Khối lượng sơ sinh trung bình (1 ngày tuổi)
trong thí nghiệm này là 0,85–0,86 g/con, kết
quả này tương đương với nghiên cứu của
Phạm Thị Hồng Dung [5], (giá trị trung
bình 0,84 g/con). Nghiên cứu của Ngô Đắc
Chứng và cộng sự [4], nếu TLBH sơ sinh có
khối lượng trung bình 1,26 g/con thì kết quả
nghiên cứu này thấp hơn. Sự khác biệt này
có thể do sự khác nhau về điều kiện sống.
Bảng 3 cho ta thấy, ở nghiệm thức I, khối
lượng tích lũy của TLBH con không tăng
mà giảm dần qua các tuần theo dõi, đến tuần
thứ ba, tất cả các cá thể bị chết. Trong khi ở
nghiệm thức II, khối lượng sinh trưởng tích
lũy của TLBH con tăng liên tục theo thời
gian nuôi và đạt 2,18 g/con lúc bốn tuần tuổi.
Trong đó, khối lượng tăng cao nhất vào tuần
thứ tư với 0,5 g/cá thể/tuần, thấp nhất vào
tuần thứ nhất chỉ đạt 0,05 g/cá thể/tuần. Sự
khác nhau này cho thấy bước sang tuần thứ
ba và thứ tư, ngoài dế con làm thức ăn động,
TLBH đã ăn được thức ăn tĩnh được băm nhỏ
giống như bố mẹ nó. Điều này chứng tỏ, nếu
việc cho TLBH con làm quen với thức ăn
tĩnh sớm và chúng chỉ cần vượt qua hai tuần
đầu tiên thì tốc độ sinh trưởng của con non
phát triển tốt ở tuần tiếp theo.
V. KẾT LUẬN
Biên độ nhiệt dao động khá rộng trong
điều kiện không dùng đèn hồng ngoại úm
chưa thích hợp cho sự thích nghi, sinh trưởng
và phát triển của TLBH.
Tỉ lệ sống của TLBH trưởng thành từ 28
đến 44 tuần tuổi không đèn hồng ngoại đạt
30,5%, có đèn hồng ngoại đạt 82,5%.
Tỉ lệ nuôi sống của con non trong bốn tuần
tuổi ở nghiệm thức dùng đèn hồng ngoại cho
kết quả 39,2%, trong khi nghiệm thức không
đèn hồng ngoại là 0%.
Ở nghiệm thức dùng đèn hồng ngoại, khối
lượng sinh trưởng tích lũy trung bình đạt 2,18
g/con ở tuần thứ 4 với 0,5 g/cá thể/tuần.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của việc sử dụng đèn hồng ngoại lên tỉ lệ sống của thằn lằn bóng hoa (eutropis multifasciata) ở điều kiện nuôi bán tự nhiên tại tỉnh Quảng Bình, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TẠP CHÍ KHOAHỌC TRƯỜNGĐẠI HỌC TRÀVINH, SỐ 38, THÁNG 6 NĂM 2020 DOI: 10.35382/18594816.1.38.2020.560
ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG ĐÈN HỒNG NGOẠI
LÊN TỈ LỆ SỐNG CỦA THẰN LẰN BÓNG HOA (Eutropis
multifasciata) Ở ĐIỀU KIỆN NUÔI BÁN TỰ NHIÊN
TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH
Diệp Thị Lệ Chi1, Võ Thị Nho2
EFFECTS OF INFRARED LIGHT ON THE SURVIVAL RATE OF COMMON
SUN SKINK (Eutropis multifasciata) IN A SEMI-NATURAL HABITAT IN
QUANG BINH PROVINCE, VIET NAM
Diep Thi Le Chi1, Vo Thi Nho2
Tóm tắt – Nghiên cứu xác định mức độ
ảnh hưởng khi sử dụng đèn hồng ngoại lên
tỉ lệ sống của thằn lằn bóng hoa Eutropis
multifasciata trưởng thành và con non trong
điều kiện nuôi bán tự nhiên tại tỉnh Quảng
Bình ở những thời điểm trời rét. Tổng số
400 cá thể thằn lằn bóng hoa 28 tuần tuổi
và 120 cá thể con non được thiết kế hoàn
toàn ngẫu nhiên với hai nghiệm thức dùng
đèn hồng ngoại và dùng đèn sợi đốt sưởi
ấm. Thức ăn và nước uống tự do đảm bảo
phù hợp với đặc điểm sinh lí của thằn lằn
bóng hoa. Kết quả thí nghiệm cho thấy: tỉ
lệ sống của thằn lằn bóng hoa trưởng thành
và con non ở nghiệm thức dùng đèn hồng
ngoại lần lượt là 82,5% và 39,2%; ở nghiệm
thức dùng đèn sợi đốt là 30,5% và 0%. Việc
sinh trưởng của con non trong bốn tuần đầu
sau khi sinh ở phương thức dùng đèn hồng
ngoại có kết quả cao hơn và khối lượng sinh
trưởng tích lũy trung bình đạt 2,18 g/cá thể
ở tuần thứ tư. Đối với việc dùng đèn sợi đốt,
thằn lằn bóng hoa có khối lượng giảm dần
1,2 Trường Đại học Quảng Bình
Ngày nhận bài: 25/3/2020; Ngày nhận kết quả bình duyệt:
15/5/2020; Ngày chấp nhận đăng: 18/6/2020
Email: diepchi0902@gmail.com
1,2Quang Binh University
Received date: 25th March 2020; Revised date: 15th May
2020; Accepted date: 18th June 2020
qua các tuần theo dõi và chết dần hết cho
đến tuần thứ ba. Như vậy, việc dùng đèn
hồng ngoại làm ấm chuồng nuôi cho hiệu quả
trong việc xây dựng mô hình nhân nuôi thằn
lằn bóng hoa ở điều kiện bán tự nhiên tại
tỉnh Quảng Bình.
Từ khóa: đèn hồng ngoại, thằn lằn
bóng hoa (Eutropis multifasciata), tỉnh
Quảng Bình.
Abstract – This study aimed to determine
the effects of infrared lamps on survival rates
of mature and immature common sun skinks
(Eutropis multifasciata) in semi-natural con-
ditions in Quang Binh Province, Vietnam,
in the cold weather. A sample size of 400
mature (28 weeks old) and 120 immature
common sun skinks were used in a com-
pletely randomized design with two variables
of different lighting methods: infrared and
incandescent light. Suitable food and water
were freely provided. Results showed that
the survival rates of the mature and juvenile
common sun skinks were 82.5% and 39.2%
with infrared light and 30.5% and 0% with
incandescent light. Compared to incandes-
cent light, the growth of young offsprings in
the first 4 weeks after birth was greater with
the infrared light and the average cumulative
89
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 38, THÁNG 6 NĂM 2020 NÔNG NGHIỆP - THỦY SẢN
growth weight reached 2.18 g per individual
by the fourth week. With incandescent light,
common sun skinks lost their weight over
time and gradually died out by the third week.
Thus, infrared light which can be used to
warm up pens may be an effective technique
in raising common sun skinks in semi-natural
conditions in Quang Binh.
Keywords: infrared light, Quang Binh
Province, sun skinks.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thằn lằn bóng hoa (Eutropis multifasciata)
(TLBH), còn gọi là rắn mối (Eutropis multi-
fasciata), là loài bò sát phân bố phổ biến ở
Việt Nam. Thịt TLBH có giá trị cao về dinh
dưỡng, dùng làm thuốc [1]. Tuy nhiên, loài
TLBH phân bố trong tự nhiên với số lượng ít
và đang có xu hướng giảm dần do đánh bắt
và các hoạt động kinh tế khác của con người.
Vì vậy, giải pháp nuôi TLBH trong điều kiện
bán tự nhiên ở nông hộ là giải pháp hay, góp
phần bảo tồn động vật hoang dã, tránh sự
đánh bắt của con người, tránh sự suy thoái
đa dạng sinh học và tạo công ăn việc làm,
nâng cao thu nhập cho người dân.
TLBH là loài bò sát có đặc tính bản địa,
sức đề kháng cao, thích nghi tốt với điều
kiện thời tiết khô nóng. Do đó, hiện nay, tỉnh
Quảng Bình xuất hiện một số hộ nuôi TLBH
tự phát ở điều kiện bán tự nhiên. Trên thực
tế, điều kiện tự nhiên của tỉnh Quảng Bình
có biên độ dao động nhiệt rộng [2], trong
khi đó điều khó khăn nhất khi nuôi TLBH
là việc đảm bảo cho chúng sinh trưởng và
phát triển tốt trong những khoảng thời gian
giá lạnh, vì vậy việc tìm ra kĩ thuật duy trì
nhiệt độ thích hợp nhằm giảm tỉ lệ chết của
TLBH khi nuôi trong điều kiện bán tự nhiên
ở tỉnh Quảng Bình ở giai đoạn mùa đông là
rất quan trọng.
Để nâng cao nhiệt độ chuồng nuôi vào
những thời điểm trời rét, hai loại đèn được
người dân lựa chọn sử dụng nuôi TLBH là
đèn sợi đốt hoặc đèn hồng ngoại chuyên dụng
trong chăn nuôi. Tuy đèn sợi đốt vừa tiết
kiệm chi phí, vừa nâng cao nhiệt độ chuồng
nuôi và dẫn dụ được côn trùng ban đêm làm
thức ăn nhưng nó nhanh bị hỏng. Trong chăn
nuôi, đèn hồng ngoại chuyên dụng có giá
thành đắt hơn nhưng nó bền hơn đèn sợi
đốt, ngoài nâng cao nhiệt độ chuồng nuôi
đèn hồng ngoại còn có nhiều tác dụng khác
như diệt khuẩn, làm sạch môi trường chăn
nuôi. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh
giá ảnh hưởng của đèn hồng ngoại đến khả
năng sinh trưởng phát triển của TLBH ở điều
kiện nuôi bán tự nhiên vào những tháng nhiệt
độ giảm thấp.
II. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Datta-Roy et al. đã nghiên cứu chủng loại
của TLBH châu Á bằng cách sử dụng các
chỉ thị 12S, 16S rRNA ty thể và chỉ thị DNA
nhân. Trong nghiên cứu này, chúng tôi nhận
thấy sự có mặt của TLBH ở Phong Nha –
Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình [3]. Tuy nhiên,
nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng, phát
triển của loài TLBH khi nuôi ở tỉnh Quảng
Bình vẫn chưa nhận thấy.
Các nghiên cứu về TLBH ở Việt Nam chủ
yếu tập trung cơ bản vào việc phân loại học
và mô tả loài, nghiên cứu sự phân bố, các loại
thức ăn. Ngô Đắc Chứng và cộng sự nghiên
cứu về đặc điểm sinh thái học của TLBH ở
vùng núi và trung du tỉnh Thừa Thiên Huế.
Kết quả cho thấy con đực lớn hơn con cái,
chúng là động vật ăn tạp và có tập tính ăn
đồng loại. Phổ thức ăn rộng, thành phần thức
ăn khá đa dạng và phong phú. Loài TLBH
chỉ đẻ 1 lứa/năm từ tháng 3 đến tháng 8 hằng
năm, mỗi lứa có thể đẻ từ ba đến đến tám
con [4].
Khi nghiên cứu đặc điểm sinh sản và tăng
trưởng của TLBH ngoài tự nhiên và trong
điều kiện nuôi, kết quả nghiên cứu của Ngô
Đắc Chứng và cộng sự cho thấy TLBH là
loài noãn thai sinh, đẻ mỗi năm một lứa từ 5
đến 8 con vào các tháng 4 và 5. Con non khi
mới đẻ có chiều dài trung bình 3,87±0,09
mm và khối lượng trung bình 1,26±0,04 g.
Sau bốn tháng, khối lượng trung bình của
90
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 38, THÁNG 6 NĂM 2020 NÔNG NGHIỆP - THỦY SẢN
con non là 7,25 g/con, tăng trung bình 5,96
g/con. Chiều dài thân trung bình là 7,46 cm,
tăng trung bình 3,6 cm/con. Con đực tiêu thụ
thức ăn nhiều hơn con cái. Tổng khối lượng
thức ăn trong mùa khô lớn hơn mùa mưa [4].
Gần đây nhất, Phạm Thị Hồng Dung
nghiên cứu TLBH đầu tiên trong môi trường
nuôi bán tự nhiên có sử dụng bóng nhỏ sợi
đốt thắp sáng nhằm dẫn dụ côn trùng vào ban
đêm tại tỉnh Đồng Nai, kết quả cho thấy khối
lượng thức ăn trung bình của chúng 0,68-
1,71 g/con/ngày, nhu cầu thức ăn 3,73-6,02%
P(g) con/ngày. Khả năng sống sót của TLBH
trưởng thành đạt 70% và con non đạt 25%.
Khối lượng cơ thể TLBH tăng trọng trung
bình tăng 0,6–3,06 g/con/tháng [5]. Vì vậy,
để có nền tảng và cơ sở khoa học toàn diện
và đề xuất được các kĩ thuật nuôi phù hợp
với đối tượng nuôi mới như TLBH trong môi
trường bán tự nhiên cần thêm nhiều nghiên
cứu là điều cần thiết.
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
A. Thời gian và địa điểm
Thời gian thực hiện từ tháng 1 đến tháng
4 năm 2018, tại Vườn Thực nghiệm Nông
Lâm, Khoa Nông – Lâm – Thủy sản, Trường
Đại học Quảng Bình.
B. Vật liệu nghiên cứu
Chuồng trại: Diện tích chuồng trại toàn bộ
thí nghiệm (7 m x 5 m, 5 m x 2,5 m) được
thiết kế bán tự nhiên có mái che 3 m bằng tôn
kẽm Hoa Sen, tường được xây bằng gạch và
tôn. Chuồng có thiết kế hệ thống thoát nước.
Nền chuồng được tráng
1
2
diện tích bằng xi
măng. Đảm bảo chuồng trại luôn khô ráo,
tránh gió lùa, đón được ánh nắng mặt trời
vào buổi sáng. Chuồng nuôi có bố trí gạch
bốn lỗ cho TLBH trú ẩn và leo trèo.
Đèn cung cấp nhiệt: Đèn hồng ngoại sưởi
ấm 100 W chuyên dùng trong thú y; đèn sợi
đốt tròn 100 W, đèn được bố trí giữa chuồng
có thể di động lên xuống tùy theo nhiệt độ
môi trường. Nhiệt kế được treo trên tường
nghiệm thức cách mặt đất 1 m, khoảng cách
từ đèn đến nhiệt kế 1,5 m.
Thức ăn: Gồm tôm tép cỡ nhỏ, thịt cá,
trứng gà, trứng vịt băm nhỏ, lòng lợn cắt nhỏ,
chuối, dưa hấu và dứa, giun đất và dế.
Chế độ ăn uống: Cho ăn và uống nước
tự do.
C. Phương pháp bố trí thí nghiệm
Tổng số 400 TLBH trưởng thành (28 tuần
tuổi) và 120 TLBH con từ 1 đến 4 tuần tuổi
được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với hai
nghiệm thức (nghiệm thức dùng đèn sợi đốt
và nghiệm thức dùng đèn hồng ngoại). Các cá
thể trong từng nghiệm thức còn được chăm
sóc nuôi dưỡng giống nhau. Tỉ lệ con đực
và con cái ở thí nghiệm là 1 : 2, khối lượng
trung bình TLBH bắt đầu thí nghiệm đạt 26,5
g/con.
D. Các chỉ tiêu theo dõi
- Nhiệt độ tại vùng nghiên cứu được đo
bằng nhiệt kế vào hai thời điểm trong ngày
trong suốt thời gian thí nghiệm: 6h sáng và
15h chiều.
- Tỉ lệ nuôi sống bố mẹ qua các tuần tuổi
từ 28 đến 44 tuần tuổi;
- Xác định tỉ lệ nuôi sống con non ở các
thời điểm 1, 7, 14, 21 và 28 ngày;
- Đánh giá khả năng sinh trưởng của
TLBH con qua độ sinh trưởng tích lũy;
- Độ sinh trưởng tích lũy (g/con): Là khối
lượng cơ thể TLBH tại các thời điểm cân.
Khối lượng TLBH con được cân hằng tuần
trước khi cho ăn bằng cân phân tích điện tử
(sai số ± 0,001 g).
E. Phương pháp xử lí số liệu
Số liệu thu thập được tính toán sơ bộ trên
phần mềm Microsoft Excel, sau đó, chúng
tôi xử lí thống kê trên phần mềm Minitab 16;
tính tham số thống kê mô tả (Basic statistics)
và phân tích phương sai (Anova) của các
nghiệm thức.
91
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 38, THÁNG 6 NĂM 2020 NÔNG NGHIỆP - THỦY SẢN
IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
A. Sự biến động yếu tố nhiệt độ môi trường
ở vùng nghiên cứu trong quá trình thí nghiệm
Nhiệt độ môi trường là nhân tố ảnh hưởng
đến mọi hoạt động sinh học của động vật
bao gồm cả sinh sản và sinh trưởng [6].
TLBH là động vật biến nhiệt nên nhiệt độ
cơ thể phụ thuộc rất lớn vào nhiệt độ của
môi trường sống [4], [6], [7]. Kết quả nghiên
cứu cho thấy, biên độ dao động nhiệt tự nhiên
ở vùng thí nghiệm khá rộng và có sự thay đổi
nhiệt độ trong ngày, giữa các tuần, tháng thí
nghiệm. Nhiệt độ trung bình ở các tháng 1, 2,
3 và 4 năm 2018 lần lượt là 21,5oC, 19,2oC,
24,7oC và 25,6oC. Nhiệt độ thấp nhất trong
quá trình thí nghiệm tại vùng nghiên cứu là
14oC và cao nhất là 36oC.
Hình 1: Biến động nhiệt độ trung bình
chuồng nuôi TLBH qua các tuần nghiên cứu
(Nguồn: Kết quả khảo sát của nhóm tác giả)
Nhiệt độ chuồng nuôi có biên độ dao động
nhiệt rộng trong một ngày, giữa các tuần theo
dõi và giữa hai phương thức nuôi sử dụng
đèn. Trong đó, nhiệt độ chuồng nuôi có sử
dụng đèn hồng ngoại (nghiệm thức II) có
mức nhiệt cao và ổn định trung bình khoảng
24-33oC, nhiệt độ trung bình ở chuồng nuôi
sử dụng đèn sợi đốt (nghiệm thức I) là 17-
28oC. Vậy, chuồng của nghiệm thức II có
nhiệt độ cao hơn 5-7oC so với chuồng sử
dụng đèn sợi đốt.
Nghiên cứu tính ẩn nấp và hoạt động của
TLBH ở tỉnh Đồng Nai cho thấy, nhiệt độ
chuồng từ 25oC đến 33oC là tối ưu cho sự
phát triển của TLBH [5]. Điều đó cho thấy
nhiệt độ môi trường tự nhiên ở tỉnh Quảng
Bình ở những tháng đầu năm 2018 chưa thực
sự phù hợp cho TLBH. Trong đó, vào tháng
1-2/2018, vùng nghiên cứu đón nhiều đợt
không khí lạnh, mưa nhiều; sang tháng 3,
nhiệt độ ổn định hơn nhưng đến tháng 4
biên độ nhiệt lại dao động thất thường vì ảnh
hưởng thời tiết cực đoan của khí hậu.
B. Tỉ lệ nuôi sống thằn lằn bóng hoa bố mẹ
Để chống rét trong thời gian thí nghiệm,
nghiệm thức I được bố trí dùng đèn sợi đốt
sưởi ấm và sử dụng rơm lá cành cây khô, kết
hợp với gạch ống, che chắn gió lùa, cho ăn
đầy đủ chất dinh dưỡng. Ở nghiệm thức II,
ngoài các điều kiện chống rét giống nghiệm
thức I, đèn sợi đốt được thay bằng đèn hồng
ngoại làm ấm chuồng vào những ngày thời
tiết dưới 25oC. Kết quả theo dõi tỉ lệ nuôi
sống đàn bố mẹ TLBH thí nghiệm được thể
hiện ở Bảng 1.
Kết quả ở Bảng 1 cho thấy: ở nghiệm thức
I, tỉ lệ sống của TLBH bố mẹ từ 28 đến 44
tuần tuổi khá thấp, tỉ lệ sống cộng dồn cả
thời gian thí nghiệm chỉ đạt 30,5%. Quá trình
theo dõi cho thấy: lượng thức ăn còn thừa
ở nghiệm thức này khá nhiều. TLBH chết
bất thường trong tình trạng dạ dày và ruột
trống, bệnh viêm mắt, đẹ lưỡi, bệnh bại liệt.
Điều này chứng tỏ nhiệt độ môi trường ảnh
hưởng rất lớn đến khả năng tiêu hóa thức ăn
ở TLBH.
Nghiệm thức II có sử dụng đèn hồng
ngoại, tỉ lệ nuôi sống của đàn TLBH bố mẹ
từ 28 đến 44 tuần tuổi khá cao (đạt 82,5%),
số con chết và loại thải không đáng kể (hơn
hẳn nghiệm thức I đến 52%). Nhìn chung, ở
nghiệm thức II, lượng thức ăn thừa còn lại
không đáng kể và phân TLBH thải ra trên
nền chuồng khá nhiều. Điều này chứng tỏ:
do khả năng tiêu hóa của TLBH có sử dụng
đèn hồng ngoại khá tốt nên chúng có sức
đề kháng và chống chịu bệnh cao. Vì vậy,
việc sử dụng đèn hồng ngoại làm ấm chuồng
có hiệu quả khi nuôi TLBH trong độ tuổi
trưởng thành ở điều kiện nuôi bán tự nhiên
92
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 38, THÁNG 6 NĂM 2020 NÔNG NGHIỆP - THỦY SẢN
Bảng 1: Tỉ lệ nuôi sống của TLBH trưởng thành qua các tuần tuổi theo dõi (%)
Tuần tuổi
I (Đèn sợi đốt) n = 200 II (Đèn hồng ngoại n = 200)
Số con
đầu kì (con)
Số con
cuối kì (con)
Tỉ lệ sống (%) Số con
đầu kì (con)
Số con
cuối kì (con)
Tỉ lệ sống (%)
Trong tuần Cộng dồn Trong tuần Cộng dồn
28 tuần 200 194 97,0 97,0 200 195 97,5 97,5
29 tuần 194 188 96,9 94,0 195 191 97,9 95,5
30 tuần 188 176 93,6 88,0 191 188 98,4 94,0
31 tuần 176 166 94,3 83,0 188 185 98,4 92,5
32 tuần 166 154 92,8 77,0 185 182 98,4 91,0
33 tuần 154 143 92,9 71,5 182 180 98,9 90,0
34 tuần 143 130 90,9 65,0 180 176 97,8 88,0
35 tuần 130 120 92,3 60,0 176 174 98,9 87,0
36 tuần 120 106 88,3 53,0 174 169 97,1 84,5
37 tuần 106 95 89,6 47,5 169 167 98,8 83,5
38 tuần 95 87 91,6 43,5 167 165 98,8 82,5
39 tuần 87 80 92,0 40,0 165 165 100 82,5
40 tuần 80 74 92,5 37,0 165 165 100 82,5
41 tuần 74 67 90,5 33,5 165 165 100 82,5
42 tuần 67 63 94,0 31,5 165 165 100 82,5
43 tuần 63 62 98,4 31,0 165 165 100 82,5
44 tuần 62 61 98,4 30,5 165 165 100 82,5
(Nguồn: Kết quả khảo sát của nhóm tác giả)
tại tỉnh Quảng Bình. Nghiên cứu của Phạm
Thị Hồng Dung tiến hành trên TLBH trưởng
thành trong điều kiện nuôi bán tự nhiên ở tỉnh
Đồng Nai đã cho biết TLBH đạt 70% [5], kết
quả này cao hơn nghiệm thức I (dùng đèn sợi
đốt) và thấp hơn nghiệm thức II (sử dụng đèn
hồng ngoại) trong nghiên cứu của chúng tôi.
C. Tỉ lệ nuôi sống và sự sinh trưởng của thằn
lằn bóng hoa con trong bốn tuần tuổi
1) Tỉ lệ nuôi sống của con non trong bốn
tuần đầu sau khi sinh: Để xác định tỉ lệ nuôi
sống và nghiên cứu sự sinh trưởng của con
non, ở nghiệm thức II sau khi con cái sinh
sản, con non được lựa chọn tiếp tục để bố trí
thí nghiệm tương tự như đàn trưởng thành. Vì
thời gian đẻ của TLBH trong thí nghiệm khá
dàn trải nên con non được lấy trong ba ngày
liên tiếp của nghiệm thức đưa vào nghiên
cứu. Tỉ lệ nuôi sống của con non trong bốn
tuần đầu sau khi sinh ở hai nghiệm thức được
trình bày ở Bảng 2.
Bảng 2: Tỉ lệ sống của con non trong bốn
tuần đầu sau khi sinh (%)
Tuần tuổi
I (Đèn sợi đốt)
(n = 60)
II (Đèn hồng ngoại)
(n = 60)
0 tuần 100% 100%
1 tuần (7 ngày) 45,5% 50,9%
2 tuần (14 ngày) 10,2% 47,4%
3 tuần (21 ngày) 0% 40,8%
4 tuần (28 ngày) 0% 39,2%
(Nguồn: Kết quả khảo sát của nhóm tác giả)
Bảng 2 cho thấy, số lượng con non cả hai
nghiệm thức đã giảm mạnh qua các tuần tuổi
theo dõi. Trong tuần đầu tiên ở hai nghiệm
thức, tỉ lệ con non đã giảm số lượng rõ rệt,
số lượng con còn lại chỉ đạt từ 45,5% đến
50,9%. Điều này có thể do trong tuần đầu
tiên sức sống của con non còn rất yếu và các
93
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 38, THÁNG 6 NĂM 2020 NÔNG NGHIỆP - THỦY SẢN
hệ thống giác quan chưa hoàn chỉnh, đặc biệt
là mắt, nên khả năng bắt mồi kém; ngoài ra,
khả năng phòng vệ của TLBH con còn thấp.
Vì vậy, TLBH con dễ bị tấn công ngay cả
bởi dế con (thức ăn động của TLBH con).
Qua ba tuần tiếp theo, ở nghiệm thức II,
số lượng TLBH con giảm đi không đáng kể,
tỉ lệ nuôi sống ổn định dần đạt 39,2% ở tuần
thứ tư. Nhưng ở nghiệm thức I, số lượng con
non còn 0% tại tuần thứ ba theo dõi. Điều này
chứng tỏ rằng, việc sử dụng đèn hồng ngoại
sưởi ấm đã làm tăng tỉ lệ sống của TLBH giai
đoạn bốn tuần tuổi, điều này góp phần nâng
cao khả năng sản xuất và hiệu quả kinh tế
cho nghề nuôi TLBH. Nghiên cứu Phạm Thị
Hồng Dung [5] đã cho thấy TLBH non đạt
25%, kết quả này thấp hơn kết quả ở nghiệm
thức II có sử dụng đèn hồng ngoại, nhưng
cao hơn ở nghiệm thức I dùng đèn sợi đốt.
Sự chênh lệch này là do việc sử dụng bóng
đèn hồng ngoại sưởi ấm cho TLBH con và
đàn bố mẹ khi nhiệt độ môi trường giảm
thấp hoặc những ngày trời không nắng, đây
cũng là kĩ thuật khá quan trọng khi thực hiện
chăn nuôi TLBH sinh sản ở tỉnh Quảng Bình,
nơi có thời tiết cực đoan và có biên độ dao
động nhiệt lớn. Bởi tia hồng ngoại giúp động
vật biến nhiệt như TLBH nâng cao nhiệt độ
cơ thể, tăng cường trao đổi chất giúp tiêu
hóa thức ăn. Vì vậy, TLBH sử dụng được
nhiều thức ăn hơn, sức sống và sức đề kháng
cao hơn.
Thí nghiệm cho thấy: nếu nhiệt độ trong
ngày thấp (dưới 25oC) thì số lượng con non
chết nhiều ở cuối ngày đó và ở ngày hôm sau.
Ngược lại, với biên độ nhiệt cao, số con non
chết giảm dần, thậm chí là không có con chết.
Điều này cũng phù hợp với nhận định của
Ngô Đắc Chứng và Phạm Thị Hồng Dung
khi nghiên cứu cùng đối tượng đã cho thấy
nhiệt độ chuồng nuôi từ 25oC đến 33oC là
tối ưu cho sự phát triển của TLBH [5]. Từ đó
cho thấy: TLBH là loài ưa nhiệt, chúng tồn
tại phát triển ở nền nhiệt độ cao. Vì vậy, khi
nhân nuôi TLBH ở điều kiện bán tự nhiên,
ta nên đảm bảo nhiệt độ chuồng trại luôn ở
mức ổn định và phù hợp với đặc điểm sinh
lí TLBH bằng cách tạo nhiệt nhân tạo.
2) Sự sinh trưởng của con non trong bốn
tuần đầu sau khi sinh: Đối với động vật biến
nhiệt, nhiệt độ xuống thấp làm thân nhiệt
của động vật giảm theo, khi đó các quá trình
chuyển hoá trong cơ thể như tiêu hóa thức ăn,
sản xuất dịch vị, hormon, khả năng kiếm ăn
giảm, thậm chí bị rối loạn, vì thế, quá trình
sinh trưởng và phát triển chậm lại. Ngược
lại, nền nhiệt độ cao khiến các hoạt động
sống của chúng được tăng lên, do đó, sự
sinh trưởng và phát triển được tăng cao. Khối
lượng sinh trưởng của con non trong bốn tuần
đầu sau khi sinh ở hai nghiệm thức I và II
được trình bày ở Bảng 3.
Bảng 3: Khối lượng sinh trưởng tích lũy trung
bình của TLBH con trong bốn tuần đầu sau
khi sinh (g)
Tuần tuổi
Nghiệm thức
P
I (Đèn sợi đốt)
(M±SEM)
(n=60)
II (Đèn hồng ngoại)
(M±EM)
(n=60)
0 tuần
(1 ngày)
0,86±0,01 0,85±0,01 0,86
1 tuần
(7 ngày)
0,83±0,03 0,90±0,02 0,00
2 tuần
(14 ngày)
0,73±0,05 1,23±0,04 0,03
3 tuần
(21 ngày)
* 1,68±0,08 *
4 tuần
(28 ngày)
* 2,18±0,08 *
Ghi chú: M: Số trung bình; SEM: Sai số của số
trung bình; n: số cá thể TLBH con theo dõi; P:
xác suất, giá trị trung bình sai khác có ý nghĩa
thống kê khi P<0,05.
(Nguồn: Kết quả tính toán của nhóm tác giả)
Khối lượng sơ sinh trung bình (1 ngày tuổi)
trong thí nghiệm này là 0,85–0,86 g/con, kết
quả này tương đương với nghiên cứu của
Phạm Thị Hồng Dung [5], (giá trị trung
bình 0,84 g/con). Nghiên cứu của Ngô Đắc
Chứng và cộng sự [4], nếu TLBH sơ sinh có
khối lượng trung bình 1,26 g/con thì kết quả
94
TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH, SỐ 38, THÁNG 6 NĂM 2020 NÔNG NGHIỆP - THỦY SẢN
nghiên cứu này thấp hơn. Sự khác biệt này
có thể do sự khác nhau về điều kiện sống.
Bảng 3 cho ta thấy, ở nghiệm thức I, khối
lượng tích lũy của TLBH con không tăng
mà giảm dần qua các tuần theo dõi, đến tuần
thứ ba, tất cả các cá thể bị chết. Trong khi ở
nghiệm thức II, khối lượng sinh trưởng tích
lũy của TLBH con tăng liên tục theo thời
gian nuôi và đạt 2,18 g/con lúc bốn tuần tuổi.
Trong đó, khối lượng tăng cao nhất vào tuần
thứ tư với 0,5 g/cá thể/tuần, thấp nhất vào
tuần thứ nhất chỉ đạt 0,05 g/cá thể/tuần. Sự
khác nhau này cho thấy bước sang tuần thứ
ba và thứ tư, ngoài dế con làm thức ăn động,
TLBH đã ăn được thức ăn tĩnh được băm nhỏ
giống như bố mẹ nó. Điều này chứng tỏ, nếu
việc cho TLBH con làm quen với thức ăn
tĩnh sớm và chúng chỉ cần vượt qua hai tuần
đầu tiên thì tốc độ sinh trưởng của con non
phát triển tốt ở tuần tiếp theo.
V. KẾT LUẬN
Biên độ nhiệt dao động khá rộng trong
điều kiện không dùng đèn hồng ngoại úm
chưa thích hợp cho sự thích nghi, sinh trưởng
và phát triển của TLBH.
Tỉ lệ sống của TLBH trưởng thành từ 28
đến 44 tuần tuổi không đèn hồng ngoại đạt
30,5%, có đèn hồng ngoại đạt 82,5%.
Tỉ lệ nuôi sống của con non trong bốn tuần
tuổi ở nghiệm thức dùng đèn hồng ngoại cho
kết quả 39,2%, trong khi nghiệm thức không
đèn hồng ngoại là 0%.
Ở nghiệm thức dùng đèn hồng ngoại, khối
lượng sinh trưởng tích lũy trung bình đạt 2,18
g/con ở tuần thứ 4 với 0,5 g/cá thể/tuần.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đỗ Tất Lợi. Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam.
Nhà Xuất bản Y học và Thời đại; 2009. 1024–1025.
[2] Cục Thống kê Quảng Bình. Niên giám thống kê tỉnh
Quảng Bình 2016; 2017.
[3] Aniruddha Datta-Roy, Mewa Singh, C.Srinivasulu,
K. PraveenKaranth. Phylogeny of Asian Eutropis
(Squamata: Scincidae) reveals an ‘into India’ endemic
Indian radiation. Molecular Phylogenetics and Evolu-
tion. 2012;63(3):817-824.
[4] Ngô Đắc Chứng, Nguyễn Thị Trường Thi, Phùng Thị
Huyền Trang. Đặc điểm sinh sản và tăng trưởng của
Thằn lằn bóng đuôi dài Eutropis longicaudatus (Hal-
lowell, 1856), Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifas-
ciatus (Kuhl, 1820) (Reptilia, Squamata, Scincidae).
Báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật,
Hội thảo Khoa học Toàn quốc lần thứ 6. 2015:1293-
1299.
[5] Phạm Thị Hồng Dung. Nghiên cứu nuôi Thằn lằn
bóng đuôi dài Eutropis longicaudatus (Hallowell,
1856) và Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifasciatus
(Kuhl, 1820) trong điều kiện bán tự nhiên ở Đồng
Nai [Luận văn Thạc sĩ]. Trường Đại học Sư phạm
Huế. 2017.
[6] Trần Kiên, Hoàng Đức Nhuận, Mai Sỹ Tuấn. Sinh thái
học và môi trường. Nhà Xuất bản Giáo dục; 2000.
[7] Lê Thắng Lợi, Ngô Đắc Chứng. Một số đặc điểm
sinh học, sinh thái của hai loài Thằn lằn bóng
giống Mabuya Fitzinger, 1826 (M. longicaudata, M.
multifasciata) ở Thừa Thiên Huế. Hội thảo Quốc gia
về Lưỡng cư và Bò sát ở Việt Nam lần thứ Nhất. Nhà
Xuất bản Đại học Huế; 2009:225-232.
95
Các file đính kèm theo tài liệu này:
anh_huong_cua_viec_su_dung_den_hong_ngoai_len_ti_le_song_cua.pdf