Ảnh hưởng của tác động ánh sáng LED xanh
và đỏ trên sự tích lũy hợp chất biến dưỡng
của cụm chồi cây Hổ trượng căn in vitro
Cụm chồi khi được xử lý 1 tuần dưới LED xanh
với cường độ ánh sáng tăng gấp đôi (100 mmol
photon/m2/giây), cường độ hô hấp của cụm chồi thấp
hơn so với hai nghiệm thức còn lại (Bảng 7 ). Trong
khi đó, hàm lượng đường tổng số trong lá của cụm
chồi ở nghiệm thức này cao hơn hẳn so đối chứng
(Bảng 8), khi xét kết quả cường độ hô hấp của cả hai
kiểu nuôi cấy (Bảng 5 và Bảng 7) cho thấy dường như
ở mẫu cấy dưới LED xanh, sản phẩm của quá trình
quang hợp không ưu tiên đi vào con đường hô hấp tế
bào để cung cấp năng lượng cho quá trình phát sinh
chồi mới như dưới ánh sáng đỏ và huỳnh quang mà
rẽ nhánh sang các con đường biến dưỡng khác.
Kết quả phân tích hợp chất thứ cấp cho thấy hàm
lượng phenolic tổng số và resveratrol trong lá của
cụm chồi dưới LED xanh cao có khác biệt so với
hai nghiệm thức còn lại (Bảng 9). Hơn nữa, hàm
lượng resveratrol tăng mạnh ở nghiệm thức này khi
xử lý ngắn 1 tuần với cường độ ánh sáng tăng gấp đôi
(Bảng 10). Đường được tạo ra từ quá trình quang hợp
có thể là nguyên liệu để tạo tiền chất cho quá trình
sinh tổng hợp các chất biến dưỡng thứ cấp thông qua
con đường glyco giải trong cytosol. Theo Hasan và
Bae (2017), các hợp chất phenolic, resveratrol có vai
trò phòng vệ khi thực vật gặp những điều kiện môi
trường thay đổi như: ánh sáng cao, nhiễm bệnh, thiếu
dinh dưỡng hay tránh động vật ăn cỏ 22. Sự gia tăng
hàm lượng resveratrol dưới tác động ánh sáng xanh
cũng được ghi nhận tương tự ở Vitis labruscana Bailey và Glycine max L. 23,24. Sự gia tăng các hợp chất
thứ cấp có thể là cách đáp ứng giúp cụm chồi cây Hổ
trượng căn duy trì tăng trưởng dưới điều kiện ánh
sáng này.
10 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của thidiazuron và ánh sáng đơn sắc trên sự phát triển cụm chồi in vitro cây Hổ trượng căn (Polygonum cuspidatum Sieb et Zucc), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(2):468-477
Open Access Full Text Article Bài Nghiên cứu
1Khoa Sinh học – Công nghệ sinh học,
Trường ĐH Khoa học Tự nhiên,
ĐHQG-HCM, Việt Nam
2TT Nghiên cứu Ứng dụng Công nghệ
cao trong Nông nghiệp, Trường ĐH Khoa
học Tự nhiên, ĐHQG-HCM, Việt Nam
Liên hệ
Lê Anh Tuấn, TT Nghiên cứu Ứng dụng
Công nghệ cao trong Nông nghiệp, Trường
ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM, Việt Nam
Email: latuan@hcmus.edu.vn
Lịch sử
Ngày nhận: 26-8-2019
Ngày chấp nhận: 14-02-2020
Ngày đăng: 10-6-2020
DOI : 10.32508/stdjns.v4i2.833
Bản quyền
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố
mở được phát hành theo các điều khoản của
the Creative Commons Attribution 4.0
International license.
Ảnh hưởng của thidiazuron và ánh sáng đơn sắc trên sự phát triển
cụm chồi in vitro cây Hổ trượng căn (Polygonum cuspidatum Sieb et
Zucc)
Đoàn Phan Phương Thảo1, Lê Anh Tuấn2,*, Phan Ngô Hoang1
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
TÓM TẮT
Hổ trượng căn (Polygonum cuspidatum Sieb et Zucc) là một loại dược liệu chứa nhiều hợp chất
resveratrol thuộc nhóm phenolic có hoạt tính chống oxy hóa, kháng khuẩn, ngăn ngừa ung thư,
HIV và bảo vệ tế bào thần kinh. Trong nghiên cứu này, các khúc cắt đoạn thân mang chồi nách
được nuôi cấy in vitro trên môi trường MS bổ sung TDZ 0,1 mg/L cho số chồi phát sinh nhiều nhất,
đạt từ 8–9 chồi/cụm sau 8 tuần nuôi cấy; các chồi có nguồn gốc phát sinh từ sự phân hóa vùng
ngoại vi của mô phân sinh chồi bên. Cụm chồi tăng trưởng liên tục 8 tuần dưới các ánh sáng
LED xanh hoặc đỏ đơn sắc có chiều cao cây, trọng lượng tươi và trọng lượng khô đều cao hơn
so với đối chứng dưới ánh sáng huỳnh quang ở cùng cường độ 50 mmol photon/m2/giây. LED
xanh làm giảm số lượng chồi/cụm và cường độ hô hấp của mẫu cấy so với dưới LED đỏ và huỳnh
quang; hàm lượng đường và phenolic tổng số trong lá hoặc thân, cũng như hàm lượng resveratrol
của cụm chồi luôn cao hơn so với hai điều kiện ánh sáng còn lại, sau 8 tuần. Khi xử lý mẫu cấy 1
tuần ở cường độ ánh sáng tăng gấp đôi (100 mmol photon/m2/giây), hàm lượng phenolic tổng và
resveratrol trong cụm chồi tăng trưởng dưới LED xanh cao có khác biệt so với hai nghiệm thức còn
lại. Vai trò các chất điều hòa tăng trưởng nội sinh của cụm chồi dưới các điều kiện ánh sáng khác
nhau cũng được phân tích và thảo luận.
Từ khoá: Hổ trượng căn, LED, phenolic, thidiazuron, resveratrol
MỞĐẦU
Hổ trượng căn là một loại dược liệu chứa nhiều hợp
chất có hoạt tính sinh học như: flavonoid, phenolic,
anthraquinone và stilbene. Trong đó, resveratrol là
một hợp chất thuộc nhóm stilbene chiếm lượng lớn
trong cây và đặc biệt được chú ý nhờ tác dụng tích
cực trong điều trị ung thưmáu, ung thư tuyến tiền liệt,
chống suy giảm trí nhớ và HIV 1,2. Trong các nghiên
cứu trước, quy trình vi nhân giống cây Hổ trượng căn
thường sử dụng cùng lúc nhiều loại cytokinin riêng lẽ
hoặc phối hợp với auxin, qua nhiều lần cấy chuyền,
thời gian nuôi cấy dài, nhưng tỷ lệ nhân chồi và chất
lượng chồi chưa cao 3,4.
Ánh sáng vừa là nguồn năng lượng cho quang hợp,
vừa là tín hiệu ảnh hưởng lên sự phát sinh hình thái ở
thực vật thông qua các thể nhận ánh sáng như phy-
tochrome (nhạy với ánh sáng đỏ và đỏ xa), cryp-
tochrome và phototropin (nhạy với ánh sáng xanh).
Ánh sáng đỏ cảm ứng sự tăng trưởng, tạo sơ khởi lá,
kéo dài thân, cản ra hoa và đáp ứng với phytochrome
giúp thay đổi cấu trúc giải phẫu, trong khi ánh sáng
xanh cảmứng nhiều quá trình tăng trưởng và cử động
ở thực vật bao gồm cử động lục lạp, tính hướng sáng,
cử động khí khẩu, cản kéo dài đoạn dưới lámầm, kích
thích tổng hợp chlorophyll và carotenoid5. Nhiều
nghiên cứu cho thấy ánh sáng đơn sắc xanh hoặc đỏ
có tác động tính cực lên sự phát sinh chồi, cải thiện
chất lượng cây con và rút ngắn quy trình nhân giống
ở Chrysanthemum morifolium Ramat. cv. “Jimba”
và Coffea canephora6,7. Hơn nữa, ánh sáng có vai trò
kiểm soát các con đường biến dưỡng ở thực vật, sự
gia tăng các hợp chất thứ cấp thường được ghi nhận
khi thực vật tăng trưởng dưới các điều kiện stress ánh
sáng cao, thiếu hoặc dư thừa phổ ánh sáng sáng quang
hợp8,9. Xử lý ánh sáng đơn sắc hoặc kết hợp ánh
sáng xanh và đỏ ở tỷ lệ thích hợp trong nuôi trồng
Lactuca sativa, Brassica oleracea var. acephala hay
Solanum lycopersicum giúp gia tăng tích lũy các chất
chuyển hóa sơ cấp, cũng như hàm lượng anthocyanin,
polyphenol và flavonoid so với ánh sáng trắng10.
Trong bài báo này, sự phát sinh cụm chồi từ nuôi cấy
đoạn thân mang chồi nách cây Hổ trượng căn in vitro
dưới tác dụng của BA hay TDZ riêng lẽ được thực
hiện. Đồng thời, bước đầu tìm hiểu tác động của ánh
sáng LED xanh hoặc đỏ lên sự tăng trưởng và biến đổi
các hợp chất biến dưỡng của cụm chồi trongmục tiêu
Trích dẫn bài báo này: Thảo D P P, Tuấn L A, Hoang P N. Ảnh hưởng của thidiazuron và ánh sáng đơn
sắc trên sự phát triển cụm chồi in vitro cây Hổ trượng căn (Polygonum cuspidatum Sieb et Zucc). Sci.
Tech. Dev. J. - Nat. Sci.; 4(2):468-477.
468
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(2):468-477
cải thiện nguồn giống và chất lượng cây con để phục
vụ cho ngành dược liệu trong tương lai.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Vật liệu
Các đoạn thân 0,5 cmmang chồi nách cây Hổ trượng
căn in vitro từ vị trí thứ 2 đến thứ 4 (tính từ ngọn),
có nguồn gốc từ cây in vitro 4 tuần tuổi được cô lập
và đặt nuôi trên môi trường MS, đường 30 g/l, agar
6 g/l. Điều kiện phòng nuôi cấy: 27 2oC, ẩm độ
65 5%, đèn huỳnh quang với cường độ ánh sáng 50
mmol/m2/giây, quang kì 12/12 giờ.
Khảo sát ảnh hưởng cytokinin trên sự phát
sinh chồi từ đoạn thân mang chồi nách cây
Hổ trượng căn in vitro
Các đoạn thân mang chồi nách được cô lập và đặt
nuôi trên các môi trường: MS (đối chứng); MS bổ
sung BA 0,2 hay 0,5 mg/L; hoặc TDZ 0,025; 0,05;
0,1 hay 0,5 mg/L. Các mẫu cấy được cấy chuyền 2
tuần/lần, đặt nuôi dưới đèn huỳnh quang với cường
độ 50 mmol/m2/giây, quang kì 12/12 giờ. Hình thái
chồi, số chồi và cường độ hô hấp của mẫu được xác
định theo thời gian.
ẢnhhưởngcủanguồnsángLEDxanh, LEDđỏ
đến sự phát sinh chồi
Các đoạn thân mang chồi nách được cô lập và đặt
nuôi trên môi trường MS bổ sung TDZ 0,1 mg/L,
dưới các điều kiện đèn huỳnh quang, LED xanh (450
nm) hay đỏ (660 nm) ở cùng cường độ ánh sáng 50
mmol/m2/giây (LI-250A - LI-190R Quantum Sensor,
LI-Cor, USA), quang kì 12/12 giờ. Hình thái, số chồi,
chiều cao chồi, trọng lượng tươi (TLT), trọng lượng
khô (TLK), hoạt tính các chất điều hòa tăng trưởng
thực vật nội sinh của mẫu được xác định theo thời
gian. Sau 8 tuần, hàm lượng phenolic tổng và resver-
atrol trong lá và thân được xác định.
ẢnhhưởngcủanguồnsángLEDxanh, LEDđỏ
đến sự tích lũy hợp chất biến dưỡng của cụm
chồi
Các cụm chồi cây Hổ trượng căn in vitro 8 tuần trên
môi trường MS bổ sung TDZ 0,1 mg/L, dưới đèn
huỳnh quang với cường độ 50 mmol/m2/giây được
chuyển sang các điều kiện đèn huỳnh quang, LED
xanh hay đỏ với cường độ 100 mmol/m2/giây, quang
kì 12/12 giờ. Sau 1 tuần, cường độ hô hấp, hàm lượng
đường tổng số, phenolic tổng và resveratrol của mẫu
cấy được xác định.
Phân tích hình thái giải phẫu
Cấu trúc ngọn chồi, nguồn gốc phát sinh chồi được
phân tích sau sự giải phẫu dọc qua mô phân sinh,
nhuộm với thuốc nhuộm 2 màu đỏ aceto carmin -
xanh iode và quan sát trực tiếp dưới kính hiển vi
quang học (vật kính X10; X40).
Xác định cường độ hô hấp
Cường độ hô hấp của cụm chồi (mmol O2/g
TLT /phút) được xác định bằng điện cực oxygen dựa
trên sự giảm tỷ lệ oxygen trong buồng đo (LD2,
Leaflab 2 system, Hansatech-Anh), trong điều kiện tối
ở nhiệt độ 27 0,2oC. Kết quả là giá trị của 5 lần lặp
lại.
Ly trích vàxácđịnhhàm lượngđường tổng số
0,1 g mẫu tươi (lá hoặc thân của cụm chồi in vitro)
được cô lập và ly trích trong 10 mL ethanol tuyệt đối,
đun cách thủy trong 15 phút, ly tâm với tốc độ 6000
vòng/phút (5 phút) và thu dịch nổi. Phần bã sau khi ly
tâmđược hòa với ethanol 80%, đun cách thủy 15 phút,
ly tâm 6000 vòng/phút (5 phút) và thu dịch nổi, lặp lại
2 lần. Toàn bộ dịch trích được đun cách thủy để bay
hơi hoàn toàn ethanol, dịch cô cạn được định mức đủ
10 ml bằng nước cất. 1 mL dịch trích được thực hiện
phản ứngmàu với 1mL phenol 5%, 5mL acid sulfuric
đậm đặc, lắc đều và đomật độ quang ở bước sóng 490
nm (GENESYS-30, Thermo ScientificTM , Mỹ). Hàm
lượng đường tổng số (mg/g TLT ) được xác định dựa
trên đường chuẩn sucrose 11.
Ly trích và xác định hàm lượng phenolic tổng
0,1 g mẫu lá tươi được nghiền với 10 mL methanol
70%, giữ yên 1 giờ trong bể ổn nhiệt 70oC, ly tâm ở
6000 vòng/phút (5 phút) và thu dịch nổi. 0,5 mL dịch
trích được bổ sung 2,5 mL Folin 10% và lắc đều, sau
đó thêm 2 mL Na2CO3 2%. Hỗn hợp được ủ 15 phút
trong tối ở 50oC và đo mật độ quang ở bước sóng 765
nm. Hàm lượng phenolic tổng (mg/g TLT ) được xác
định dựa trên đường chuẩn acid gallic12.
Ly trích và xác định hàm lượng resveratrol
0,02 g mẫu lá khô được nghiền trong ethanol 95%,
giữ yên 1 giờ trong bể ổn nhiệt 70oC, ly tâm ở 6000
vòng/phút (5 phút) và thu dịch nổi; phần cặn được
chiết với ethanol 95%, lặp lại 2 lần. Tất cả dịch trích
được định mức đến 25 mL bằng ethanol 95%. 1 mL
dịch trích được bổ sung 0,2 mL FeCl3 0,5% và 0,5
mL dung dịch 2,2-bipyridyl 0,5%, tổng dịch phản ứng
được định mức lên 5 mL bằng nước cất, ủ 5 phút ở
nhiệt độ phòng. Hàm lượng resveratrol của mẫu giữa
các nghiệm thức được so sánh thông qua độ hấp thụ
OD ở bước sóng 522 nm 13.
469
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(2):468-477
Hoạt tính các chất điều hòa tăng trưởng thực
vật nội sinh
Các chất điều hòa tăng trưởng thực vật auxin (IAA),
cytokinin (zeatin), giberelin (GA3) và acid abscisic
(ABA) của các cụm chồi 4 tuần được ly trích và cô
lập bằng các dung môi thích hợp và thực hiện sắc ký
trên bản mỏng silica gel F254 (1,0554, Merck) với hệ
dung môi di chuyển choroform:methanol:acid acetic
(80:15:5 theo thể tích), ở nhiệt độ 30 2oC. Vị trí của
các hormon tăng trưởng thực vật trên bản sắc ký được
phát hiện nhờ quan sát trực tiếp dưới UV 254 nm dựa
trên vị trí IAA, zeatin, GA3 và ABA tinh khiết. Hoạt
tính tương đương của các hormon tăng trưởng thực
vật được xác định bằng sinh trắc nghiệm 14.
Xử lý số liệu
Tất cả các thí nghiệm được lặp lại với 5 mẫu/nghiệm
thức, số liệu ghi nhận từ các thí nghiệm được xử lý
bằng phầnmềmMicrosoft Office Excel 2010 và thống
kê bằng SPSS 16.0 dùng choWindows. Sự phân hạng,
chia nhóm theo công thức Duncan dựa trên những
khác biệt có ý nghĩa ở mức p 0,05 của các giá trị
được biểu hiện bằng các mẫu tự khác nhau kèm theo
sau số trung bình.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Ảnh hưởng cytokinin trên sự phát sinh chồi
từ đoạn thânmang chồi nách câyHổ trượng
căn in vitro
Sau 8 tuần nuôi cấy, trên các môi trường có bổ sung
BA hay TDZ, mẫu cấy đều có sự xuất hiện chồi mới,
các chồi xuất hiện ngay sau sự tạo khối mô sẹo ở gốc
thân của mẫu cấy từ tuần thứ 4 và số lượng chồi gia
tăng theo thời gian (Bảng 1, Hình 1 B-E). Trong khi
đó, trên môi trường MS (đối chứng) chỉ có sự tăng
trưởng của chồi nách có sẵn, không có sự gia tăng số
lượng chồi hay hình thànhmô sẹo (Hình 1A). Sự phát
sinh chồi mới từ mô hay tế bào thông qua con đường
phân chia và phân hóa để tạo cơ quan hay tái lập tăng
trưởng của các chồi bên đã được hình thành tại các
vị trí nách lá5. Trong nghiên cứu này, sự xuất hiện
chồi mới đồng thời với sự tăng trưởng của các chồi
bên để tạo cụm chồi. Thông thường, các chồi bên này
không phát triển do tác động ức chế bởi chồi ngọn
(hiện tượng ưu thế ngọn), trong vi nhân giống sự bổ
sung các chất điều hòa tăng trưởng thực vật như cy-
tokinin vào môi trường nuôi cấy đã giúp các chồi này
phá bỏ ưu thế ngọn, gỡ sự ngủ của các chồi nách, kích
thích tạo chồi và tăng trưởng chồi để hình thành cụm
chồi.
Dưới kính hiển vi, các lát cắt dọc qua ngọn chồi tăng
trưởng trên môi trường MS đối chứng, cấu trúc mô
phân sinh bên có dạng vòm với các tế bào có kích
thước nhỏ bắt màu đậm và hai phác thể lá hai bên
(Hình 2 A). Trong khi đó, dưới tác động của TDZ sau
7 ngày nuôi cấy có sự thay đổi cấu trúc vùng ngoại
vi của mô phân sinh bên (Hình 2 B) dẫn đến sự xuất
hiện một số phác thể chồi xuất hiện và phát triển tạo
cụm chồi (Hình 2 C).
Về nguyên tắc, cytokinin ảnh hưởng lên sự sinh tổng
hợp acid nucleic, protein, chlorophyll ở thực vật, kích
thích sự phân bào, gia tăng kích thước tế bào; tác
động của cytokinin lên quá trình phát sinh chồi phụ
thuộc vào loại, nồng độ của cytokinin được sử dụng.
Trong sự tạo cụm chồi cây Hổ trượng căn in vitro, số
lượng chồi luôn đạt giá trị cao trên các môi trường
có bổ sung TDZ so với việc bổ sung BA; mỗi mẫu
cấy có thể đạt từ 8–9 chồi trên môi trường bổ sung
TDZ 0,1 mg/L, các chồi to khỏe, phát triển đồng đều,
có màu xanh đậm (Hình 1 F, Bảng 1). Trong khi đó,
nghiệm thức bổ sung BA, số lượng chồi chỉ đạt từ 2-
3 chồi/mẫu cấy (Bảng 1). TDZ được xem là một hợp
chất tổng hợp có hoạt tính cytokininmạnh đã được sử
dụng trên nhiều nghiên cứu nhằm thúc đẩy quá trình
phân nhánh của chồi cây hai lá mầm; TDZ còn có tác
động giải phóng các chồi bên và kích thích hình thành
chồi ở Vitex trifolia L.15. Tác động của TDZ lên sự
phát sinh chồi có thể thông qua hiệu ứng kích thích sự
tích lũy cytokinin nội sinh, thúc đẩy quá trình chuyển
đổi nhóm cytokinin nội sinh thành các dạng có hoạt
tính sinh học cao hơn, hoặc tăng cường sự tích lũy và
chuyển vị của dòng auxin nội sinh16,17.
Tuy nhiên, hiệu quả kích thích tạo chồi của TDZ khi
được bổ sung vào môi trường nuôi cấy thường tối ưu
ở nồng độ nhất định, ở nồng độ cao TDZ sẽ gây hiệu
ứng ức chế sự phát triển của chồi. Trong thí nghiệm
này, khi tăng nồng độ TDZ lên 0,5 mg/L thì số chồi
không có khác biệt so vớimôi trường bổ sungTDZ0,1
mg/L, các chồi thấp và lá có màu xanh nhạt (Hình 1
G, Bảng 1). Có thể thấy môi trườngMS bổ sung TDZ
0,1 mg/l là tối ưu trong thí nghiệm và đây là cơ sở
để chọn làmmôi trường nền trong những thí nghiệm
tiếp theo.
Ảnh hưởng của nguồn sáng LED xanh 450
nm và đỏ 660 nm trên sự phát sinh chồi
Sau 8 tuần tăng trưởng dưới các nguồn sáng khác
nhau, cụm chồi cây Hổ trượng căn in vitro có biểu
hiện khác biệt về hình thái và số chồi. Phiến và cuống
lá của các cụm chồi dưới LEDxanh hay đỏ đều cómàu
xanh nhạt; gân lá gia tăng các sắc tố hồng (Hình 3 B
và C). Dưới nguồn sáng LED đỏ, chiều cao của cụm
chồi gia tăng so với các cụm chồi dưới LED xanh và
đối chứng huỳnh quang. Số lượng chồi/cụm không
470
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(2):468-477
Hình 1: Cụm chồi cây Hổ trượng căn trên cácmôi trường: MS (A); BA 0,2mg/L (B); BA 0,5mg/L (C); TDZ 0,025mg/L
(D);TDZ 0,05 mg/L (E); TDZ 0,1 mg/L (F) hay TDZ 0,5 mg/L (G) sau 8 tuần nuôi cấy.
Hình 2: Mô phân sinh bên cây Hổ trượng căn in vitro trước (A) (X40); sau7 ngày (B) (X40) và 14 ngày (C) (X10) trên
môi trường bổ sung TDZ 0,1 mg/L
Bảng 1: Số chồi/cụm của cây Hổ trượng căn in vitro trênmôi trường khác nhau theo thời gian.
Nghiệm thức Số chồi
Tuần 4 Tuần 6 Tuần 8
MS (ĐC) 1,00 0,00 b1 1,00 0,00 d1 1,00 0,00 d1
BA 0,2 mg/L 1,40 0,24 b1 1,60 0,24 d1 1,80 0,20 d1
BA 0,5 mg/L 1,80 0,20 b2 2,40 0,24 c12 3,20 0,37 c1
TDZ 0,025 mg/L 3,00 0,32 a2 4,20 0,20 b1 4,40 0,40 bc1
TDZ 0,05 mg/L 3,40 0,24 a2 4,40 0,24 b1 4,80 0,20 b1
TDZ 0,1 mg/L 3,60 0,24 a3 5,40 0,24 a2 7,40 0,40 a1
TDZ 0,5 mg/L 3,80 0,58 a2 5,80 0,37 a1 7,20 0,86 a1
Các số trung bình trong cùng một cột với các mẫu tự khác nhau thì có sự khác biệt ở mức ý nghĩa p 0,05.
Các số trung bình trong cùng một hàng với các chữ số khác nhau thì có sự khác biệt ở mức ý nghĩa p 0,05.
471
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(2):468-477
có sự khác biệt ở cả hai điều kiện LED đỏ và đối
chứng. Ngược lại, theo thời gian, các cụm chồi dưới
LED xanh có số lượng chồi luôn thấp hơn so với các
nghiệm thức còn lại (Bảng 2 và Bảng 3).
Trong nghiên cứu này, hoạt tính GA3 của cụm chồi
tăng trưởng dưới LED đỏ cao hơn hẳn so với đối
chứng ở cường độ 50 mmol photon/m2/giây (Bảng 4),
dẫn đến các mẫu cây tăng trưởng dưới điều kiện này
có chiều cao chồi gia tăng so với đối chứng; kết quả
này cũng tương tự công bố trong nghiên cứu trên
Morus alba L.18. Công bố củaHong và cộng sự (2012)
trên Arabidopsis thaliana cho thấy ánh sáng đỏ thông
qua thể nhận tín hiệu phytochrome đã cảm ứng sự
sinh tổng hợp giberelin và auxin ở lá, các hormone
tăng trưởng này giúp gia tăng sự sinh tổng hợp vách tế
bào, dẫn đến sự kéo dài đoạn dưới lá mầm ở loài cây
này19. Hoạt tính zeatin nội sinh không có sự khác
biệt giữa hai nghiệm thức LED đỏ và huỳnh quang
(Bảng 4), có thể vì vậy cụm chồi dưới LED đỏ vẫn duy
trì được số lượng chồi/cụm tương đương với huỳnh
quang (Bảng 2). Ngược lại, hoạt tính zeatin và GA3
giảm thấp nhất dưới các cụm chồi được nuôi liên tục
dưới LED xanh. Ánh sáng xanh với bước sóng ngắn,
mức năng lượng cao có thể là một yếu tố stress phi
sinh học đối với cây Hổ trượng căn in vitro, dẫn đến
giảm sự phát sinh chồi mới so với các nghiệm thức
còn lại (Bảng 2). Công bố của Appelgren và cộng sự
(2003) cũng ghi nhận ánh sáng xanh là tín hiệu cản sự
phân chia và tạo chồi trên Lactuca sativa L.20. Ngoài
ra, ABA được xem như là một tín hiệu giúp thúc đẩy
sự tích lũy đường từ môi trường nuôi cấy giúp chồi
phát triển mạnh. Vì vậy, sự gia tăng hoạt tính ABA
nội sinh ở cụm chồi dưới LED đỏ so với huỳnh quang
phần nào giúp mô cấy tăng hấp thu đường từ đó cung
cấp nguồn carbon cho sự phát triển của chồi (Bảng 4).
Cùng với gia tăng số lượng chồi theo thời gian, cường
độ hô hấp cũng có xu hướng thay đổi ở cụm chồi
dưới LED xanh sau 4 và 6 tuần nuôi cấy. Trong khi
đó, cường độ hô hấp của các cụm chồi dưới LED đỏ
không có khác biệt so với huỳnh quang (Bảng 5).
Trọng lượng tươi và trọng lượng khô của cụm chồi
tăng trưởng dưới các ánh sáng đơn sắc đều đạt giá trị
cao hơn so với nguồn sáng huỳnh quang (Bảng 6).
Ánh sáng xanh và đỏ có vai trò tích cực trong con
đường biến dưỡng sơ cấp giúp cho sự tăng trưởng của
mô và tế bào, có thể do ánh sáng xanh (450 nm) hay
ánh sáng đỏ (660 nm) gần với đỉnh hấp thu cực đại
của diệp lục tố do đó là nguồn năng lượng hiệu quả
cho quang hợp, giúp gia tăng sự tích lũy sinh khối ở
cây Hổ trượng căn in vitro.
Một số nghiên cứu trước cũng chỉ ra rằng ánh sáng
đỏ đóng vai trò quan trọng trong sự kéo dài thân và
chồi, đáp ứng phytochrome và thay đổi cấu trúc giải
phẫu ở Capsicum annuum L.21. Trong khi đó, ánh
sáng xanh lại có vai trò quan trọng trong quá trình
tổng hợp chlorophyll, sự mở của khí khẩu, tổng hợp
các enzyme, sự trưởng thành của lục lạp và quá trình
quang hợp 9.
Ảnhhưởng của tácđộngánh sángLEDxanh
và đỏ trên sự tích lũy hợp chất biến dưỡng
của cụm chồi cây Hổ trượng căn in vitro
Cụm chồi khi được xử lý 1 tuần dưới LED xanh
với cường độ ánh sáng tăng gấp đôi (100 mmol
photon/m2/giây), cường độ hô hấp của cụm chồi thấp
hơn so với hai nghiệm thức còn lại (Bảng 7 ). Trong
khi đó, hàm lượng đường tổng số trong lá của cụm
chồi ở nghiệm thức này cao hơn hẳn so đối chứng
(Bảng 8), khi xét kết quả cường độ hô hấp của cả hai
kiểu nuôi cấy (Bảng 5 và Bảng 7) cho thấy dường như
ở mẫu cấy dưới LED xanh, sản phẩm của quá trình
quang hợp không ưu tiên đi vào con đường hô hấp tế
bào để cung cấp năng lượng cho quá trình phát sinh
chồi mới như dưới ánh sáng đỏ và huỳnh quang mà
rẽ nhánh sang các con đường biến dưỡng khác.
Kết quả phân tích hợp chất thứ cấp cho thấy hàm
lượng phenolic tổng số và resveratrol trong lá của
cụm chồi dưới LED xanh cao có khác biệt so với
hai nghiệm thức còn lại (Bảng 9). Hơn nữa, hàm
lượng resveratrol tăng mạnh ở nghiệm thức này khi
xử lý ngắn 1 tuần với cường độ ánh sáng tăng gấp đôi
(Bảng 10). Đường được tạo ra từ quá trình quang hợp
có thể là nguyên liệu để tạo tiền chất cho quá trình
sinh tổng hợp các chất biến dưỡng thứ cấp thông qua
con đường glyco giải trong cytosol. Theo Hasan và
Bae (2017), các hợp chất phenolic, resveratrol có vai
trò phòng vệ khi thực vật gặp những điều kiện môi
trường thay đổi như: ánh sáng cao, nhiễm bệnh, thiếu
dinh dưỡng hay tránh động vật ăn cỏ22. Sự gia tăng
hàm lượng resveratrol dưới tác động ánh sáng xanh
cũng được ghi nhận tương tự ở Vitis labruscana Bai-
ley và Glycine max L.23,24. Sự gia tăng các hợp chất
thứ cấp có thể là cách đáp ứng giúp cụm chồi cây Hổ
trượng căn duy trì tăng trưởng dưới điều kiện ánh
sáng này.
KẾT LUẬN
Môi trường MS bổ sung TDZ 0,1 mg/L thích hợp cho
sự phát sinh chồi in vitro cây Hổ trượng căn, chồi mới
có nguồn gốc từ sự phân hóa vùng ngoại vi của mô
phân sinh chồi bên, số chồi đạt từ 8–9 chồi/cụm sau
8 tuần. Cụm chồi in vitro tăng trưởng liên tục 8 tuần
dưới nguồn sáng LED xanh hoặc đỏ với cường độ ánh
sáng 50 mmol photon/m2/giây, có sự gia tăng sinh
khối như chiều cao chồi, trọng lượng tươi và trọng
472
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(2):468-477
Hình 3: Cụm chồi cây Hổ trượng căn in vitro tăng trưởng sau 8 tuần dưới nguồn sáng: Huỳnh quang (A); LED xanh
(B) và LED đỏ (C).
Bảng 2: Số chồi cây Hổ trượng căn in vitro trênmôi trườngMS bổ sung TDZ 0,1mg/L dưới các nguồn sáng khác
nhau theo thời gian
Nghiệm thức Số chồi
Tuần 4 Tuần 6 Tuần 8
Huỳnh quang 3,75 0,25 a2 6,00 0,41 a2 8,00 0,71 a1
LED xanh 1,05 0,29 b2 2,50 0,29 b2 4,50 0,87 b1
LED đỏ 3,50 0,29 a2 5,75 1,03 a12 8,25 0,85 a1
Bảng 3: Chiều cao của cụm chồi cây Hổ trượng căn in vitro trênmôi trườngMS bổ sung TDZ 0,1mg/L dưới các
nguồn sáng khác nhau theo thời gian
Nghiệm thức Chiều cao (cm)
Tuần 4 Tuần 6 Tuần 8
Huỳnh quang 1,66 0,12 c2 1,96 0,14 b2 2,94 0,17 c1
LED xanh 2,32 0,23 b2 3,02 0,30 a1 3,36 0,10 b1
LED đỏ 3,35 0,22 a2 3,48 0,26 a2 4,12 0,07 a1
Các số trung bình trong cùng một cột với các mẫu tự khác nhau thì có sự khác biệt ở mức ý nghĩa p 0,05.
Các số trung bình trong cùng một hàng với các chữ số khác nhau thì có sự khác biệt ở mức ý nghĩa p 0,05.
Bảng 4: Hoạt tính chất điều hòa tăng trưởng thực vật nội sinh của cụm chồi cây Hổ trượng căn in vitro 4 tuần
tuổi dưới các nguồn sáng khác nhau
Nghiệm thức Hoạt tính (mg/L)
IAA ABA Zeatin GA3
Huỳnh quang 4,08 0,93 a 1,92 0,13 b 0,53 0,02 a 0,05 0,00 b
LED xanh 0,85 0,16 b 1,29 0,22 c 0,33 0,03 b 0,03 0,00 c
LED đỏ 1,45 0,46 b 2,50 0,12 a 0,49 0,04 a 0,09 0,00 a
Các số trung bình trong cùng một cột với các mẫu tự khác nhau thì có sự khác biệt ở mức ý nghĩa p 0,05.
473
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(2):468-477
Bảng 5: Cường độ hô hấp của cụm chồi cây Hổ trượng căn in vitro dưới các nguồn sáng khác nhau theo thời gian
Nghiệm thức Cường độ hô hấp (mmol O2/g TLT/phút)
Tuần 4 Tuần 6
Huỳnh quang 0,12 0,01 ab 0,14 0,01 a
LED xanh 0,08 0,02 b 0,04 0,02 b
LED đỏ 0,18 0,06 a 0,09 0,06 ab
Các số trung bình trong cùng một cột với các mẫu tự khác nhau thì có sự khác biệt ở mức ý nghĩa p 0,05.
Bảng 6: Trọng lượng của cụm chồi cây Hổ trượng căn in vitro tăng trưởng dưới các nguồn sáng khác nhau
Nghiệm thức Trọng lượng tươi (g) Trọng lượng khô (g)
Tuần 4 Tuần 6 Tuần 4 Tuần 6
Huỳnh quang 0,14 0,02 b 0,28 0,05 b 0,011 0,001 c 0,011 0,001 c
LED xanh 0,23 0,04 ab 0,58 0,09 ab 0,020 0,003 b 0,018 0,003 b
LED đỏ 0,32 0,03 a 0,81 0,17 a 0,030 0,002 a 0,029 0,002 a
Các số trung bình trong cùng một cột với các mẫu tự khác nhau thì có sự khác biệt ở mức ý nghĩa p 0,05.
Bảng 7: Cường độ hô hấp của cụm chồi sau 1 tuần xử lý dưới các nguồn sáng khác nhau với cường độ 100 mmol
photon/m2/giây
Nghiệm thức Cường độ hô hấp (mmol O2/g TLT/phút)
Huỳnh quang 0,14 0,01 a
LED xanh 0,07 0,02 b
LED đỏ 0,11 0,02 ab
Các số trung bình trong cùng một cột với các mẫu tự khác nhau thì có sự khác biệt ở mức ý nghĩa p 0,05.
Bảng 8: Hàm lượng đường tổng số trong lá và thân của cụm chồi sau 1 tuần xử lý dưới các nguồn sáng khác
nhau với cường độ 100 mmol photon/m2/giây
Nghiệm thức Hàm lượng đường tổng số (mg/g TLT)
Lá Thân
Huỳnh quang (50 mmol) 25,96 3,27 b 14,64 0,94 a
Huỳnh quang (100 mmol) 20,38 2,02 b 10,20 0,34 c
LED xanh (100 mmol) 37,42 2,04 a 13,06 0,33 ab
LED đỏ (100 mmol) 24,75 0,54 b 11,93 0,22 bc
Các số trung bình trong cùng một cột với các mẫu tự khác nhau thì có sự khác biệt ở mức ý nghĩa p 0,05.
Bảng 9: Hàm lượng phenolic và resveratrol trong lá của cụm chồi tăng trưởng dưới các nguồn sáng khác nhau,
cường độ 50 mmol photon/m2/giây, liên tục 8 tuần
Nghiệm thức Hàm lượng phenolic tổng (mg/g TLT) Resveratrol (Giá trị OD)
Huỳnh quang 4,27 0,64 b 0,232 0,009 b
LED xanh 8,33 1,00 a 0,286 0,003 a
LED đỏ 4,36 0,46 b 0,172 0,010 c
Các số trung bình trong cùng một cột với các mẫu tự khác nhau thì có sự khác biệt ở mức ý nghĩa p 0,05.
474
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(2):468-477
Bảng 10: Hàm lượng phenolic và resveratrol trong lá cây Hổ trượng căn in vitro sau 1 tuần xử lý dưới các nguồn
sáng khác nhau với cường độ 100 mmol photon/m2/giây
Nghiệm thức Hàm lượng phenolic
tổng
(mg/g TLT)
Resveratrol
(Giá trị OD)
Hàm lượng resveratrol *
(mg/g TLT)
Huỳnh quang 3,420 0,320 ab 0,208 0,002 b 0,14
LED xanh 4,770 0,740 a 0,221 0,003 a 0,56
LED đỏ 3,000 0,260 b 0,207 0,005 b -
Các số trung bình trong cùng một cột với các mẫu tự khác nhau thì có sự khác biệt ở mức ý nghĩa p 0,05.
*Kết quả phân tích được thực hiện tại PTN Phân tích Trung tâm, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên.
-Không ghi nhận kết quả.
lượng khô so với đối chứng huỳnh quang. Cả hai kiểu
nuôi cấy liên tục 8 tuần ở cường độ ánh sáng 50 mmol
photon/m2/giây hay xử lý 1 tuần với cường độ ánh
sáng tăng gấp đôi, cụm chồi dưới LED xanh có cường
độ hô hấp giảm, hàm lượng đường tổng số, hàm lượng
phenolic và resveratrol trong lá và thân cao hơn so với
hai nghiệm thức còn lại.
DANHMỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ABA: acid abscisic
BA: Benzyl adenin
GA3: acid gibberellin
IAA: Acid indol acetic
LED (Light Emitting Diode): Điốt phát quang
MS:Murashige và Skoog
TDZ:Thidiazuron
TLK: Trọng lượng khô
TLT: Trọng lượng tươi
XUNGĐỘT LỢI ÍCH
Các tác giả đồng ý không có bất kì xung đột lợi ích
nào liên quan đến các kết quả đã công bố.
ĐÓNGGÓP CỦA CÁC TÁC GIẢ
Đoàn Phan Phương Thảo và Lê Anh Tuấn thực hiện
các thí nghiệm, xử lý các dữ liệu và viết bản thảo.
Phan Ngô Hoang góp phần thảo luận các kết quả thí
nghiệm, hoàn chỉnh bản thảo.
LỜI CẢMƠN
Nhóm tác giả chân thành cảm ơn Lương y Nguyễn
Đức Nghĩa đã cũng cấp mẫu vật thí nghiệm. TT
Nghiên cứu Ứng dụng Công nghệ cao trong Nông
nghiệp; Bộ môn Sinh lý thực vật, khoa Sinh học –
Công nghệ sinh học thuộc Trường Đại học Khoa học
Tự nhiên, ĐHQG–HCM đã tạo điều kiện thực hiện
nghiên cứu này.
TÀI LIỆU THAMKHẢO
1. Liu GS, Zhang ZS, Yang B, He W. The antioxidant resvera-
trol from Polygonum cuspidatum reverses memory impair-
ment and brain oxidative stress in SAMP8 mice. Advanced
Materials Research. 2011;422:470–473. Available from: https:
//doi.org/10.4028/www.scientific.net/AMR.422.470.
2. Zeng X, Pan X, Xu X, Lin J, Que F, Tian Y, et al. Resveratrol
reactivates latent HIV through increasing histone acetylation
and activating heat shock factor 1. Journal of Agricultural and
Food Chemistry. 2017;65:4384–4394. PMID: 28471170. Avail-
able from: https://doi.org/10.1021/acs.jafc.7b00418.
3. Sásik R, Eliáš P. Rhizome regeneration of Fallopia japonica
(Japanese knotweed) (Houtt.) RonseDecr. I. Regeneration rate
and size of regenerated plants. Folia Oecologica. 2006;33:57–
63.
4. Yu S, Zhang D, Yang S. Application of TDZ and CPPU to tis-
sue culture of Polygonumcuspidatum. Chinese Journal of Ap-
plied and Environmental Biology. 2006;12:13–17.
5. Việt BT. Sinh lý thực vật đại cương. NXB Đại học Quốc gia
TPHCM. 2016;p. 753.
6. NamNB, LâmND, Nhựt DT. Ảnh hưởng của loại mẫu cấy và hệ
thống chiếu sáng đơn sắc lên khả năng tái sinh chồi cây hoa
Cúc (ChrysanthemummorifoliumRamat. cv. ”Jimba”) nuôi cấy
in vitro. Tạp chí Khoa học và Công nghệ. 2012;50:595–606.
7. Mai NT, Bình PT, Gấm DT, Khôi PH, Hưng NK, Ngọc PB, et al.
Bước đầu khảo sát ảnh hưởng của ánh sáng LED (Light Emit-
ing Diode) đến khả năng tái sinh cây cà phê vối (Coffea
canephora) qua phôi soma. Tạp chí Sinh học. 2017;38:228–
235. Available from: https://doi.org/10.15625/0866-7160/
v38n2.7115.
8. Darko E, Heydarizadeh P, Schoefs B, Sabzalian MR. Photosyn-
thesis under artificial light: The shift in primary and secondary
metabolism. Philosophical Transactions of the Royal Society
B: Biological Sciences. 2014;369:1–7. PMID: 24591723. Avail-
able from: https://doi.org/10.1098/rstb.2013.0243.
9. Tuấn LA, Hoang PN, Kim S, Kiệt DT. Tìm hiều ảnh hưởng của
ánh sáng đỏ đơn sắc trên sự quang hợp và tích lũy phenolic
ở lá cây lưỡi rắn (Hedyotis corymbosa (L.) Lam). Tạp chí Phát
triểnKhoahọc vàCôngnghệ - Khoahọc Tựnhiên. 2019;3:128–
135.
10. Hasan MM, Bashir T, Ghosh R, Lee SK, Bae H. An overview of
LEDs’ effects on the production of bioactive compounds and
cropquality. Molecules. 2017;22:1–12. PMID: 28846620. Avail-
able from: https://doi.org/10.3390/molecules22091420.
11. Coombs J, Hind G, Leegood RC, Tieszen LL, Vonshak A. Ana-
lytical Techniques. in Techniques in Bioproductivity and Pho-
tosynthesis. 1985;p. 219–228. Available from: https://doi.org/
10.1016/B978-0-08-031999-5.50027-3.
12. Sen S, De B, Devanna N, Chakraborty R. Total phenolic, to-
tal flavonoid content, and antioxidant capacity of the leaves
of Meyna spinosa Roxb., an Indian medicinal plant. Chinese
Journal of Natural Medicines. 2013;11:149–157. Available
from: https://doi.org/10.1016/S1875-5364(13)60042-4.
13. Rajendran V, Dhanaraju MD. Method development for quan-
tification of oxidation complexes of nadolol and resveratrol by
visible spectrophotometry. International Journal of Pharmacy
and Pharmaceutical Sciences. 2015;7:304–307.
475
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Tự nhiên, 4(2):468-477
14. Yokota T, Murofushi N, Takahashi N. Extraction, purification
and identification. in Hormonal Regulation of Development.
1980;p. 113–201. Available from: https://doi.org/10.1007/978-
3-642-67704-5_3.
15. Ahmed MR, Anis M. Role of TDZ in the quick regeneration of
multiple shoots from nodal explant of Vitex trifolia L.-An im-
portant medicinal plant. Applied Biochemistry and Biotech-
nology. 2012;168:957–966. PMID: 23065400. Available from:
https://doi.org/10.1007/s12010-012-9799-0.
16. Thomas JC, Katterman FR. Cytokinin activity induced by thidi-
azuron. Plant Physiology. 1986;81:681–683. PMID: 16664878.
Available from: https://doi.org/10.1104/pp.81.2.681.
17. Murch SJ, Saxena PK. Molecular fate of thidiazuron and its ef-
fects on auxin transport in hypocotyls tissues of Pelargonium
hortorum Bailey. Plant Growth Regulation. 2001;35:269–
275. Available from: https://doi.org/10.1023/A:1014468905953.
18. Hu J, Dai X, SunG. Morphological andphysiological responses
of Morus alba seedlings under different light qualities. Notu-
lae Botanicae Horti Agrobotanici Cluj-Napoca. 2016;44:382–
392. Available from: https://doi.org/10.15835/nbha44210486.
19. Hong GJ, Xue XY, Mao YB, Wang LJ, Chen XY. Arabidopsis
MYC2 interacts with DELLA proteins in regulating sesquiter-
pene synthase gene expression. Plant Cell. 2012;24:2635–
2648. PMID: 22669881. Available from: https://doi.org/10.
1105/tpc.112.098749.
20. Hunter DC, Burritt DJ. Light quality influences adventitious
shoot production from cotyledon explants of Lettuce (Lac-
tuca sativa L.). In Vitro Cellular & Developmental Biology -
Plant. 2004;40:215–220. Available from: https://doi.org/10.
1079/IVP2003492.
21. Schuerger AC, Brown CS, Stryjewski EC. Anatomical fea-
tures of Pepper plants (CapsicumannuumL.) grownunder red
light-emittingdiodes supplementedwithblueor far-red light.
Annals of Botany. 1997;79:273–282. PMID: 11540425. Avail-
able from: https://doi.org/10.1006/anbo.1996.0341.
22. Hasan MM, Bae H. An overview of stress-induced resvera-
trol synthesis in grapes: Perspectives for resveratrol-enriched
grape products. Molecules. 2017;22:1–18. PMID: 28216605.
Available from: https://doi.org/10.3390/molecules22020294.
23. Ahn SY, Kim SA, Choi SJ, Yun HK. Comparison of accumulation
of stilbene compounds and stilbene related gene expression
in two grape berries irradiated with different light sources.
Horticulture Environment and Biotechnology. 2015;56:36–43.
Available from: https://doi.org/10.1007/s13580-015-0045-x.
24. Azad M, KimW, Park C, Cho D. Effect of artificial LED light and
far infrared irradiation on phenolic compound, isoflavones
and antioxidant capacity in soybean (Glycine max L.) sprout.
Foods. 2018;7:174. PMID: 30360363. Available from: https:
//doi.org/10.3390/foods7100174.
476
Science & Technology Development Journal – Natural Sciences, 4(2):468-477
Open Access Full Text Article Research Article
1Faculty of Biology and Biotechnology,
University of Science, VNU-HCM
2Research Center for Hi-Tech in
Agriculture Applications, University of
Science, VNU-HCM
History
Received: 26-8-2019
Accepted: 14-02-2020
Published: 10-06-2020
DOI : 10.32508/stdjns.v4i2.833
Copyright
© VNU-HCM Press. This is an open-
access article distributed under the
terms of the Creative Commons
Attribution 4.0 International license.
Effect of thidiazuron andmonochromatic light on shoot
development in vitro culture of Polygonum cuspidatum Sieb et
Zucc
Doan Phan Phuong Thao1, Le Anh Tuan2, Phan Ngo Hoang1
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
ABSTRACT
Polygonum cuspidatum Sieb. et Zucc, a medicinal plant, contains many phenolic compounds such
as resveratrol. It has antioxidant, antibacterial, anti-cancer, HIV, and neuron protective properties.
In this study, stem segments having an auxiliary bud were cultured in vitro on MS medium supple-
mented with TDZ at 0.1 mg/L for obtaining the highest number of shoots (8–9 shoots/cluster after
eight weeks). The bud shoots were originated from the differentiation in the periphery of the lat-
eral meristem. After eight weeks, the shoots cultured under the monochromatic light showed that
the plant height, fresh and dry weight was higher than those grown under the fluorescent light at
the same intensity of 50 mmol photon/m2/sec. Blue LED reduced the number of shoots/cluster,
and respiration intensity of the inoculum compared to the red LED or fluorescent light conditions.
However, after eight weeks, the total sugar and phenolic content in leaves and stems, as well as the
resveratrol content of shoots under blue light, were always higher than under red LED or fluores-
cent light. Moreover, when samples were exposed under the one-week blue light condition at a
double intensity (100 mmol photon/m2/sec), the shoot clusters growing under blue LED also had
a remarkably high total phenolic content and significantly high resveratrol levels compared to the
two other treatments. The roles of endogenous growth regulators in shoot clusters under different
lighting conditions were also analyzed and discussed.
Key words: Light-emitting diodes, phenolics, Polygonum cuspidatum Sieb et Zucc, thidiazuron,
resveratrol
Cite this article : Thao D P P, Tuan L A, Hoang P N. Effect of thidiazuron and monochromatic light on
shoot development in vitro culture of Polygonumcuspidatum Sieb et Zucc. Sci. Tech. Dev. J. - Nat. Sci.;
4(2):468-477.
477
Các file đính kèm theo tài liệu này:
anh_huong_cua_thidiazuron_va_anh_sang_don_sac_tren_su_phat_t.pdf