probiotic không có tác dụng đến sinh trưởng và hệ
số chuyển hóa thức ăn. Chính từ những kết quả trái
67
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 1 - 2018
ngược đó, quan điểm về sử dụng probiotic trong chăn
nuôi vẫn chưa được thống nhất. Tuy nhiên, khác với
đa số probiotic sử dụng vi khuẩn toàn vẹn, probiotic
chứa vi khuẩn dạng bào tử có nhiều ưu điểm như khả
năng chịu nhiệt cao (trong quá trình sản xuất thức ăn
và phối trộn khẩu phần), khả năng chịu pH thấp (đặc
biệt trong dạ dày), khả năng “tránh” tác động của các
enzyme đường tiêu hóa.
Hình 2a. Lượng TĂTN trung bình/ngày
(Mean) của hai nhóm lợn đối chứng (ĐC) và
bổ sung chế phẩm (BW)
Hình 2b. Hệ số chuyển hóa thức ăn; FCR
(Mean±SD) của nhóm đối chứng (ĐC) và
bổ sung chế phẩm (BW)
Bảng 1. Tác dụng của BW đến hội chứng tiêu chảy của lợn con sau cai sữa
Chỉ tiêu Đối chứng (n=150) Bổ sung BW (n=150)
Số tiêu chảy (con) 14 6
Tổng số ngày tiêu chảy 354 163
Tỷ lệ tiêu chảy (%) 8,6 4
Số chết (con) 10 5
Tỷ lệ chết 6,67 3,33
3.2. Ảnh hưởng chế phẩm BW đến tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy
Hội chứng tiêu chảy sau cai sữa ảnh hưởng rất
lớn đến chăn nuôi lợn. Kết quả thí nghiệm cho thấy
số con mắc tiêu chảy, tỷ lệ mắc và tổng số ngày
tiêu chảy của nhóm được bổ sung BW đều thấp hơn
nhóm đối chứng (các chỉ số đều giảm gần 50%).
Các kết quả của Perdigon và cs., 1999; Collins
và cs., 1999; Blok và cs., 2002; Ahmed và cs., 2013
chứng minh probiotic dựa trên thành phần của
Lactobacillus có tác dụng tăng cường miễn dịch,
qua đó cải thiện sức khỏe và sức sản xuất của vật
nuôi. Đặc biệt, các kết quả đã chứng minh probiotic
cải thiện môi trường ruột, làm giảm NH3 và H2S,
ảnh hưởng đến hệ vi sinh vật đường ruột. Probiotic
cũng làm tăng nồng độ Immunoglobulin G (IgG) và
Tumor Necrosis Factor alpha (TNF-α), một protein
tín hiệu (cytokine) – sản phẩm của đại thực bào,
CD4+, lympho bào hay các tế bào diệt tự nhiên.
Theo các tác giả Alexopoulos và cs. (2004);
Estienne và cs. (2005); Taras và cs. (2006), tác
động của probiotic với lợn con có thể thay đổi
và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thành phần vi
khuẩn trong probiotic, điều kiện môi trường và đặc
68
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 1 - 2018
điểm di truyền của lợn. Theo Taras và cs. (2006),
probiotic cải thiện trạng thái phân, giảm tiêu chảy.
Kết quả nghiên cứu này cho thấy BW có ảnh hưởng
tích cực đến tình trạng tiêu chảy của đàn, qua đó
giảm chi phí thú y và cải thiện hiệu quả chăn nuôi.
3.3. Tác dụng của chế phẩm BW đến số lượng
một số vi khuẩn đường ruột
Các tác giả Utiyama và cs. (2006), Budiño và
cs. (2005) cho rằng tác dụng tích cực của probiotic
với lợn con chính là sự “chuẩn bị” cho biểu mô
ruột trong quá trình tương tác với vi khuẩn gây
bệnh, làm giảm trao đổi chất của vi khuẩn và hạn
chế tác dụng gây độc của vi khuẩn với biểu mô
niêm mạc ruột.
Bảng 2. Số lượng một số vi khuẩn trong chất chứa các đoạn ruột của lợn 56 ngày tuổi
Đơn vị: (Log10 CFU/g)
Vị trí lấy mẫu/Vi khuẩn Nhóm đối chứng Nhóm bổ sung BW
Hồi tràng
E.coli
C. perfringens
Lactobacillus
Tổng số VK hiếu khí
5,16 ± 0,25
4,18 ± 0,16
4,12 ± 0,33a
4,73 ± 0,32a
5,33 ± 0,75
4,67 ± 0,59
5,31 ± 0,38b
5,90 ± 0,46b
Không tràng
E.coli
C. perfringens
Lactobacillus
Tổng số VK hiếu khí
6,35 ± 0,42
5,95 ± 0,65
5,39 ± 0,75a
4,64 ± 0,39a
5,97 ± 0,23
6,09 ± 1,30
6,85 ± 0,16b
5,85 ± 0,42b
Manh tràng
E.coli
C. perfringens
Lactobacillus
Tổng số VK hiếu khí
5,19 ± 1,88
5,88 ± 1,38
6,13 ± 0,52
4,28 ± 0,89a
6,07 ± 0,40
6,11 ± 1,75
7,41 ± 0,87
7,12 ± 1,87b
Kết tràng
E.coli
C. perfringens
Lactobacillus
Tổng số VK hiếu khí
6,40 ± 1,51
6,28 ± 1,06
6,17 ± 0,28a
5,30 ± 0,26a
6,97 ± 1,77
6,37 ± 1,42
7,73 ± 0,64b
6,89 ± 0,25b
Trực tràng
E.coli
C. perfringens
Lactobacillus
Tổng số VK hiếu khí
7,32 ± 0,41
7,67 ± 0,43
6,84 ± 0,07
6,41 ± 0,30
6,58 ± 1,39
6,75 ± 0,30
6,87 ± 0,71
6,83 ± 0,86
Các số khác nhau trong cùng một hàng chỉ sai khác có ý nghĩa (P<0,05)
Kết quả nghiên cứu này (bảng 2) cho thấy trong
tá tràng, không tràng và kết tràng, nhóm bổ sung
BW có số vi khuẩn Lactobacillus sp. và tổng số vi
khuẩn hiếu khí cao hơn của nhóm đối chứng. Số
lượng vi khuẩn E. coli và C. perfringens trong các
đoạn ruột này không khác nhau giữa hai nhóm lợn.
Trong manh tràng, lợn được bổ sung BW có tổng
số vi khuẩn hiếu khí cao hơn của nhóm lợn đối
chứng. Các chỉ số vi khuẩn này không có sự sai
khác trong chất chứa trực tràng của hai nhóm lợn.
Kết quả này cho thấy, bổ sung BW có thể không
làm thay đổi số lượng E. coli và C. perfringens,
nhưng làm tăng số lượng Lactobacillus, vi khuẩn
được coi là “có lợi” trong đường ruột.
Bohmer et al. 2006 cho rằng probiotic không
làm thay đổi số lượng vi khuẩn đường ruột của lợn
con, trong khi Baker và cs. (2013) đã xác định số
lượng của L. gasseri và L. johnsonii tăng lên sau
3 ngày bổ sung probiotic. Gerbert và cs. (2011)
cho thấy probiotic có khả năng làm giảm số lượng
69
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 1 - 2018
E. coli trong chất chứa không tràng và hồi tràng.
Nghiên cứu của Maneewan và cs. (2011) chứng
minh probiotic chứa B. subtilis MP19 làm giảm
số lượng E.coli và Salmonella spp. trong chất
chứa ruột lợn con, đồng thời làm tăng số lượng
Lactobacillus spp. và B. subtilis MP. Shim và cs.
(2005) cũng chứng minh vi khuẩn Bacillus trong
probiotic làm tăng số lượng Bifidobacteria và
giảm chỉ số coliform. Như vậy, tác dụng của các
loại probiotic khác nhau đến số lượng vi khuẩn
đường ruột rất đa dạng.
Trong nghiên cứu này, Bacillus dạng bào tử
chịu nhiệt trong BW đã làm thay đổi số lượng
của Lactobacillus spp và tổng số vi khuẩn hiếu
khí trong hấu hết các phần của ruột non và ruột
già lợn con sau cai sữa, nhưng không làm thay
đổi số lượng vi khuẩn E.coli và C. perfringens.
Từ kết quả này có thể thấy rằng, BW có tác dụng
một phần đến hệ vi khuẩn đường ruột, từ đó tác
động đến môi trường ruột, tương tác giữa các vi
khuẩn đường ruột, tương tác vi khuẩn với niêm
mạc ruột cuối cùng làm thay đổi tỷ lệ chuyển
hóa thức ăn và sức khỏe đường ruột, góp phần cải
thiện tình trạng mắc tiêu chảy của đàn.
IV. KẾT LUẬN
BW chứa Bacillus dạng bào tử chịu nhiệt bổ
sung trong khẩu phần của lợn sau cai sữa có xu
hướng kích thích sinh trưởng, cải thiện hệ số
chuyển hóa thức ăn và hấp thu dinh dưỡng của lợn
sau cai sữa.
Chế phẩm làm giảm tỷ lệ mắc hội chứng tiêu
chảy, tổng số ngày tiêu chảy, từ đó có thể làm giảm
tỷ lệ hao hụt và chi phí thú y, tăng hiệu quả chăn
nuôi.
Bào tử Bacillus chịu nhiệt có tác dụng làm tăng
số lượng vi khuẩn Lactobacillus spp. và thay đổi
số lượng vi khuẩn hiếu khí trong ruột non và ruột
già. Đây là một trong những cơ chế cải thiện tỷ lệ
chuyển hóa thức ăn, tăng cường sức khỏe đường
ruột và hạn chế tiêu chảy ở lợn được bổ sung BW.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ahmed S.T., Hoon J., Mun H.S., Yang C.J.
(2014). Evaluation of Lactobacillus and
Bacillus-based probiotics as alternatives to
antibiotics in enteric microbial challenged
weaned piglets. American Journal of
Microbiology Research 8(1):96-104
2. Alexopoulos C., Georgoµlakis I.E., Tzivara
A. et al. (2004). Field evaluation of the
efficacy of a probiotic containing Bacillus
licheniformis and Bacillus subtilis spores, on
the health status and performance of sows and
their litters. Journal of Animal Physiology and
Animal Nutrition. 88: 381-392
3. Baker AA, Davis E, Spencer JD, Moser R,
Rehberger T. The effect of a Bacillus based
direct-fed microbial supplemented to sows on
the gastrointestinal microbiota of their neonatal
piglets. Journal of animal science. 2013. Epub
2013/04/11
4. Blok, M. C., H. A. Vahl, L. de Lange, A. E. van
de Braak, G. Hemke and M. Hessing. 2002.
Nutrition and health of the gastrointestinal
tract. Wageningen Academic. The Netherlands:
45-49.
5. Bohmer BM, Kramer W, Roth-Maier DA.
Dietary probiotic supplementation and
resulting effects on performance, health status,
and microbial characteristics of primiparous
sows. Journal of animal physiology and
animal nutrition. 2006;90(7-8):309-15. Epub
2006/07/27.
6. Budino F.E.L., Thomaz M.C., Kronka R.N.
et al. (2005). Effect of probiotic and prebiotic
inclusion in weaned piglet diets on structure
and ultra-structure of small intestine. Brazilian
Archives of Biology and Technology 48(6):
921-929
7. Collins, M. D., and G. R. Gibson. 1999.
Probiotics, prebiotics, and synbiotics:
approaches for modulating the microbial
ecology of the gut. Am. J. Clin. Nutr. 69
(Suppl. 1):1052S
8. Estienne M.J., Hartsock T., Harper A.F
(2005). Effects of antibiotics and probiotics
on suckling pig and weaned pig performance.
International Journal of Applied Research In
Veterinary Medicine. 3(4): 303-308
9. Fuller, R., 1989. Probiotics in man and animals.
J. Appl. Bacteriol. 66:365-378
70
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 1 - 2018
10. Hale, O. M. and G. L. Newton. (1979).
Effects of a nonviable lactobacillus species
fermentation product on performance of pigs.
J. Anim. Sci. 48:770-775
11. Gebert S, Davis E, Rehberger T, Maxwell CV.
Lactobacillus brevis strain 1E1 administered
to piglets through milk supplementation prior
to weaning maintains intestinal integrity
after the weaning event. Beneficial microbes.
2011;2(1):35-45. Epub 2011/08/13.
12. Hong, J. W., I. H. Kim, O. S. Kwon, J. H. Kim,
B. J. Min and W. B. Lee. (2002). Effects of
dietary probiotics supplementation on growth
performance and fecal gas emission in nursing
and finishing pigs. J. Anim. Sci & Technol.
(Kor.) 44: 305-314
13. Kornegay, E. T. and C. R. Risley. (1996).
Nutrient digestibility of a corn-soybean meal
diet as influenced by Bacillus products fed to
finishing swine. J. Anim. Sci. 74:799-805
14. Maxwell, C. V., D. S. Buchanan, F. N. Owens,
S. E. Gilliland, W. G. Luce and R. Vencl.
(1983). Effect of probiotic supplementation on
performance, fecal parameters and digestibility
in growing finishing swine. Oklahoma Agric.
Exp. Sta. Anim. Sci. Res. Rep. 114:157
15. Maneewan C, Yamauchi K, Thirabunyanon
M, Siri S, Mekbungwan A, Thongwittaya
N. Development of Bacillus subtilis MP
and effective utilization on productivity and
microorganisms in feces of suckling piglets.
International Journal of Applied Research in
Veterinary Medicine. 2011;9(4):382-7.
16. Nahashon, S. N., H. S. Nakaue, S. P. Snyder,
and I. W. Mirodh. (1994). Performance
of Single Comb White Leghorn layers fed
corn-soybean meal and barley-corn soybean
meal diets supplemented with a directed-fed
microbials. Poultry Sci. 73: 1712-1723.
17. Orgeur P., Le Dividich J., Colson V. (2002).
La relation mère-jeune chez les porcins: de
la naissance au sevrage. INRA Productions
Animales, 15 (3): 185-198, 2002
18. Perdigon, G., S; E. Alvarze. M. Vintine, M.
Medine and M. Medici. (1999). Study of the
possible mechanisms involved in the mucosal
immune system activation by lactic acid
bacteria. J. Dairy Sci. 82:1108-1114
19. Shim SB, Verstegen MW, Kim IH, Kwon OS,
Verdonk JM. Effects of feeding antibiotic-free
creep feed supplemented with oligofructose,
probiotics or synbiotics to suckling piglets
increases the preweaning weight gain and
composition of intestinal microbiota. Archives
of animal nutrition. 2005;59(6):419-27. Epub
2006/01/25.
20. Taras D., Vahjen M.M., Simon O (2006).
Performance, diarrhea incidence, and
occurrence of Escherichia coli virulence genes
during long-term administration of a probiotic
Enterococcus faecium strain to sows and
piglets. Journal of Animal Science 84: 608-617
21. Taras D., Vahjen M.M., Simon O (2007).
Probiotics in pigs: modulation of their intestinal
distribution and of their impact on health and
performance. Livestock Science 108: 229-223
22. Tokach M.D., Goodband R.D., Nelssen J.L.
et al. (1992). Influence of weaning weight and
growth during the first week post-weaning
on subsequent pig performance. Swine Day:
Kansas State University 1992: 15-17
23. Utiyama C.E, Oetting L.L., Giani P.A.
et al. (2006) . eitos de antimicrobianos,
prebióticos, probióticos e extratos vegetais
sobre a microbiota intestinal, a freqüência
de diarréia e o desempenho de leitões recém-
desmamados. Revista Brasileira de Zootecnia
35(6): 2359-2367
Ngày nhận 29-3-2017
Ngày phản biện 15-7-2017
Ngày đăng 1-1-2018
Các file đính kèm theo tài liệu này:
anh_huong_cua_probiotic_chua_bacillus_dang_bao_tu_chiu_nhiet.pdf