Kết luận
- Tỉ lệ học sinh TC - BP chỉ riêng ở khối 10 trường THPT Hà Nội - Amsterdam
của Hà Nội lên đến 15,82%, trong đó tỉ lệ học sinh thừa cân là 11,65%, tỉ lệ học
sinh béo phì là 4,17%. Đây là tỉ lệ tương đối cao và khá phổ biến trong các trường
THPT ở thành phố Hà Nội nói riêng và các thành phố lớn nói chung.
- Nhịp tim của học sinh TC - BP cao hơn so với học sinh BT.
- Kết quả đo HATĐ và HATT ở nhóm TC - BP đều có xu hướng tăng cao
hơn nhóm BT. Từ HATĐ, HATT, có thể suy ra hiệu số HA là một chỉ tiêu đáng
quan tâm, hiệu số đó càng thấp chứng tỏ lực tâm thu càng bị suy giảm (suy tim),
dẫn tới sự tuần hoàn máu trong hệ mạch giảm, máu chảy chậm. Trong số học sinh
TC - BP có tới 3,39% bị « huyết áp kẹt » nghĩa là hiệu số HA < 25 mmHg, thể hiện
mức độ suy tim khá trầm trọng.
- Đối với hoạt động thần kinh: thông qua các số đo về thời gian phản xạ thị
giác vận động và thính giác vận động cùng với chỉ số IQ (mức độ trí tuệ) cũng như
khả năng chú ý và trí nhớ ngắn hạn đối với các thông tin thu nhận qua kênh thị
giác và thính giác của học sinh TC - BP đều thấp hơn so với học sinh BT.
- Chứng TC - BP ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lí, từ đó làm giảm sút đáng kể
hứng thú học tập khiến thái độ cũng như tình cảm của các em TC - BP đối với các
hoạt động học tập suy giảm, từ đó làm giảm tính tích cực, sự nỗ lực trong học tập,
thậm chí nhiều em TC - BP còn cảm thấy ngại và chán nản khi đến trường. Điều
này là nguyên nhân đáng kể ảnh hưởng đến kết quả học tập của các em.
- Kết quả học tập thể hiện trong học bạ của học sinh TC - BP thấp hơn so
với học sinh BT. Điều này là hệ quả của những ảnh hưởng âm tính của chứng TC
- BP đến các chỉ tiêu sinh lí, tâm lí của học sinh bị mắc chứng TC - BP.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của thừa cân, béo phì lên một số chỉ tiêu sinh học và khả năng học tập của học sinh Trung học Phổ thông ở Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE
Natural Sci., 2011, Vol. 56, No. 3, pp. 124-132
ẢNH HƯỞNG CỦA THỪA CÂN, BÉO PHÌ LÊN MỘT SỐ CHỈ TIÊU
SINH HỌC VÀ KHẢ NĂNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở HÀ NỘI
Ngô Thị Minh Ngọc
Trường Cao đẳng Sư phạm Nam Định
E-mail: minhngoc2386@gmail.com
1. Mở đầu
Năm 2000, Tổ chức Y tế Thế giới WHO đã chính thức công bố báo cáo “Thừa
cân và béo phì - bệnh dịch toàn cầu” và kêu gọi các quốc gia có chương trình hành
động cụ thể. Năm 2005, bên cạnh 800 triệu người thiếu ăn, vẫn có tới hơn một tỉ
người thừa cân, ít nhất 300 triệu người béo phì. Thừa cân, béo phì (TC - BP) ngày
càng gia tăng ở các nước phát triển cũng như đang phát triển, ở thành thị nhiều
hơn nông thôn [5].
Theo nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng Quốc gia, tỉ lệ TC - BP ở nước ta năm
1992 là 2%; năm 2002 đã lên tới 5,7%; 3 năm sau tăng gấp 3 lần, tới 16,8% bao gồm
dần cư thuộc cả 64 tỉnh và thành phố, trong đó Đông Nam Bộ có tỉ lệ TC - BP cao
nhất (29,7%) và Đông Bắc Bắc Bộ thấp nhất (9,5%) [2].
Tại Hội nghị "Dinh dưỡng và vấn đề sức khỏe cho trẻ" diễn ra ngày 25/11/2006
tại Hà Nội, Tiến sĩ Vũ Thị Bạch Nga thông báo ở nước ta cứ 100 học sinh thì có
9,3 em suy dinh dưỡng nhưng ngược lại có tới 10,7 em TC - BP.
Tuy nhiên, những nghiên cứu có hệ thống và đa diện về chứng bệnh này ở
Việt Nam chưa nhiều, đặc biệt là trên học sinh trung học phổ thông (THPT), đối
tượng chuẩn bị vào đời và là nguồn lao động sản xuất có chuyên môn cao của tương
lai, thí sinh của các trường đại học và trung học chuyên nghiệp. Trong bối cảnh đó,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu: Ảnh hưởng của thừa cân, béo phì lên một số chỉ
tiêu sinh học và khả năng học tập của học sinh trung học phổ thông ở Hà Nội.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
124
Ảnh hưởng của thừa cân, béo phì lên một số chỉ tiêu sinh học và khả năng học tập...
Chúng tôi đã dựa vào chiều cao và thể trọng được ghi trong sổ y bạ đầu năm
học của học sinh ở 3 trường THPT tại Hà Nội là Trường Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Nguyễn Tất Thành và Hà Nội - Amsterdam để chọn sơ bộ đối tượng nghiên cứu.
Sau đó chúng tôi trực tiếp đo lại chiều cao và tiến hành cân thực tế các em ở đúng
thời điểm nghiên cứu để xác định lại chính xác BMI hiện tại. Dựa vào bảng phân
loại tình trạng béo gầy dành cho người châu Á, chúng tôi nghiên cứu những em có
BMI TC - BP và các em có BMI bình thường (BT) làm đối chứng.
* Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp xác định mức độ thừa cân - béo phì:
+ Dựa vào chỉ số khối cơ thể BMI của Tổ chức Y tế thế giới:
BMI = W/H2
trong đó: W là cân nặng (kg), H là chiều cao đứng (m).
+ Bảng phân loại TC - BP của IDI & Cơ quan khu vực Thái Bình Dương của
Tổ chức Y tế Thế giới (WPRO) kết hợp với Viện Nghiên cứu béo phì quốc tế (IDI)
dành riêng cho người châu Á [7].
- Xác định nhịp tim và huyết áp: theo phương pháp Korotkov (đo 3 lần lấy
giá trị trung bình).
- Đo thời gian phản xạ thị giác - vận động và thời gian phản xạ thính giác -
vận động: bằng phần mềm máy tính theo Đỗ Công Huỳnh [1].
- Chỉ số IQ và các mức trí tuệ: được xác định bằng Test Raven với 60 khuôn
hình tiếp diễn A, B, C, D, E [4].
- Trí nhớ ngắn hạn: gồm trí nhớ thị giác và trí nhớ thính giác.
- Xác định bằng phương pháp Ochan Bourdon. Đánh giá dựa vào 3 tiêu chí:
tốc độ chú ý, độ tập trung chú ý và độ chính xác chú ý.
- Nghiên cứu việc học tập của học sinh: dựa vào học bạ, sổ điểm.
- Kết quả nghiên cứu được xử lí bằng thuật toán xác suất thống kê y-sinh học.
2.2. Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Bảng 1. Số lượng nhóm học sinh TC - BP
và nhóm học sinh BT theo mức độ TC - BP
Nhóm học sinh Mức độ BMI n
BT (n = 129) Bình thường 18,5 - 22,9 129
Thừa cân 23 - 24,9 83
TC - BP (n = 118) Béo phì độ I 25 - 29,9 23
Béo phì độ II 30 - 34,9 11
Béo phì độ III > 35 1
125
Ngô Thị Minh Ngọc
* Tỉ lệ học sinh TC - BP
Kết quả nghiên cứu thu được ở trường THPT Hà Nội - Amsterdam như sau:
tỉ lệ học sinh TC là 11,65%, tỉ lệ học sinh BP là 4,17%, tổng tỉ lệ học sinh TC - BP
là 15,82%. Tỉ lệ này phù hợp với một số kết quả nghiên cứu gần đây.
* Chỉ tiêu so sánh giữa học sinh TC - BP và học sinh BT
Bảng 2. So sánh chiều cao (cm) và cân nặng (kg)
trung bình của học sinh TC - BP và học sinh BT
Nhóm Chiều cao (cm) Cân nặng (kg)
học
sinh n Nam Nữ X (cm) SD p X (kg) SD p
TC - BP 118 74 44 165,59 5,1
> 0,05
68,9 8,71 < 0,05
BT 129 76 53 163,8 5,5 56,0 5,59
Kết quả cho thấy chiều cao trung bình của học sinh TC - BP cao hơn so với
học sinh BT. Tuy nhiên sự chênh lệch này không đáng kể và không có ý nghĩa thống
kê. Cân nặng trung bình của học sinh TC - BP cao hơn so với học sinh BT. Sự
chênh lệch này là đáng kể và có ý nghĩa thống kê. Do học sinh TC - BP có khả năng
hấp thụ thức ăn tốt hơn, mức tăng chiều cao và thể trọng cũng cao hơn.
Bảng 3. So sánh chiều cao (cm) và cân nặng trung bình (kg)
của học sinh theo các tác giả khác nhau
Tác giả
Nhóm Chiều cao (cm) Cân nặng (kg)
học sinh Nam Nữ Nam Nữ
X (cm) X (cm) X (kg) X (kg)
Ngô Thị Minh Ngọc TC - BP 168,4 158,1 70,34 62,4
(2009 - 2010) BT 167,0 157,2 58,96 52,52
Trần Trọng Thủy
(2001 - 2002)
ở thành phố 163,0 147,0 50,9 45,2
So sánh với kết quả trong đề tài cấp Bộ “Xác định các chỉ số sinh lí và tâm lí
cơ bản của học sinh phổ thông hiện nay” công bố năm 2004 của Trần Trọng Thủy
và CS (Trung tâm Nghiên cứu tâm lí học và sinh lí lứa tuổi thuộc Viện Chiến lược
và Chương trình đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo), chiều cao và cân nặng trung
bình của học sinh lớp 10 thành phố ở nghiên cứu này cao hơn so với nghiên cứu của
Trần Trọng Thủy năm 2001 - 2002. Do điều kiện kinh tế cũng như điều kiện chăm
sóc, hiểu biết về dinh dưỡng và y tế của các bậc phụ huynh hiện nay cao hơn vì vậy
số liệu chiều cao trung bình của học sinh ở cả hai giới nam và nữ của tác giả hiện
nay cao hơn so với nghiên cứu của Trần Trọng Thủy là hợp lí.
126
Ảnh hưởng của thừa cân, béo phì lên một số chỉ tiêu sinh học và khả năng học tập...
Bảng 4. So sánh BMI (kg/m2) trung bình
giữa học sinh TC - BP và học sinh BT
Nhóm học sinh n Nam: Nữ X SD p
TC - BP 118 74:44 25,58 1,87
< 0,05
BT 129 76:53 20,93 1,15
BMI của học sinh BT nằm trong diện chuẩn về BMI khuyến cáo cho học sinh
lứa tuổi nghiên cứu (theo WHO và Viện Dinh dưỡng), còn BMI của học sinh TC
- BP cao hơn đáng kể so với BMI của học sinh BT. Sự chênh lệch này có ý nghĩa
thống kê (p < 0,05).
Bảng 5. So sánh nhịp tim (nhịp/phút) trung bình
của học sinh TC - BP và học sinh BT
Nhóm học sinh n X SD p
TC - BP 118 84,5 12,75
< 0,05
BT 129 81,2 11,25
Chung 247 82,85 12
Nhịp tim trung bình của cả 2 nhóm đều nằm trong giới hạn trị số trung bình
của người Việt Nam trưởng thành, nhưng nhịp tim trung bình của nhóm học sinh
TC - BP cao hơn của nhóm học sinh BT, sự chênh lệch này có ý nghĩa thống kê (p
< 0,05).
Bảng 6. So sánh huyết áp tối đa (HATĐ) (mmHg) và huyết áp
tối thiểu (HATT) của học sinh TC - BP và học sinh BT
Nhóm n HATĐ HATThọc sinh X SD p X SD p
TC - BP 118 123,14 9,76 < 0,05 86,54 9,48 < 0,05
BT 129 116,68 10,08 76,81 8,43
Chung 247 119,91 9,92 81,675 8,955
Bảng 6 cho thấy HATĐ trung bình của học sinh TC - BP cao hơn so với học
sinh BT là 6,46 mmHg còn HATT của học sinh TC - BP cao hơn so vói học sinh BT
9,73 mmHg. Hai sự chênh lệch này đều có ý nghĩa thống kê (p <0,05). So sánh với
chuẩn qui định của Tổ chức Y tế Thế giới, kết quả HATĐ và HATT của học sinh
BT phù hợp với chuẩn qui định, trong khi HATĐ, HATT của học sinh TC - BP lại
cao hơn chuẩn trung bình và đang dần tiến tới trị số biểu hiện bệnh huyết áp cao.
127
Ngô Thị Minh Ngọc
Bảng 7. So sánh hiệu số huyết áp
giữa học sinh TC - BP và học sinh BT
Nhóm học sinh n X SD p
TC - BP 118 36,6 7,52
< 0,05
BT 129 39,87 8,75
Chung 247 38,235 8,135
Kết quả cho thấy hiệu số HA của cả 2 nhóm đều nằm trong chuẩn hiệu số
HA bình thường. Hiệu số HA nhóm học sinh TC - BP (36,6 mmHg) thấp hơn hiệu
số HA của nhóm học sinh BT (39,87 mmHg), sự chênh lệch này có ý nghĩa thống
kê (p <0,05). Điều này cho thấy sự chênh lệch giữa HATĐ và HATT của nhóm học
sinh TC - BP không lớn. Mặt khác cũng cho thấy hiệu số HA phụ thuộc vào nhịp
tim, nếu nhịp tim lớn thì hiệu số HA sẽ nhỏ. Ở nhóm TC - BP, hiệu số HA giảm
cho thấy tuần hoàn máu trong hệ mạch đã bị ảnh hưởng, lực tâm thu suy giảm, độ
đàn hồi của các động mạch cũng giảm và sức cản của thành mạch máu tăng lên.
Bảng 8. Số lượng (m) và tỉ lệ % học sinh mắc chứng HA cao
và học sinh bị HA kẹt (Hiệu số HA < 25 mmHg)
Nhóm học sinh n HA cao HA kẹt
m % m %
TC - BP 118 10 8,47 4 3,39
BT 129 5 3,87 0 0
Tổng 247 15 6,07 4 1,62
Tỉ lệ học sinh TC - BP mắc chứng HA cao là 8,47% cao gấp 2,19 lần tỉ lệ học sinh
BT (3,87%). Tỉ lệ học sinh TC - BP bị huyết áp kẹt cũng cao hơn học sinh BT.
Bảng 9. Thời gian phản xạ thị giác - vận động,
thời gian phản xạ thính giác - vận động của học sinh TC - BP
và học sinh BT (ms = %₀ giây)
Nhóm n
Thị giác - vận động Thính giác - vận động
học sinh X (ms) SD p X (ms) SD p
TC - BP 118 243,66 44,04
> 0,05
238,72 36,57
> 0,05
BT 129 241,98 39,68 241,71 39,37
Chung 247 242,89 42,11 240,09 37,9
Thời gian phản xạ thị giác - vận động của học sinh TC - BP cao hơn thời gian phản
xạ thị giác - vận động của học sinh BT tức là tốc độ phản xạ chậm hơn. Thời gian phản
xạ thính giác - vận động của học sinh TC - BP thấp hơn thời gian phản xạ thính giác -
vận động của học sinh BT, tức là tốc độ phản xạ thính giác của học sinh TC - BP nhanh
128
Ảnh hưởng của thừa cân, béo phì lên một số chỉ tiêu sinh học và khả năng học tập...
hơn học sinh BT, tuy nhiên sự chênh lệch này không đáng kể và không có ý nghĩa thống
kê (p > 0,05).
So sánh với nghiên cứu của Đỗ Công Huỳnh và cs (1997), kết quả nghiên cứu của
chúng tôi thấp hơn (tức là tốc độ phản xạ nhanh hơn). Điều này cho thấy trong thời đại
công nghệ thông tin hiện nay, học sinh đã khá quen thuộc với việc sử dụng máy tính và
mạng Internet, nhất là học sinh thành phố, do đó thao tác trên máy tính nhanh hơn kéo
theo tốc độ phản xạ thị giác, thính giác cũng nhanh hơn.
Bảng 10. So sánh sự chú ý của học sinh TC - BP và học sinh BT
Nhóm Tốc độ chú ý (R) Độ tập trung chú ý Độ chính xác chú ý
học sinh (số chữ/phút) (chữ đúng/phút)
X ± SD p X ± SD p X ± SD p
TC - BP
354,46 ±
28,2 < 0,05
38,7 ±
6,34 < 0,05
0,96 ±
0,03 < 0,05
BT
363,12 ±
26,4
43,9 ±
5,68
0,98 ±
0,04
Sự chú ý của học sinh TC - BP thấp hơn so với học sinh BT, có thể do các em bị
ảnh hưởng bởi trạng thái sức khỏe không tốt, tâm lí tự ti và tình trạng kì thị của cộng
đồng,...
Bảng 11. Trí nhớ thị giác và trí nhớ thính giác
của học sinh TC - BP và học sinh BT
Nhóm n Trí nhớ thị giác Trí nhớ thính giáchọc sinh X SD p X SD p
TC - BP 118 7,08 1,67
< 0,05
6,29 2,15
> 0,05
BT 129 7,62 1,73 6,66 1,96
Trí nhớ thị giác và trí nhớ thính giác của học sinh TC - BP đều thấp hơn trí
nhớ thị giác và thính giác của học sinh BT.
Bảng 12. IQ của học sinh TC - BP và học sinh BT
Nhóm học sinh n Nam Nữ IQ trung bình
TC - BP 118 74 44 100,03
BT 129 76 53 100,31
Chỉ số IQ trung bình của cả 2 nhóm học sinh đều ở mức IQ trung bình (90 -
110), trong đó IQ của học sinh BT cao hơn IQ học sinh TC - BP, nhưng sự khác
biệt giữa 2 nhóm không rõ rệt và không có ý nghĩa thống kê.
129
Ngô Thị Minh Ngọc
Bảng 13. Phân loại IQ của học sinh TC - BP và học sinh BT
so với phân phối chuẩn của Wechsler (%)
Nhóm Quá Kém Tầm Trung Thông Xuất Rất
học sinh kém thường bình minh sắc xuất sắc
130
BT 2,3 4,65 12,4 50,38 22,5 4,65 3,1
TC - BP 5,9 5,1 19,5 48,3 18,6 2,54 0
Chuẩn 2,2 6,7 16,1 50 16,1 6,7 2,2
Điểm số IQ của học sinh ở 2 nhóm chúng tôi nghiên cứu được phân phối tương
đối gần với phân phối chuẩn. Tuy nhiên cũng có hai điểm khác biệt:
+ Tỉ lệ học sinh có mức IQ thấp ở nhóm học sinh TC - BP cao hơn học sinh
BT, còn tỉ lệ học sinh có mức IQ cao ở nhóm học sinh TC - BP lại thấp hơn học
sinh BT.
+ Tỉ lệ học sinh có IQ trung bình ở cả 2 nhóm đều bằng nhau.
Bảng 14. So sánh kết quả học tập trung bình
của học sinh TC - BP và học sinh BT
Nhóm
học sinh n Giỏi Khá Trung bình
n % n % n %
TC - BP 118 36 30,5 53 44,9 29 24,57
BT 129 48 37,2 57 44,2 24 18,6
Kết quả học tập trung bình ở cả 2 nhóm đều không có loại xuất sắc, yếu, kém,
chỉ có 3 loại học lực: giỏi, khá, trung bình. Trong đó tỉ lệ học sinh BT đạt học lực
giỏi cao hơn học sinh TC - BP, còn tỉ lệ học sinh TC - BP có học lực trung bình
lại cao hơn tỉ lệ học sinh BT. Nhìn chung kết quả học tập của học sinh BT cao hơn
học sinh TC - BP. Đặc biệt chú ý là học sinh BT có kết quả cao hơn trong môn thể
dục, còn học sinh TC - BP thì khả năng tập luyện cũng như thực hiện các động tác
thể dục khó khăn, chậm chạp hơn vì vậy kết quả học tập thấp hơn.
So sánh hứng thú học tập giữa hai nhóm:
Kết quả nghiên cứu không bộc lộ một sự chênh lệch rõ rệt về IQ trung bình
giữa 2 nhóm học sinh TC - BP và BT, chỉ khác đôi chút về sự phân bố IQ. Tuy
nhiên kết quả học tập lại cho thấy có sự khác biệt tương đối rõ rệt giữa 2 nhóm. Để
làm sáng tỏ nguyên nhân của sự khác biệt về kết quả học tập, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu thêm chỉ tiêu hứng thú học tập của học sinh TC - BP và học sinh BT
130
Ảnh hưởng của thừa cân, béo phì lên một số chỉ tiêu sinh học và khả năng học tập...
thu được kết quả là hứng thú học tập của các em TC - BP có phần giảm sút hơn
so với các học sinh BT do TC - BP ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cũng như tâm
lí của các em TC - BP.
3. Kết luận
- Tỉ lệ học sinh TC - BP chỉ riêng ở khối 10 trường THPT Hà Nội - Amsterdam
của Hà Nội lên đến 15,82%, trong đó tỉ lệ học sinh thừa cân là 11,65%, tỉ lệ học
sinh béo phì là 4,17%. Đây là tỉ lệ tương đối cao và khá phổ biến trong các trường
THPT ở thành phố Hà Nội nói riêng và các thành phố lớn nói chung.
- Nhịp tim của học sinh TC - BP cao hơn so với học sinh BT.
- Kết quả đo HATĐ và HATT ở nhóm TC - BP đều có xu hướng tăng cao
hơn nhóm BT. Từ HATĐ, HATT, có thể suy ra hiệu số HA là một chỉ tiêu đáng
quan tâm, hiệu số đó càng thấp chứng tỏ lực tâm thu càng bị suy giảm (suy tim),
dẫn tới sự tuần hoàn máu trong hệ mạch giảm, máu chảy chậm. Trong số học sinh
TC - BP có tới 3,39% bị « huyết áp kẹt » nghĩa là hiệu số HA < 25 mmHg, thể hiện
mức độ suy tim khá trầm trọng.
- Đối với hoạt động thần kinh: thông qua các số đo về thời gian phản xạ thị
giác vận động và thính giác vận động cùng với chỉ số IQ (mức độ trí tuệ) cũng như
khả năng chú ý và trí nhớ ngắn hạn đối với các thông tin thu nhận qua kênh thị
giác và thính giác của học sinh TC - BP đều thấp hơn so với học sinh BT.
- Chứng TC - BP ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lí, từ đó làm giảm sút đáng kể
hứng thú học tập khiến thái độ cũng như tình cảm của các em TC - BP đối với các
hoạt động học tập suy giảm, từ đó làm giảm tính tích cực, sự nỗ lực trong học tập,
thậm chí nhiều em TC - BP còn cảm thấy ngại và chán nản khi đến trường. Điều
này là nguyên nhân đáng kể ảnh hưởng đến kết quả học tập của các em.
- Kết quả học tập thể hiện trong học bạ của học sinh TC - BP thấp hơn so
với học sinh BT. Điều này là hệ quả của những ảnh hưởng âm tính của chứng TC
- BP đến các chỉ tiêu sinh lí, tâm lí của học sinh bị mắc chứng TC - BP.
Từ khóa: Thừa cân, béo phì, huyết áp, chỉ số IQ, phản xạ thị giác vận động,
phản xạ thính giác vận động.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đỗ Công Huỳnh, Vũ Văn Lạp, Ngô Tiến Dũng, Trần Thị Hải Anh, 1997. Nghiên
cứu chỉ số IQ và thời gian cảm giác - vận động ở thanh thiếu niên tuổi 6 - 18,
131
Ngô Thị Minh Ngọc
Hà Đông, Hà Tây. Tạp chí nghiên cứu giáo dục, số 2, Hà Nội.
[2] Hà Huy Khôi, Nguyễn Công Khẩn, 2002. Thừa cân và béo phì, một vấn đề sức
khỏe cộng đồng mới ở nước ta. Y học thực hành, số 418, tr. 5.
[3] Lê Quang Long, Huỳnh Thái Đức, 1975. Nghiên cứu trí nhớ và trực giác của học
sinh, sinh viên ở một số trường phổ thông, cao đẳng và đại học tại Hà Nội, Hà
Nam Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, Hội nghị Khoa học trường Đại Học Sư Phạm
Hà Nội 1974, 1976, 1978. Tạp chí Nghiên cứu khoa học Giáo dục tháng 2/1975.
[4] Trần Trọng Thủy, 2002. Tìm hiểu sự phát triển trí tuệ của học sinh bằng test
Raven. Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 6, Hà Nội.
[5] Benjamin Caballero, 2004. The Global Epidemic of Obesity. The Johns Hopkins
University, Baltimore, MD.
[6] Dietz W. H., Robinson T. N, 2005. Overweight Children and Adolescents. New
England Journal of Medicine.
[7] Ismail M. N., 2003. Obesity - an emerging public health problem in Asia, IX Asian
Congress of Nutrition, New Delhi, India.
ABSTRACT
Influence of obesity on some biological indexes
and the learning aptitude of High School students in Hanoi
Investigations on 247 students from Hanoi High Schools including 150 boys
and 97 girls have shown that the percentage of affected students (AS) reaches 15.82%
(overweight students: 11.65%, obese students: 4.17%); arterial hypertension: 8.47%
for AS and 3.47% for normal persons (NS); visual - kinesthetic reflexes, as well as
auditory - kinesthetic types of NS are more rapid than of AS; the IQ of both groups
is identical; the physical and physiological indexes of AS have a bad influence on
the psychological and behavioral learning activities of AS and significantly lowers
the ability as well as the results of their studies.
132
Các file đính kèm theo tài liệu này:
anh_huong_cua_thua_can_beo_phi_len_mot_so_chi_tieu_sinh_hoc.pdf