Kết quả bảng 2 cho thấy, đất ở 3 tỉnh Tây Bắc có tính chất
vật lý khác nhau. Về độ ẩm tại 3 tỉnh dao động trong khoảng
3,60-4,02%, cao nhất tại Hòa Bình, thấp nhất tại Điện Biên.
Dung trọng của đất tại 3 tỉnh nghiên cứu cũng có sự khác
nhau nhưng không nhiều, dao động từ 1,14 đến 1,22 g/cm3,
ở Hòa Bình đất bị nén ít nhất, sau đó đến Sơn La và Điện
Biên. Từ kết quả phân tích dung trọng cho thấy, đất tại khu
vực nghiên cứu thuộc nhóm đất bị nén ít (theo đánh giá
dung trọng đất của Katrinski).
Tỷ trọng đất dao động trong khoảng 2,72-2,75 tại 3 tỉnh,
như vậy chúng không có sự khác biệt nhiều và đều thuộc
loại đất nghèo mùn. Về độ xốp đất, kết quả tính toán cho
thấy tại các tỉnh nghiên cứu nơi có Tai chua phân bố, đất có
độ xốp dao động từ 56,8 đến 63,0%. Theo đánh giá của S.V.
Astapốp thì độ xốp của đất tại khu vực nghiên cứu ở cấp độ
II, đất pha xốp (đất xốp).
Điều này chứng tỏ Tai chua ưa phân bố ở những nơi đất
có độ xốp tương đối cao. Đây cũng là cơ sở khoa học quan
trọng để lựa chọn vùng đất phù hợp cho việc gây trồng Tai
chua quy mô lớn. Sinh trưởng của Tai chua, qua điều tra
bước đầu chúng tôi nhận thấy bị tác động bởi tính chất vật
lý của đất nhưng ngoài ra còn chịu chi phối bởi nhiều yếu tố
khác như mật độ cây, tổ thành loài. Cây Tai chua ở Hòa Bình
sinh trưởng tốt, không sâu bệnh, mùa quả sớm hơn ở 2 tỉnh
Sơn La và Điện Biên. Qua số liệu điều tra thực địa tại 3 tỉnh
và kết quả phân tích một số tính chất vật lý đất tại khu vực
nghiên cứu bước đầu cho thấy, đất ở tỉnh Hòa Bình thích
hợp hơn cả cho cây Tai chua sinh trưởng, kế đến là Sơn La
và Điên Biên. Tuy nhiên, đây mới chỉ là những nhận xét ban
đầu, cần có những nghiên cứu sâu hơn về điều kiện sinh
trưởng tối ưu cho loài cây Tai chua tại khu vực nghiên cứu.
Kết luận
Nhìn chung tính chất đất có ảnh hưởng khá rõ rệt tới sinh
trưởng của loài cây Tai chua tại vùng Tây Bắc Việt Nam,
cụ thể: về tính chất hóa học đất, cây Tai chua là loài cây khá phù
hợp ở những nơi đất có pH thấp (ở mức chua mạnh), sinh trưởng
tốt hơn ở những nơi đất giàu dinh dưỡng, CEC trong đất ở mức
trung bình; độ ẩm và độ dày tầng đất cũng ảnh hưởng tới sinh
trưởng của loài cây Tai chua. Loài Tai chua sinh trưởng tốt
hơn ở những nơi có độ ẩm cao nhưng thoát nước, độ dày
tầng đất sâu; sinh trưởng của Tai chua bị tác động bởi dung
trọng, tỷ trọng và độ xốp, thích hợp với những nơi đất có
dung trọng và tỷ trọng cao, đất xốp, ít bị nén. Đất tại tỉnh
Hòa Bình thích hợp hơn cả cho cây Tai chua sinh trưởng tốt
so với Sơn La và Điện Biên.
4 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của tính chất đất đến sinh trưởng loài cây Tai chua (Garcinia cowa Roxb) tại vùng Tây Bắc Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
5062(7) 7.2020
Khoa học Nông nghiệp
Đặt vấn đề
Tai chua là cây gỗ trung bình, cao 16-20 m, đường kính
đạt 40-60 cm, thân thẳng, gỗ có màu trắng, cứng, thớ thô,
được dùng trong xây dựng, đóng đồ đạc trong gia đình [1].
Cây Tai chua là loài cây bản địa đa tác dụng, vừa cho sản
phẩm gỗ, vừa cho quả có giá trị thực phẩm cao, có tác dụng
giải độc, tăng cường khả năng miễn dịch và năng lượng cho
cơ thể. [2, 3]. Hiện nay, cây Tai chua ngày càng được người
dân nước ta ưa chuộng, quả Tai chua là loại thức ăn rất quen
thuộc của người dân miền Bắc. Ở nước ta, quả Tai chua là
nguồn cung cấp acid citric tự nhiên quan trọng, thịt quả khá
chua với vị chua thanh mát, thường được phơi khô dùng để
nấu canh, đặc biệt để nấu canh riêu cua, kho cá hoặc ngâm
với đường làm nước giải khát vào những ngày hè. Sản phẩm
quả Tai chua tiêu thụ ngày càng thuận lợi và có giá cao, nhiều
địa phương cũng đã lựa chọn Tai chua là một trong những
loài cây được sử dụng để trồng rừng sản xuất, rừng phòng hộ.
Tuy nhiên ở Việt Nam, những nghiên cứu về cây Tai chua
còn ít và chưa đầy đủ, mới chủ yếu tập trung vào phân bố,
phân loại và mô tả hình thái. Gần đây cũng đã có một số tài
liệu về sinh thái loài Tai chua nhưng còn khá sơ sài, chưa đáp
ứng được nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn sản xuất hiện nay, đặc
biệt là vùng Tây Bắc. Do vậy, việc nghiên cứu bổ sung những
đặc điểm sinh học, sinh thái học... làm cơ sở khoa học cho
việc phát triển loài cây này là rất cần thiết.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên, việc nghiên cứu một
số yếu tố môi trường sống ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát
triển của loài Tai chua đặt ra là rất cần thiết. Trong khuôn khổ
bài báo này, chúng tôi đề cập tới ảnh hưởng của tính chất đất
đến sinh trưởng của loài cây Tai chua tại vùng Tây Bắc Việt
Nam. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung các dữ liệu khoa
học cho việc gây trồng, phát triển cây Tai chua tại vùng Tây
Bắc, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập, cải
thiện đời sống người dân làm nghề rừng tại đây.
Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đất nơi có loài cây Tai chua sinh sống tại 3 tỉnh Hòa
Bình, Sơn La và Điện Biên. Nghiên cứu được thực hiện
trong năm 2018.
Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tính chất hóa học đất
tới sinh trưởng của cây Tai chua.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của độ dày tầng đất tới sinh
trưởng của cây Tai chua.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tích chất vật lý của
đất tới sinh trưởng của Tai chua.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp kế thừa: kế thừa, tham khảo có chọn lọc
các tài liệu và kết quả nghiên cứu trước đây.
Ảnh hưởng của tính chất đất đến sinh trưởng loài cây Tai chua
(Garcinia cowa Roxb.) tại vùng Tây Bắc Việt Nam
Nguyễn Văn Thanh*, Nguyễn Thị Thu Trang
Viện Công nghệ sinh học Lâm nghiệp
Ngày nhận bài 15/8/2019; ngày chuyển phản biện 19/8/2019; ngày nhận phản biện 18/9/2019; ngày chấp nhận đăng 27/9/2019
Tóm tắt:
Tai chua (Garcinia cowa Roxb.) là loài cây gỗ trung bình, có nhiều công dụng, phân bố và phát triển tốt trên đất
phản ứng chua, khả năng trao đổi cation (CEC) trung bình. Tính chất của đất có tác động trực tiếp đến sự sinh
trưởng của loài cây này; khu vực có tầng đất dày, hàm lượng dinh dưỡng cao, độ ẩm và độ xốp cao thích hợp cho loài
Tai chua sinh trưởng tốt. Kết quả nghiên cứu tại 3 tỉnh (Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên) ở khu vực Tây Bắc cho thấy,
đất nơi có cây Tai chua sống có hàm lượng đạm dễ tiêu dao động từ nghèo đến trung bình (3,8-6,51 mg/100 g); lân
tổng số dao động từ mức khá đến giàu (0,12-0,21%); kali dễ tiêu và CEC trong đất ở mức trung bình, đạt 13,03-14,0
mg/100 g và 12,17-17,91 meq/100 g. Độ ẩm đất dao động 3,60-4,20%, tỷ trọng 2,72-2,75, dung trọng 1,14-1,22 và độ
xốp 56,6-63,0% (khá xốp). Trong 3 tỉnh nghiên cứu, đất tại Hòa Bình có tầng dày hơn, hàm lượng đạm dễ tiêu và
lân dễ tiêu cao hơn ở Sơn La và Điện Biên; cây Tai chua ở Hòa Bình sinh trưởng tốt nhất, kém nhất là tại Điện Biên.
Từ khóa: cây Tai chua, sinh trưởng, Tây Bắc Việt Nam, tính chất đất.
Chỉ số phân loại: 4.1
*Tác giả liên hệ: Email: nguyenvanthanhcr@gmail.com
5162(7) 7.2020
Khoa học Nông nghiệp
Phương pháp điều tra thực địa và lấy mẫu:
- Thu thập số liệu cây Tai chua: bằng phương pháp thiết
lập 7 ô tiêu chuẩn đại diện điển hình cho mỗi dạng lập địa
của mỗi tỉnh, tổng số ô tiêu chuẩn là 21. Các ô được lập có
diện tích là 1.000 m2/ô (40x25 m) bằng máy GPS, để đánh
giá sinh trưởng của cây Tai chua, các chỉ tiêu sinh trưởng
của loài Tai chua bao gồm: đường kính ngang ngực (D
1.3
),
chiều cao vút ngọn (Hvn), đường kính tán (Dt) được thu
thập theo các phương pháp điều tra lâm học.
- Lấy mẫu đất: tại mỗi ô tiêu chuẩn ở mỗi tỉnh nghiên
cứu lấy mẫu đất để phân tích bằng cách đào 1 phẫu diện
phụ, mẫu đất được lấy theo 3 tầng: 0-25, 25-50 và 50-75 cm,
tổng số mẫu lấy để phân tích là 63 mẫu.
Phương pháp nội nghiệp: mẫu đất lấy về được tiến hành
phân tích một số chỉ tiêu vật lý, hóa học trong phòng thí
nghiệm của Viện Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng,
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, cụ thể như sau:
+ Dung trọng được xác định bằng ống dung trọng có thể
tích 100 cm3.
+ Độ xốp (X) được xác định thông qua tỷ trọng và dung
trọng [4].
X = (1 - D/d)*100
Trong đó: D là dung trọng; d là tỷ trọng của đất.
+ CEC: theo TCVN 8568:2010.
+ Lân tổng số được xác định theo phương pháp thử
TCVN 8940:2011.
+ Đạm dễ tiêu (mg/100 g đất): theo TCVN 5255:2009.
+ Kali dễ tiêu (mg/100 g đất): theo TCVN 8662:2011.
+ pH
KCl
: theo TCVN 5797:2007.
+ Độ ẩm: theo TCVN 4048:2011.
+ Tỷ trọng: theo TCVN 6863:2001.
+ Toàn bộ số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê
toán học trong lâm nghiệp trên phần mềm ứng dụng Excel
2013 và SPSS 20.0.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Ảnh hưởng của một số tính chất hóa học đất tới sự
sinh trưởng của cây Tai chua
Tai chua là loài cây ưa sáng, sinh trưởng nhanh, thường
mọc ở ven rừng rậm ẩm nhiệt đới, hoặc trong rừng thưa, ưa
đất sâu, thoát nước [5, 6]. Tính chất hóa học của đất có ảnh
hưởng rất lớn tới sự sinh trưởng của các loài thực vật nói
chung và Tai chua nói riêng. Kết quả phân tích tính chất hóa
học của đất và sinh trưởng của cây Tai chua phân bố tự nhiên
trong khu vực nghiên cứu được tổng hợp ở bảng 1.
Bảng 1. Ảnh hưởng của một số tính chất hóa học đất tới sinh
trưởng của cây Tai chua tại khu vực nghiên cứu.
Địa điểm
Độ sâu
(cm)
Chỉ tiêu hóa học đất
Sinh trưởng
của Tai chua
pH
KCl
Ndt
mg/100 g
P2O5ts
%
K2Odt
mg/100 g
CEC
meq/100 g
D
1.3
(cm)
Hvn
(m)
Dt
(m)
Điện
Biên
0-25 3,56 4,35 0,18 13,08 12,43
45,2 17,4 3,5
25-50 3,63 3,63 0,07 12,96 11,86
50-75 3,43 3,44 0,11 13,04 12,21
Trung bình 3,54 3,80 0,12 13,03 12,17
Sơn La
0-25 3,87 5,79 0,18 13,70 15,18
48,1 18,1 3,8
25-50 3,80 4,83 0,12 13,69 12,82
50-75 4,06 4,80 0,13 13,38 11,81
Trung bình 3,91 5,14 0,14 13,59 13,27
Hòa Bình
0-25 3,78 7,41 0,25 13,76 18,29
52,1 21,2 5,2
25-50 4,19 6,51 0,22 14,50 17,27
50-75 4,27 5,63 0,18 13,75 18,17
Trung bình 4,08 6,51 0,21 14,00 17,91
Ghi chú: số liệu phân tích tại Viện Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng;
Ndt: đạm dễ tiêu; P2O5ts: lân tổng số; K2Odt: kali dễ tiêu.
Effects of soil properties on the
growth of Garcinia cowa Roxb.
in the Northwest of Vietnam
Van Thanh Nguyen*, Thi Thu Trang Nguyen
College of Forestry Biotechnology
Received 15 August 2019; accepted 27 September 2019
Abstract:
Garcinia cowa Roxb. is the average tree species, with
many uses, and it distributes and develops well on the
acidic reaction soil. The soil properties have a direct
impact on the growth of this species. Research in the
area of Northwest showed soils where Garcinia cowa
Roxb. lives have the available Nitrogen content ranging
from poor to fair level (3.8-6.51 mg/100 g), the total
phosphorus ranging from fair to rich (0.12-0.21%), the
available kali and CEC at medium level, reaching 13.03-
14.0 mg/100 g and 12.17-17.91 meq/100 g, respectively.
Soil moisture ranged from 3.60 to 4.20%; proportion
ranged from 2.72 to 2.75; density ranged from 1.14 to
1.22; and porosity ranged from 56.60 to 63.00% in fairly
porous level. In the three provinces of the studied region,
Garcinia cowa Roxb. in Hoa Binh province grew the best
because Hoa Binh has the thicker layer of land, and the
available N, available K2O and total P2O5 contents that
were higher than in Son La and Dien Bien provinces.
Keywords: Garcinia cowa Roxb., growth, Northwest of
Vietnam, soil properties.
Classification number: 4.1
5262(7) 7.2020
Khoa học Nông nghiệp
Từ số liệu bảng 1 cho thấy, đất ở các địa điểm có cây Tai
chua phân bố là loại đất có phản ứng chua mạnh (trung bình
pH
KCl
đạt 3,54-4,08), tuy nhiên giá trị này ít có sự khác biệt;
đạm dễ tiêu ở mức nghèo đến khá (đạt từ 3,80 mg/100 g, cụ
thể nghèo tại Điện Biên, trung bình ở Sơn La và khá ở Hòa
Bình). Hàm lượng lân tổng số dao động ở mức từ khá đến
giàu (0,12-0,21%), cao nhất ở Hòa Bình. Hàm lượng kali dễ
tiêu ở mức trung bình, dao động từ 13,03 đến 14,0 mg/100
g (cao nhất ở Hòa Bình, thấp nhất ở Điện Biên, nhưng sự
biến động là không đáng kể). CEC ở mức trung bình, đạt
12,17-17,91 meq/100 g. Khi điều tra số liệu sinh trưởng cho
thấy, loài cây Tai chua đạt sinh trưởng tốt nhất về đường
kính, chiều cao ở Hòa Bình và thấp nhất ở Điện Biên. Điều
này chứng tỏ, cây Tai chua phát triển tốt hơn ở những nơi có
hàm lượng các chất dinh dưỡng cao hơn và là loài cây khá
phù hợp với đất có pH thấp.
Ảnh hưởng của độ dày tầng đất tới khả năng sinh
trưởng của Tai chua
Tai chua là loài cây sinh trưởng trung bình, sinh trưởng
phát triển tốt trên đất feralit đỏ vàng phát triển trên đá mẹ
phiến thạch sét, phiến thạch mica, riolit; đất có tầng dày,
ẩm, thoát nước [2, 5]. Ở độ sâu 0-25 cm cây có rất nhiều rễ
con lan rộng, ở độ sâu 25-75 cm gần như chỉ có các rễ to và
rễ cọc đâm sâu để bám vào lòng đất. Độ dày tầng đất ở các
độ sâu: 0-25 cm gồm tầng O và A; 25-50 cm là một phần
tầng A và E; 50-75 cm chủ yếu là tầng B có lẫn tầng E (ảnh
hưởng nhiều đến các chỉ tiêu như nitơ dễ tiêu, kali dễ tiêu,
lân tổng số). Kết quả cho thấy, khả năng CEC ở các tầng đất
cùng các chỉ số nitơ dễ tiêu, lân tổng số, kali dễ tiêu phần
lớn cao nhất tại tỉnh Hòa Bình, sau đó đến Sơn La, Điện
Biên (bảng 1).
Độ dày tầng đất khác nhau cho thấy, các yếu tố lý hóa
tính khác nhau có ảnh hưởng trực tiếp đến hệ rễ của cây Tai
chua, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng của loài
cây này. Kết quả điều tra thực nghiệm tại hiện trường cho
thấy, tại Hòa Bình đất có độ dày tầng đất sâu hơn ở Sơn La
và thấp nhất ở Điện Biên, đây là điều kiện thuận lợi cho
thực vật nói chung và cây Tai chua nói riêng phát triển hệ
rễ đâm sâu... dẫn đến sự đa dạng của các loài sinh vật sinh
sống trong hệ sinh thái tại đây. Ngoài ra, theo tổng hợp số
liệu điều tra về đường kính ngang ngực (D
1.3
), chiều cao
vút ngọn (Hvn) được thu thập cho thấy, cây Tai chua ở Hòa
Bình sinh trưởng tốt hơn cả, các yếu tố dinh dưỡng đất ở các
độ sâu tầng đất khu vực Tai chua phân bố ở Hòa Bình có chỉ
số nitơ dễ tiêu, lân tổng số và kali dễ tiêu cao nhất, thấp nhất
là tỉnh Điện Biên. Do vậy ta có thể khẳng định độ phì của
đất ở Hòa Bình là cao nhất, sau đó đến Sơn La và Điện Biên.
Sự khác nhau này được thể hiện rõ hơn trong hình 1 và 2.
Đường kính ngang ngực của loài Tai chua tại
khu vực nghiên cứu
40,00
42,00
44,00
46,00
48,00
50,00
52,00
54,00
Điện Biên Sơn La Hòa Bình
tỉnh
cm
Hình 1. So sánh D1.3 của loài Tai chua tại khu vực nghiên cứu.
Chiều cao vút ngọn của loài Tai chua tại
khu vực nghiên cứu
40,00
42,00
44,00
46,00
48,00
50,00
52,00
54,00
Điện Biên Sơn La Hòa Bình
tỉnh
m
Hình 2. So sánh Hvn của loài Tai chua tại khu vực nghiên cứu.
Ảnh hưởng của một số tích chất vật lý đất tới sinh
trưởng của Tai chua
Ðất có một số tính chất vật lý chủ yếu như tỷ trọng, dung
trọng, độ xốp, độ ẩm, tính dính, tính dẻo, độ chặt, sức cản...
Những tính chất này thường được quyết định bởi các thành
phần khoáng vật (nguyên sinh, thứ sinh), thành phần các
cấp hạt (cát, limon, sét), thành phần chất hữu cơ có trong
đất và tính liên kết giữa các thành phần trên để tạo ra kết cấu
của đất. Những tính chất nêu trên của đất có ảnh hưởng trực
tiếp đến phân bố cũng như sinh trưởng và phát triển của các
loài thực vật, tuy nhiên ở đây chúng tôi chỉ tập trung phân
tích về các chỉ tiêu như tỷ trọng, dung trọng, độ xốp và độ
ẩm. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng một số tích chất vật lý
của đất tới sinh trưởng của Tai chua tại khu vực nghiên cứu
được trình bày ở bảng 2.
Chiều cao vút ngọn của loài Tai chua tại
khu vực nghiên cứu
40,00
42,00
44,00
46,00
48,00
50,00
52,00
54,00
Điện Biên Sơn La Hòa Bình
tỉnh
m
Chiều cao vút ngọn của loài Tai chua tại
khu vực nghiên cứu
40,00
42,00
44,00
6, 0
8, 0
50,00
52,00
54,00
Điện Biên Sơn La Hòa Bình
tỉnh
m
Chiều cao vút ngọn của loài Tai chua tại
khu vực nghiên cứu
40,00
42,00
44,00
46,00
48,00
50,00
52,00
54,00
Điện Biên Sơn La Hòa Bình
tỉnh
m
5362(7) 7.2020
Khoa học Nông nghiệp
Bảng 2. Ảnh hưởng của một số tích chất vật lý đất tới sinh trưởng
của Tai chua tại khu vực nghiên cứu.
TT Địa điểm
Các chỉ tiêu vật lý đất Sinh trưởng của Tai chua
Độ ẩm
(%)
Dung trọng
(g/cm3)
Tỷ trọng
Độ xốp
(%)
D
1.3
(cm) H
vn
(m) Dt (m)
1 Điện Biên 3,60 1,22 2,72 56,80 45,20 17,40 3,50
2 Sơn La 3,80 1,19 2,73 58,60 48,10 18,10 3,80
3 Hòa Bình 4,02 1,14 2,75 63,00 52,10 21,20 5,20
Kết quả bảng 2 cho thấy, đất ở 3 tỉnh Tây Bắc có tính chất
vật lý khác nhau. Về độ ẩm tại 3 tỉnh dao động trong khoảng
3,60-4,02%, cao nhất tại Hòa Bình, thấp nhất tại Điện Biên.
Dung trọng của đất tại 3 tỉnh nghiên cứu cũng có sự khác
nhau nhưng không nhiều, dao động từ 1,14 đến 1,22 g/cm3,
ở Hòa Bình đất bị nén ít nhất, sau đó đến Sơn La và Điện
Biên. Từ kết quả phân tích dung trọng cho thấy, đất tại khu
vực nghiên cứu thuộc nhóm đất bị nén ít (theo đánh giá
dung trọng đất của Katrinski).
Tỷ trọng đất dao động trong khoảng 2,72-2,75 tại 3 tỉnh,
như vậy chúng không có sự khác biệt nhiều và đều thuộc
loại đất nghèo mùn. Về độ xốp đất, kết quả tính toán cho
thấy tại các tỉnh nghiên cứu nơi có Tai chua phân bố, đất có
độ xốp dao động từ 56,8 đến 63,0%. Theo đánh giá của S.V.
Astapốp thì độ xốp của đất tại khu vực nghiên cứu ở cấp độ
II, đất pha xốp (đất xốp).
Điều này chứng tỏ Tai chua ưa phân bố ở những nơi đất
có độ xốp tương đối cao. Đây cũng là cơ sở khoa học quan
trọng để lựa chọn vùng đất phù hợp cho việc gây trồng Tai
chua quy mô lớn. Sinh trưởng của Tai chua, qua điều tra
bước đầu chúng tôi nhận thấy bị tác động bởi tính chất vật
lý của đất nhưng ngoài ra còn chịu chi phối bởi nhiều yếu tố
khác như mật độ cây, tổ thành loài. Cây Tai chua ở Hòa Bình
sinh trưởng tốt, không sâu bệnh, mùa quả sớm hơn ở 2 tỉnh
Sơn La và Điện Biên. Qua số liệu điều tra thực địa tại 3 tỉnh
và kết quả phân tích một số tính chất vật lý đất tại khu vực
nghiên cứu bước đầu cho thấy, đất ở tỉnh Hòa Bình thích
hợp hơn cả cho cây Tai chua sinh trưởng, kế đến là Sơn La
và Điên Biên. Tuy nhiên, đây mới chỉ là những nhận xét ban
đầu, cần có những nghiên cứu sâu hơn về điều kiện sinh
trưởng tối ưu cho loài cây Tai chua tại khu vực nghiên cứu.
Kết luận
Nhìn chung tính chất đất có ảnh hưởng khá rõ rệt tới sinh
trưởng của loài cây Tai chua tại vùng Tây Bắc Việt Nam,
cụ thể: về tính chất hóa học đất, cây Tai chua là loài cây khá phù
hợp ở những nơi đất có pH thấp (ở mức chua mạnh), sinh trưởng
tốt hơn ở những nơi đất giàu dinh dưỡng, CEC trong đất ở mức
trung bình; độ ẩm và độ dày tầng đất cũng ảnh hưởng tới sinh
trưởng của loài cây Tai chua. Loài Tai chua sinh trưởng tốt
hơn ở những nơi có độ ẩm cao nhưng thoát nước, độ dày
tầng đất sâu; sinh trưởng của Tai chua bị tác động bởi dung
trọng, tỷ trọng và độ xốp, thích hợp với những nơi đất có
dung trọng và tỷ trọng cao, đất xốp, ít bị nén. Đất tại tỉnh
Hòa Bình thích hợp hơn cả cho cây Tai chua sinh trưởng tốt
so với Sơn La và Điện Biên.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), Dự án hỗ
trợ chuyên ngành lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam pha II - Bộ tài liệu
khuyến lâm về lâm sản ngoài gỗ - Kỹ thuật trồng Tai chua.
[2] Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên (2000), Thực vật rừng, Nhà
xuất bản Nông nghiệp.
[3] Nguyen Thi Thu Hang, Nguyen Van Thanh, Nguyen Thi Hong
Nhung (2018), “Determination of some ingredients of componants
and biological activity of Garcinia Cowa fruit”, Journal of Forestry
Science and Technology, 2, pp.10-14.
[4] Hà Quang Khải, Đỗ Đình Sâm, Đỗ Thanh Hoa (2000), Đất lâm
nghiệp, Nhà xuất bản Nông nghiệp.
[5] Trần Ngọc Hải (2007), Kỹ thuật gây trồng một số loài cây lâm
sản ngoài gỗ dưới tán rừng, Trường Đại học Lâm nghiệp.
[6] Trần Hợp (2002), Tài nguyên cây gỗ Việt Nam, Nhà xuất bản
Nông nghiệp.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
anh_huong_cua_tinh_chat_dat_den_sinh_truong_loai_cay_tai_chu.pdf