Hàm lượng canthaxanthin trong cơ thịt
cá thí nghiệm
Sau 90 ngày nuôi, hàm lượng canthaxathin
tích lũy trong cơ thịt cá ở các nghiệm thức khác
nhau được thể hiện ở bảng 4.
Sau 90 ngày nuôi, hàm lượng
canthaxanthin tích lũy trong cơ thịt cá có sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nghiệm thức
(P <0,05). Hàm lượng canthaxanthin trong cơ
thịt cao nhất (7,3 mg/kg) ở công thức thức ăn
được bổ sung 75 mg/kg thức ăn tiếp đến là lô sử
dụng thức ăn có bổ sung 50 mg/kg
canthaxanthin và thấp nhất ở nghiệm thức
không bổ sung canthaxanthin (1,0 mg/kg). Tuy
nhiên, giữa CT50 và ĐC không có sự sai khác có
ý nghĩa thống kê.
Nghiên cứu về khả năng tích lũy
canthaxanthin trong cơ thịt cá hồi vân của
Torrissen & cs. (1990) và Choubert &
Storebakken (1996) đã chỉ ra hàm lượng
canthaxanthin trong cơ thịt cá tỷ lệ thuận với tỷ
lệ canthaxanthin bổ sung trong thức ăn từ 0-200
mg/kg. Tuy nhiên, khi bổ sung canthaxanthin
vào thức ăn trên 50 mg/kg thì sự tích lũy
canthaxanthin trong cơ thịt cá hồi vân giảm dần
và dừng lại khi đã đạt đến điểm bão hòa.
4. KẾT LUẬN
Tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống và thành
phần dinh dưỡng trong cơ thịt của cá hồi vân
sau 90 ngày nuôi không có sự khác biệt khi sử
dụng thức ăn bổ sung canthaxanthin chiết xuất
từ vi sinh vật ưa mặn ở các liều lượng 0, 25, 50,
75 mg/kg và lô đối chứng. Màu sắc và hàm
lượng canthaxanthin tích lũy trong cơ thịt cá sử
dụng thức ăn có chứa 50 và 75mg
canthaxanthin/kg thức ăn cho kết quả tương
đương với cá sử dụng thức ăn thương mại. Sử
dụng chế phẩm canthaxanthin có nguồn gốc từ
vi khuẩn ưa mặn đáp ứng được yêu cầu về màu
sắc cho cơ thịt cá hồi thương phẩm.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm canthaxanthin có nguồn gốc từ vi khuẩn ưa mặn vào thức ăn đến sinh trưởng và màu sắc thịt cá hồi vân (oncorhynchus mykiss), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Vietnam J. Agri. Sci. 2020, Vol. 18, No.11: 948-954 Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2020, 18(11): 948-954
www.vnua.edu.vn
948
ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG CHẾ PHẨM CANTHAXANTHIN
CÓ NGUỒN GỐC TỪ VI KHUẨN ƯA MẶN VÀO THỨC ĂN ĐẾN SINH TRƯỞNG
VÀ MÀU SẮC THỊT CÁ HỒI VÂN (Oncorhynchus mykiss)
Trần Thị Mai Hương1, Đỗ Văn Thịnh1, Cao Thị Linh Chi1, Lê Văn Khôi1,
Đặng Việt Anh2, Trần Quốc Toàn2, Trần Thị Thúy Hà1*
1Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 - Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh
2Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
*Tác giả liên hệ: thuyha@ria1.org
Ngày nhận bài: 04.05.2020 Ngày chấp nhận đăng: 04.08.2020
TÓM TẮT
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm canthaxanthin có nguồn gốc từ vi
khuẩn ưa mặn Paracoccus carotinifaciens VTP 20181 (canthaxanthin sinh học) được bổ sung vào thức ăn nuôi
thương phẩm cá hồi vân (Oncorhynchus mykiss) tới màu của cơ thịt cá. Thí nghiệm gồm 5 nghiệm thức trong đó
canthaxanthin có nguồn gốc từ sinh vật ưa mặn được bổ sung với hàm lượng 0, 25, 50, 75 mg/kg thức ăn (CT0,
CT25, CT50 và CT75) và đối chứng (ĐC) là thức ăn thương mại có chứa 40 mg/kg canthaxanthin có nguồn gốc hóa
học. Sau 90 ngày nuôi, tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng, hệ số thức ăn của cá hồi vân và thành phần dinh dưỡng trong
cơ thịt cá giữa các nghiệm thức không có sự sai khác thống kê (P >0,05). Điểm màu cơ thịt cá hồi ở nghiệm thức bổ
sung 50, 75 mg/kg canthaxanthin và lô đối chứng không có sự khác biệt, tuy nhiên cao hơn so với nghiệm thức 0 và
25 mg/kg. Nuôi cá hồi vân thương phẩm bằng thức ăn có bổ sung canthaxanthin có nguồn gốc từ vi sinh vật ưa mặn
với tỷ lệ 50 và 75 mg/kg thức ăn cho màu sắc cơ thịt tương đồng với thức ăn thương mại.
Từ khóa: Canthaxanthin, Oncorhynchus mykiss, màu sắc cơ thịt, Paracoccus carotinifaciens VTP 20181.
Effects of Dietary Inclusion of Canthaxanthin from Halophiles on Growth
and Muscle Pigmentation of Rainbow Trout (Oncorhynchus mykiss)
ABSTRACT
This study aimed to evaluate the effect of dietary supplementation of canthaxanthin extract derived from
Paracoccus carotinifaciens VTP 20181 (bio-canthaxanthin) into diet for grow-out rainbow trout (Oncorhynchus
mykiss) on the growth performance and pigment of rainbow trout muscle. The experiment was performed with five
treatments including four levels of canthaxanthin from rich bacterium P. carotinifaciens VTP 20181 as a feed for
rainbow trout at 0, 25, 50, 75 mg/kg (CT0, CT25, CT50, CT75), respectively and a diet contained chemical
canthaxanthin 40 mg/kg as the control diet (ĐC). After the time of 90 days of feeding trial, there was no significant
difference in survival rate, growth performance and carcass composition of rainbow trout (P >0.05). The score of
pigmentation in diet was added 50.75 mg/kg higher than that of in diet were added 0.25 mg/kg canthaxanthin but no
significant with control (P >0.05) was found. Fish fed the diet contained 50 or 75 mg/kg of bio-canthaxanthin showed
the same efficacy with the commercial diet.
Keywords: Canthaxanthin, Oncorhynchus mykiss, fillet pigmentation. Paracoccus carotinifaciens VTP 20181.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cá hồi vân (Oncorhynchus mykiss) được
nuôi với mục đích sử dụng làm thực phẩm phổ
biến trên 45 quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Thịt cá hồi vân có màu hồng đặc trưng và đây
cũng là một tiêu chí đánh giá chất lượng thịt
được người tiêu dùng quan tâm (Büyükçapar &
cs., 2007). Ngoài tự nhiên, sắc tố tạo màu cho cơ
thịt được cá tích lũy từ thức ăn có nguồn gốc là
Trần Thị Mai Hương, Đỗ Văn Thịnh, Cao Thị Linh Chi, Lê Văn Khôi, Đặng Việt Anh,
Trần Quốc Toàn, Trần Thị Thúy Hà
949
các nhóm giáp xác. Trong môi trường nuôi nhốt
để màu sắc của thịt cá đáp ứng được thị hiếu
của người tiêu dùng thì việc bổ sung sắc tố vào
thức ăn để tăng màu sắc của thịt cá hồi vân là
điều cần thiết (Bjerkeng, 2000). Hai sắc tố được
sử dụng nhiều trong sản xuất thức ăn cá hồi là
astaxanthin và canthaxanthin. Tuy astaxanthin
được tích lũy trong thịt cá nhiều hơn
canthaxanthin nhưng thức ăn chứa
canthaxanthin và astaxanthin lại cho màu cơ
thịt cá đẹp hơn so với chỉ bổ sung astaxanthin
(Nihat, 2011; Graydon & cs., 2012). Bên cạnh
đó, để giảm chi phí sản xuất thức ăn,
canthaxanthin được sử dụng để bổ sung thêm
vào thức ăn bên cạnh astaxanthin. Nghiên cứu
về khả năng tích lũy canthaxanthin trong cơ
thịt cá hồi vân được nuôi tại New Zealand
(Torrissen & cs., 1990) và cá hồi nước mặn được
nuôi tại Mỹ (Choubert & Storebakken, 1996) đã
chỉ ra rằng hàm lượng canthaxanthin trong cơ
thịt cá tỷ lệ thuận với tỷ lệ canthaxanthin bổ
sung trong thức ăn từ 0-200 mg/kg. Tuy nhiên,
khi bổ sung canthaxanthin vào thức ăn trên
50 mg/kg thì sự tích lũy canthaxanthin trong cơ
thịt cá hồi vân giảm dần và dừng lại khi đã đạt
đến điểm bão hòa. Bổ sung canthaxanthin và
astaxanthin lần lượt với tỷ lệ 190 mg/kg và
50-60 mg/kg vào thức ăn sử dụng trong 10 tuần
có thể cung cấp đầy đủ sắc tố đỏ cho cá hồi
(Torrissen & cs., 1990). Theo tiêu chuẩn của liên
minh châu Âu, bổ sung canthaxanthin vào thức
ăn cho cá hồi được khuyến cáo nên ở mức
80 mg/kg thức ăn (EC, 1982).
Tại Việt Nam, nghiên cứu về việc bổ sung
canthaxanthin và astaxanthin vào thức ăn cho
động vật thủy sản nhằm tăng màu sắc da và cơ
thịt cá đã được thực hiện. Nghiên cứu của
Nguyễn Thị Trang & Nguyễn Tiến Hóa (2013)
xác định tỷ lệ astaxanthin và canthaxanthin bổ
sung vào thức ăn cá hồi chỉ ra rằng tỷ lệ
40-40 mg/kg là phù hợp khiến thịt cá lên màu
đẹp. Cùng với hướng nghiên cứu này, Trịnh Thị
Lan Chi (2010) cũng đã tiến hành thử nghiệm
bổ sung sắc tố astaxanthin và canthaxanthin
vào thức ăn cho cá chép Nhật (Cyprinus carpio).
Tác giả đã kết luận với mức astaxanthin là
78 mg/kg thức ăn và canthaxanthin là
138 mg/kg thức ăn cho kết quả tốt trong việc cải
thiện màu sắc của loài cá cảnh này. Ngoài ra,
nghiên cứu thử nghiệm bổ sung canthaxanthin
cho cá chim vây vàng đã chỉ ra rằng bổ sung
canthaxanthin với tỷ lệ 120 mg/kg tăng màu
vàng trên thân và vây cá chim vây vàng
(Nguyễn Quang Huy & Đỗ Văn Thịnh, 2018).
Thêm vào đó, kết quả nghiên cứu về bổ sung
astaxanthin có nguồn gốc sinh vật vào thức ăn
nuôi cá hồi thương phẩm cho thấy 80 mg/kg là
phù hợp cho lên màu cá hồi (Nguyễn Quang
Huy & cs., 2018).
Hiện nay, phần lớn canthaxanthin sử dụng
trên thị trường được sản xuất bằng phương
pháp hóa tổng hợp, những sản phẩm
canthaxanthin có nguồn gốc sinh tổng hợp còn
hạn chế. Vì vậy trong nghiên cứu này
canthaxanthin được chiết xuất từ vi khuẩn ưa
mặn được bổ sung vào thức ăn cho cá hồi vân để
tạo màu sắc cho cơ thịt cá sẽ được đánh giá. Kết
quả của nghiên cứu này, sẽ là nguồn tham khảo
cho các nhà sản xuất thức ăn trong việc bổ sung
chất tạo màu nhằm tạo màu sắc tối ưu cho cơ
thịt cá hồi vân, đáp ứng được nhu cầu của thị
trường bên cạnh chất tạo màu có nguồn gốc hóa
tổng hợp.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu nghiên cứu
Cá thí nghiệm: Cá hồi vân thí nghiệm có
khối lượng trung bình 310,6 ± 12,86 g/con, cá có
nguồn gốc từ Trung tâm Nghiên cứu cá nước
lạnh Sapa - Lào Cai, Viện Nghiên cứu Nuôi
trồng Thủy sản 1. Một tháng trước khi tiến
hành thí nghiệm cá được nuôi bằng thức ăn
không bổ sung sắc tố để màu sắc cơ thịt về trạng
thái ban đầu.
Thức ăn thí nghiệm: Thức ăn sử dụng trong
thí nghiệm được sản xuất trên dây chuyền ép
đùn của nhà máy Thức ăn thủy sản Kinh Bắc
với cùng hàm lượng dinh dưỡng: đạm tổng số
40%, béo tổng số 18%, xơ thô 5%, năng lượng
3.800 kcal/kg. Các nghiệm thức chỉ khác nhau ở
hàm lượng canthaxanthin bổ sung vào thức ăn
với các mức: 0, 25, 50, 75 mg/kg và một loại thức
ăn thương mại được bổ sung canthaxanthin hóa
tổng hợp dùng làm đối chứng.
Ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm canthaxanthin có nguồn gốc từ vi khuẩn ưa mặn vào thức ăn đến sinh trưởng
và màu sắc thịt cá hồi vân (Oncorhynchus mykiss)
950
Canthaxanthin: Chế phẩm giàu
canthaxanthin được chiết xuất từ vi sinh vật ưa
mặn (Paracoccus carotinifaciens), do Viện Công
nghiệp thực phẩm cung cấp. Hàm lượng
canthaxanthin được bổ sung vào thức ăn lần
lượt là 0, 25, 50 và 75mg tinh chất/kg và được
quy đổi thành lượng chế phẩm giàu
canthaxanthin thu được sau quá trình sinh tổng
hợp tương ứng.
Phương pháp bổ sung canthaxanthin vào
thức ăn: Thức ăn sau khi được ép viên trên dây
chuyền sản xuất thức ăn thủy sản của Nhà máy
Chế biến thức ăn thủy sản Kinh Bắc. Chế phẩm
giàu canthaxanthin có nguồn gốc từ vi khuẩn
được hòa tan vào trong dầu và được phun, tẩm
vào viên thức ăn bằng hệ thống ép dầu chân
không của nhà máy. Phương pháp bổ sung này
cho tỷ lệ thu hồi canthaxanthin lên đến 93,2%
so với lượng bổ sung ban đầu (Chuyên đề:
Nghiên cứu phương pháp bổ sung chế phẩm vào
thức ăn cho cá hồi thương phẩm trong điều
kiện sản xuất quy mô công nghiệp -
DDT10.17/CNSHCB). Thức ăn sau khi sản xuất
được đóng vào trong bao PE có lót bên trong một
lớp nilon. Thức ăn có dạng viên hình trụ, đường
kính 4mm, dạng viên chìm.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí
hoàn toàn ngẫu nhiên trong 15 bể xi măng có
thể tích nước 1,5 m3/bể, mỗi nghiệm thức lặp lại
3 lần, mật độ cá thả 30 con/bể. Thí nghiệm được
triển khai tại Trung tâm cá nước lạnh Sapa,
trong thời gian 90 ngày.
Chăm sóc và quản lý: Cá thí nghiệm được
cho ăn vào lúc 6h, 10h, 14h và 18h và được cho
ăn thỏa mãn tới no. Các bể thí nghiệm được cấp
nước chảy liên tục, thức ăn thừa và cặn bẩn
được xi phông loại bỏ hàng ngày. Một số yếu tố
môi trường như nhiệt độ nước, oxy hòa tan được
theo dõi hàng ngày vào lúc 6h và 14h.
Thu mẫu: Bắt đầu thí nghiệm và định kỳ 30
ngày nuôi cá được cân khối lượng kiểm tra tốc
độ tăng trưởng. Đồng thời mỗi bể sẽ tiến hành
thu ngẫu nhiên 3 cá thể, phi lê lấy phần cơ thịt
để xác định sự tích lũy màu của cơ thịt cá theo
thời gian. Cơ thịt này sẽ được bảo quản trong tủ
đông -20C để phân tích thành phần dinh dưỡng
và hàm lượng canthaxanthin tích lũy.
Các chỉ tiêu đánh giá:
- Tỷ lệ sống (%) = Số cá thu hoạch × 100/Số
cá thả.
- Tốc độ tăng trưởng tương đối theo khối
lượng SGR (%/ngày) = 100 × (LnWc-LnWđ)/T
Trong đó, Wc là khối lượng cá khi kết thúc
thí nghiệm, Wđ là khối lượng cá ban đầu, T là
thời gian thí nghiệm.
- Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) = Tổng
khối lượng thức ăn sử dụng (kg)/Khối lượng cá
tăng thêm (kg).
Phương pháp phân tích thành phần dinh
dưỡng: Chỉ tiêu dinh dưỡng trong cơ thịt cá như
protein tổng số, lipid tổng số, độ ẩm, khoáng
tổng số được phân tích theo TCVN 4328-1:2007,
TCVN 4331:2001, TCVN 4327:2007,
TCVN 4326:2001.
Phương pháp đánh giá màu sắc cơ thịt cá
hồi vân: Phương pháp so màu cơ thịt: Màu sắc
cơ thịt cá được xác định bằng thước so màu
SalmoFan Lineal của hãng DSM để cho điểm
theo thang điểm từ 20 đến 34. Kết quả dựa trên
sự đánh giá thống nhất của 3 người quan sát
khác nhau.
Hình 1. Thước so màu SalmoFan Lineal
Trần Thị Mai Hương, Đỗ Văn Thịnh, Cao Thị Linh Chi, Lê Văn Khôi, Đặng Việt Anh,
Trần Quốc Toàn, Trần Thị Thúy Hà
951
Xác định nồng độ cantaxanthin tích lũy
trong cơ thịt cá: Mẫu cơ thịt cá được thu tại
cùng một vị trí trên cơ lưng sau khi nghiền nhỏ
bằng máy đồng nhất mẫu IKA basic ULTRA-
TURRAX sẽ được tách chiết bằng dung môi
hữu cơ, làm sạch và phân tích bằng máy sắc khí
lỏng cao áp HPLC theo phương pháp của
Tzanova & Atanasov (2016) tại phòng phân tích
của Viện Hóa học và các Hợp chất thiên nhiên
với chất chuẩn canthaxanthin của hãng Sigma
Aldrich. Hệ thống sắc khí lỏng sử dụng cột phân
tích C-18 Hypersil Gold (5µm, 150 × 4,6mm), tốc
độ dòng 1 ml/phút. Thời gian lưu là 6 phút.
2.3. Xử lý số liệu
Các số liệu thí nghiệm sẽ được tính giá trị
trung bình và sai số chuẩn. Số liệu tại các
nghiệm thức được xử lý bằng phương pháp phân
tích phương sai 1 nhân tố (ANOVA) trên phần
mềm Minitab 16. Sử dụng phép so sánh Duncan
để so sánh sự khác nhau giữa các giá trị trung
bình của nghiệm thức. Sự khác nhau được xem
là có ý nghĩa khi P <0,05.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Một số yếu tố môi trường trong quá
trình nuôi
Trong quá trình thí nghiệm, nhiệt độ nước
dao động từ 6,0-17,5○C. Vì thời gian tiến hành
thí nghiệm từ tháng 9 đến tháng 12 nên nhiệt
độ nước thấp hơn so với mùa hè và mức nhiệt độ
này nằm trong khoảng nhiệt phù hợp cho sự
phát triển của cá hồi (Stephen & Ringler, 2005).
Oxy hòa tan trong quá trình thí nghiệm dao
động từ 7,1-10,9 mg/l, trung bình đạt 8,2 mg/l.
Hàm lượng oxy hòa tan trong thí nghiệm này
nằm trong khoảng giới hạn thích hợp nhất cho
sự phát triển của cá hồi vân (Segdwick, 1985;
Stevenson, 1987).
3.2. Tốc độ tăng trưởng hệ số thức ăn và tỷ
lệ sống của cá thí nghiệm
Cá đưa vào thí nghiệm có khối lượng trung
bình 310,6 ± 12,86 g/con và không có sự sai khác
giữa nghiệm thức. Sau 90 ngày nuôi, cá đạt
trung bình 908 ± 35,74 g/con. Tuy nhiên không
thấy sự sai khác có ý nghĩa thống kê về khối
lượng cá kết thúc giữa các nghiệm thức sử dụng
các loại thức ăn chứa hàm lượng canthaxanthin
khác nhau.
Tốc độ tăng trưởng của cá thí nghiệm cao
nhất ở công thức CT50 (1,22 %/ngày) và thấp
nhất là công thức CT0 và CT25 (1,16 %/ngày)
tuy nhiên không có sự sai khác có ý nghĩa thống
kê giữa các nghiệm thức. Hệ số thức ăn của các
nghiệm thức dao động từ 1,46-1,52. Không thấy
sự sai khác có ý nghĩa thống kê về hệ số thức ăn
giữa các nghiệm thức. Tỷ lệ sống của cá ở các
công thức thí nghiệm là 100% (Bảng 1). Do đó,
có thể coi tỷ lệ chất tạo màu canthaxanthin
khác nhau không ảnh hưởng đến tốc độ tăng
trưởng và tỷ lệ sống của cá hồi vân trong thí
nghiệm này. Kết quả này tương tự như các kết
quả nghiên cứu trước đó về việc bổ sung
carotenoid như canthaxanthin hay astaxanthin
trong thức ăn không ảnh hưởng đến tốc độ tăng
trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn cũng như tỷ lệ
sống của cá hồi nước ngọt (Rehulka, 2000;
Nguyễn Thị Trang & Nguyễn Tiến Hóa, 2013)
hay cá vẹt lại (Li & cs., 2017) giai đoạn nuôi
thương phẩm.
Bảng 1. Khối lượng (g) và tỷ lệ sống (%) của cá hồi ở các công thức thí nghiệm (TB ± SD)
Chỉ tiêu CT0 CT25 CT50 CT75 Đối chứng
Khối lượng ban đầu (g) 310 ± 13,4 312 ± 12,3 309 ± 13,1 310 ± 14,7 311 ± 10,8
Khối lượng 90 ngày nuôi (g) 880 ± 32,3 890 ± 32,8 930 ± 31,6 920 ± 38,3 920 ± 35,7
Tốc độ tăng trưởng (%/ngày) 1,16 ± 0,03 1,16 ± 0,1 1,22 ± 0,09 1,21 ± 0,07 1,21 ± 0,04
FCR 1,51 ± 0,43 1,46 ± 0,41 1,52 ± 0,62 1,48 ± 0,41 1,50 ± 0,41
Tỷ lệ sống (%) 100 100 100 100 100
Ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm canthaxanthin có nguồn gốc từ vi khuẩn ưa mặn vào thức ăn đến sinh trưởng
và màu sắc thịt cá hồi vân (Oncorhynchus mykiss)
952
Bảng 2. Kết quả phân tích thành phần dinh dưỡng cơ thịt cá thí nghiệm (TB ± SD)
Nghiệm thức Hàm lượng protein thô (%) Hàm lượng béo thô (%) Tro thô (%) Độ ẩm (%)
CT0 20,19 ± 1,15 6,79 ± 1,10 1,83 ± 0,12 73,79 ± 1,73
CT25 18,89 ± 1,12 7,43 ± 1,09 1,75 ± 0,37 73,25 ± 0,81
CT50 19,22 ± 1,32 7,42 ± 1,04 1,57 ± 0,22 72,21 ± 0,64
CT75 20,07 ± 2,37 8,67 ± 2,33 1,72 ± 0,17 71,57 ± 1,12
Đối chứng 19,86 ± 1,86 7,51 ± 1,56 1,68 ± 0,34 73,13 ± 0,79
3.3. Thành phần dinh dưỡng cơ thịt cá
hồi vân
Hàm lượng chất dinh dưỡng trong cơ thịt cá
sau ba tháng thí nghiệm không có sự sai khác có
ý nghĩa thống kê giữa các lô thí nghiệm
(Bảng 2).
Một số nghiên cứu của Ikeuchi & cs. (2007);
Aoi & cs. (2008); Woo & cs. (2010); Hu & cs.
(2012) cho rằng carotenoids có ảnh hưởng tới
việc tiêu hóa và hấp thụ lipid của chuột. Đối với
động vật thủy sản trong nghiên cứu của
Kalinowski & cs. (2013) trên cá Tráp đỏ cũng
ghi nhận rằng canthaxanthin ảnh hướng tới sự
tiêu hóa lipid của cá. Đây có thể là nguyên nhân
hàm lượng béo trong cơ thịt cá sử dụng thức ăn
bổ sung 75mg cathaxanthin/kg thức ăn có xu
hướng cao hơn so với ở các lô thí nghiệm khác.
3.4. Màu sắc cơ thịt cá hồi vân
Khi bắt đầu thí nghiệm, màu sắc cơ thịt cá
hồi đồng nhất giữa các lô thí nghiệm với số điểm
màu dao động từ 20,4 đến 20,6. Sau 30 ngày
nuôi, màu sắc của cơ thịt cá đã bắt đầu có sự
khác biệt về điểm màu giữa các nghiệm thức
khác nhau (P <0,05). Điểm màu cao nhất được
thể hiện ở CT50 (26,6) và CT75 (26,2) điểm màu
thấp nhất ở là 23,4 được ghi nhận ở thức ăn CT0
không bổ sung canthaxanthin. Sau 60 ngày
nuôi, sự khác biệt về màu sắc cơ thịt cá càng rõ
rệt hơn. Tuy nhiên càng về cuối giai đoạn thí
nghiệm, điểm màu của cơ thịt cá tăng chậm lại
(Bảng 3).
Kết quả này tương tự như kết quả nghiên
cứu trước đây khi bổ sung astaxanthin và
canthaxanthin theo tỷ lệ 40:40 mg/kg thức ăn
(Nguyễn Thị Trang & Nguyễn Tiến Hóa, 2013).
Điều này là phù hợp với nghiên cứu của
Choubert & cs. (1989), Torrissen & cs. (1990) là
màu sắc của cơ thịt cá sẽ dần đạt tới điểm bão
hòa, dù có tăng nồng độ hoặc nuôi lâu hơn, màu
sắc cũng không tăng lên nữa.
3.5. Hàm lượng canthaxanthin trong cơ thịt
cá thí nghiệm
Sau 90 ngày nuôi, hàm lượng canthaxathin
tích lũy trong cơ thịt cá ở các nghiệm thức khác
nhau được thể hiện ở bảng 4.
Sau 90 ngày nuôi, hàm lượng
canthaxanthin tích lũy trong cơ thịt cá có sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nghiệm thức
(P <0,05). Hàm lượng canthaxanthin trong cơ
thịt cao nhất (7,3 mg/kg) ở công thức thức ăn
được bổ sung 75 mg/kg thức ăn tiếp đến là lô sử
dụng thức ăn có bổ sung 50 mg/kg
canthaxanthin và thấp nhất ở nghiệm thức
không bổ sung canthaxanthin (1,0 mg/kg). Tuy
nhiên, giữa CT50 và ĐC không có sự sai khác có
ý nghĩa thống kê.
Bảng 3. Bảng điểm so màu cơ thịt cá hồi vân thí nghiệm (TB ± SD)
Thời điểm so màu CT0 CT25 CT50 CT75 Đối chứng
Thời điểm thả lúc đầu 20,5
a
± 0,8 20,4
a
± 0,5 20,4
a
± 0,5 20,6
a
± 0,7 20,5
a
± 0,5
Sau 30 ngày nuôi 23,4
a
± 1,4 24,7
a
± 2,1 26,6
b
± 1,8 26,2
b
± 2,3 26,9
b
± 1,7
Sau 60 ngày nuôi 24,2
a
± 2,3 25,9
a
± 2,1 28,7
b
± 3,0 28,1
b
± 2,7 28,7
b
± 3,4
Sau 90 ngày nuôi 24,6
a
± 1,8 26,2
ab
± 1,7 28,5
b
± 2,2 28,9
b
± 2,2 28,7
b
± 2,8
Ghi chú: Số liệu có các chữ cái trong cùng một hàng khác nhau thể hiện sai khác có ý nghĩa thống kê (P <0,05).
Trần Thị Mai Hương, Đỗ Văn Thịnh, Cao Thị Linh Chi, Lê Văn Khôi, Đặng Việt Anh,
Trần Quốc Toàn, Trần Thị Thúy Hà
953
Bảng 4. Hàm lượng canthaxanthin tích lũy trong cơ thịt cá thí nghiệm (TB ± SD)
Công thức CT0 CT25 CT50 CT75 Đối chứng*
Hàm lượng canthaxanthin trong cơ cá (mg/kg) 1,0
d
± 0,3
3,1
c
± 0,2 5,7
b
± 0,2 7,3
a
± 0,2 5,3
b
± 0,4
Ghi chú: Số liệu có các chữ cái khác nhau thể hiện sai khác có ý nghĩa thống kê (P <0,05).
Nghiên cứu về khả năng tích lũy
canthaxanthin trong cơ thịt cá hồi vân của
Torrissen & cs. (1990) và Choubert &
Storebakken (1996) đã chỉ ra hàm lượng
canthaxanthin trong cơ thịt cá tỷ lệ thuận với tỷ
lệ canthaxanthin bổ sung trong thức ăn từ 0-200
mg/kg. Tuy nhiên, khi bổ sung canthaxanthin
vào thức ăn trên 50 mg/kg thì sự tích lũy
canthaxanthin trong cơ thịt cá hồi vân giảm dần
và dừng lại khi đã đạt đến điểm bão hòa.
4. KẾT LUẬN
Tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống và thành
phần dinh dưỡng trong cơ thịt của cá hồi vân
sau 90 ngày nuôi không có sự khác biệt khi sử
dụng thức ăn bổ sung canthaxanthin chiết xuất
từ vi sinh vật ưa mặn ở các liều lượng 0, 25, 50,
75 mg/kg và lô đối chứng. Màu sắc và hàm
lượng canthaxanthin tích lũy trong cơ thịt cá sử
dụng thức ăn có chứa 50 và 75mg
canthaxanthin/kg thức ăn cho kết quả tương
đương với cá sử dụng thức ăn thương mại. Sử
dụng chế phẩm canthaxanthin có nguồn gốc từ
vi khuẩn ưa mặn đáp ứng được yêu cầu về màu
sắc cho cơ thịt cá hồi thương phẩm.
LỜI CÁM ƠN
Nghiên cứu được thực hiện dưới sự hỗ trợ
kinh phí từ đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản
xuất chế phẩm giàu canthaxanthin từ vi khuẩn
ưa mặn bổ sung thức ăn để nâng cao chất lượng
và màu sắc thịt cá hồi thương phẩm”, mã số
10.17/CNSHCB-thuộc Đề án phát triển và ứng
dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực công
nghiệp chế biến đến năm 2020 - Bộ Công thương.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bjerkeng B. (2000). Carotenoid pigmentation of
salmonid fishes-recent progress. Adv. Nutr. Aquac.
pp. 71-89.
Büyükçapar H.M., Yanar M. & Yanar Y. (2007).
Pigmentation of Rainbow Trout (Oncorhynchus
mykiss) with Carotenoids from Marigold Flower
(Tagetes erecta) and Red Pepper (Capsicum
annum). Turkish J. Vet. Anim. Sci. 31: 7-12.
Choubert G. & Storebakken T.S. (1996). Digestibility
of astaxanthin and canthaxanthin in rainbow trout
as affected by dietary concentration, feeding rate
and water salinity. HAL Id : hal-00889577. Ann.
Zootech. INRA/EDP Sci. 45: 445-453.
E.C. (1982). Report of scientific Committee for animal
nutrition on the use of canthaxanthin in
feedingstuffs for salmons and trout. Euroupean
Commission.
Graydon C.M., Robinson S.M.C., Scheibling R.E. &
Cooper J.A. (2012). Canthaxanthin as a potential
tracer of salmon feed in mussels (Mytilus spp.) and
sea urchins (Strongylocentrotus droebachiensis)
Canthaxanthin as a potential tracer of salmon feed
in mussels (Mytilus spp.) and sea urchins
(Strongylocentrotus droebachiensis). Aquaculture.
366-367: 90-97.
Kalinowski C.T., Socorro J. & Robaina L.E. (2013).
Effect of dietary canthaxanthin on the growth and
lipid composition of red porgy (Pagrus pagrus)
Effect of dietary canthaxanthin on the growth and
lipid composition of red porgy (Pagrus pagrus).
Aquac. Res. pp. 1-8.
Li M., Rahman M.M., Wu B. & Lin Y. (2017). Effect
of dietary canthxanthin on growth and body colour
of blood parot cichlid Amphilophus citrinellus x
Paraneetroplus synspilus. Aquac. Int. 25: 705-713.
Martin G.L., Skovlund B., Michael E.N, Bjarne K.E.,
Line H.C. & Stina F. (2012). Classication of
Astaxanthin Colouration of Salmonid Fish using
Spectral Imaging and Tricolour Measurement.
IMM-Technical Report.
Nguyễn Quang Huy & Đỗ Văn Thịnh (2018). Ảnh
hưởng của canthaxanthin trong thức ăn lên tăng
trưởng và màu sắc da cá chim vây vàng
(Trachinotus falcatus). Tạp chí Khoa học và Phát
triển. 16: 646-651
Nguyễn Quang Huy, Nguyễn Văn Khang, Nguyễn
Thanh Hải, Nguyễn Thị Diệu Phương & Nguyễn
Hải Sơn (2018). Nghiên cứu bổ sung chế phẩm
astaxanthin có nguồn gốc từ vi khuẩn Paracoccus
carotinifaciens vào thức ăn nuôi thương phẩm cá
hồi vân Oncorhyncus mykiss. Tạp chí Khoa học-
Công nghệ Thủy sản. 1: 34-40.
Ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm canthaxanthin có nguồn gốc từ vi khuẩn ưa mặn vào thức ăn đến sinh trưởng
và màu sắc thịt cá hồi vân (Oncorhynchus mykiss)
954
Nguyễn Thị Trang & Nguyễn Tiến Hóa (2013). Ảnh
hưởng của thức ăn có bổ sung astaxanthin và
canthaxanthin với tỷ lệ khác nhau lên màu sắc thịt
cá hồi vân (Oncorhynchus mykiss). J. Sci. Dev.
11: 981-986.
Nihat Y. (2011). Effects of Oleoresin Paprika
(Capsicum annum) and Synthetic Carotenoids
(Canthaxantin and Astaxanthin) on Pigmentation
Levels and Growth in Rainbow. J. Anim. Vet.
Adv. 10: 1875-1882.
Rehulka J. (2000). Influence of astaxanthin on growth
rate , condition, and some blood indices of rainbow
trout, Oncorhynchus mykiss. Aquaculture.
190: 27-47.
Sedgwick S.D. (1985). Trout Farming Handbook.
Fourth Edition. Fishing News Books,
Farnham. 160p
Stevenson J.P. (1987). Trout Farming Manual. 2
edition. 259pp. Farnham, Surrey: Fishing News
Books Ltd.Stephen M.C.J. & Ringler N.H. (2005).
Temperature-dependent Effects of Rainbow Trout
on Growth of Atlantic Salmon Parr. J. Gt. Lakes
Res. 31: 386-396.
Torrissen O.J., Hardy R.W., Shearer K.D., Scott T.M.
& Stone F.E. (1990). Effects of dietary
canthaxanthin level and lipid level on apparent
digestibility coefficients for canthxanthin in
rainbow trout (Oncorhynchus mykiss).
Aquaculture. 88: 351-362.
Trịnh Thị Lan Chi (2010). Báo cáo nghiệm thu đề tài
nghiên cứu khoa học. Trung tâm Nhiệt đới
Việt - Nga.
Tzanova, Argirova & Atanasov (2016). HPLC
Quantification of Astaxanthin and Canthaxanthin
in Salmonidae Eggs: Astaxanthin and
Canthxanthin quantification. Biomedical
chromatography. 31(4).
Các file đính kèm theo tài liệu này:
anh_huong_cua_viec_bo_sung_che_pham_canthaxanthin_co_nguon_g.pdf