Kết quả ở bảng 5 cũng cho thấy, năng suất thực
thu ở các công thức bón vôi đã cao hơn so với đối
chứng không bón (sự khác biệt so ý nghĩa thống kê
với α = 0,05). Tuy nhiên, ở 3 công thức bón 300 kg/ha
CaO, 100 và 500 kg/ha vôi hữu cơ, sự khác biệt lại
không có ý nghĩa thống kê. Trong đó, công thức
bón 300 kg/ha vôi hữu cơ cho kết quả cao nhất, đạt
1,56 tấn/ha, cao hơn các công thức khác (sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê với α = 0,05).
Theo nghiên cứu của Hakim (2008) tại Trung tâm
nghiên cứu và phát triển cây lương thực Indonesia
cho thấy số quả/cây và chiều cao cây có tương quan
thuận với năng suất hạt, nhưng kích thước hạt tương
quan nghịch với năng suất hạt. Ảnh hưởng trực tiếp
của số quả trên cây và chiều cao cây đến năng suất
hạt có hệ số cao nhất. Theo tác giả số lượng quả trên
cây và chiều cao cây có thể được sử dụng làm tiêu chí
lựa chọn trong chương trình chọn giống đậu xanh.
Ngoài ra nghiên cứu của Khajudparn và Tantasawat
(2011) cũng cho thấy năng suất hạt có tương quan
thuận và khá chặt với số quả/cây, số chùm quả/cây,
chất khô tổng số (TDM), số hạt/quả, số hạt/cây, chỉ
số diện tích lá (LAI) và số cành/cây. Trong khi đó,
năng suất hạt có tương quan nghịch với số ngày
từ gieo đến chín. Theo Khajudparn và Tantasawat
(2011) mức độ ảnh hưởng trực tiếp của một số yếu
tố đến năng suất hạt xếp theo thứ tự là: Số chùm
quả/cây, khối lượng 100 hạt, số hạt/quả, TDM và
số quả/cây. Như vậy, số chùm quả/cây, số hạt/quả,
TDM và số quả/cây nên được sử dụng làm tiêu chí
lựa chọn để cải thiện năng suất ở đậu xanh. Theo
Vũ Ngọc Thắng và cộng tác viên (2019), hệ số tương
quan giữa số quả trên cây với năng suất hạt của đậu
xanh có thể đạt r = 0,622 (hệ số tương quan cao nhất
trong các tính trạng đã được nghiên cứu). Như vậy,
bón vôi hữu cơ ở liều lượng 300 kg/ha đã làm tăng
rõ rệt số quả/cây và là nguyên nhân chính làm tăng
năng suất cá thể, năng suất lý thuyết và năng suất
thực thu so với không bón và bón CaO hoặc vôi hữu
cơ ở liều lượng khác trong nghiên cứu này.
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 41 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của vôi hữu cơ từ bột vỏ trứng đến sinh trưởng và năng suất giống đậu xanh ĐX14 trồng vụ đông tại Gia Lâm, Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
21
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 6(115)/2020
1 Học viện Nông nghiệp Việt Nam; 2 Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm
ẢNH HƯỞNG CỦA VÔI HỮU CƠ TỪ BỘT VỎ TRỨNG
ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG ĐẬU XANH ĐX14
TRỒNG VỤ ĐÔNG TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI
Nguyễn Xuân Đài1, Trần Anh Tuấn1, Vũ Ngọc Thắng1,
Nguyễn Ngọc Quất2, Lê Thị Tuyết Châm1
TÓM TẮT
Ở Việt Nam, để phát triển cây đậu xanh (Vigna radiate L. wilczek) thành cây trồng chính trong vụ Đông, ngoài
công tác chọn tạo giống cần kết hợp với sử dụng các biện pháp kỹ thuật hợp lý cho canh tác trong điều kiện nhiệt độ
thấp và nước hạn chế. Các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy bột vỏ trứng là phân bón chứa calcium tốt nhất trên
một số cây trồng, nhất là trong điều kiện bất thuận nhưng tại Việt Nam còn ít nghiên cứu tương tự được công bố. Bài
báo này trình bày ảnh hưởng của bột vỏ trứng do công ty Green Techno21 (Nhật Bản) sản xuất đến sinh trưởng và
năng suất của giống đậu xanh ĐX14 trồng vụ Đông 2019. Thí nghiệm gồm 05 công thức: Đối chứng không bón vôi;
bón 300 kg/ha CaO; 100, 300 và 500 kg/ha bột vỏ trứng. Kết quả cho thấy, sử dụng vôi hữu cơ từ vỏ trứng đã làm tăng
sinh trưởng và một số chỉ tiêu sinh lý của cây đậu xanh giống ĐX14 trồng trong vụ Đông như tăng chiều cao, diện
tích lá, chỉ số diệp lục (SPAD), khả năng tích lũy chất khô so với đối chứng không bón hoặc bón vôi CaO. Tuy nhiên,
sử dụng bột vỏ trứng không làm tăng đường kính thân, số cành, số lá so với bón vôi thường CaO. Sử dụng vôi hữu
cơ từ vỏ trứng có ảnh hưởng tốt đến các yếu tố cấu thành năng suất và cho năng suất cao hơn so với đối chứng không
bón vôi và bón vôi thường CaO. Trong đó, liều bón 300 kg/ha bột vỏ trứng cho hiệu quả tốt nhất trên giống đậu
xanh ĐX14 ở chỉ tiêu số quả/cây, qua đó đã cho năng suất cao hơn so với đối chứng không bón vôi, bón 300 kg/ha
CaO hoặc bón bột vỏ trứng ở 100 và 500 kg/ha với năng suất cá thể đạt 12,26 g/cây, năng suất lý thuyết 3,07 tấn/ha
và năng suất thực thu đạt 1,56 tấn/ha.
Từ khóa: Đậu xanh, vụ Đông, vôi hữu cơ, vỏ trứng
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở Việt Nam, cây đậu xanh (Vigna radiate L.
Wilczek) hiện chưa được coi là một trong những cây
trồng chính trong vụ Đông mà chỉ được gieo trồng
trong vụ Xuân và vụ Hè. Trong khi đó, diện tích đất
trồng cây vụ Đông sau hai vụ lúa rất lớn nhưng vẫn
chưa có cây trồng chủ lực có thể mang lại hiệu quả
kinh tế cao. Lý do chính chưa phát triển được cây
đậu xanh vụ Đông là chưa có giống đậu xanh thích
ứng với vụ Đông và biện pháp kỹ thuật phù hợp
(Đỗ Thị Hải Vân và ctv., 2019). Những năm qua, cây
đậu xanh đã được chú ý nghiên cứu để phát triển
trồng vụ Đông. Đã có các giống đậu xanh được chọn
tạo và khảo nghiệm như ĐX11, ĐX14 cho thấy có
thể thích hợp trồng vụ Đông ở miền Bắc (Đỗ Thị Hải
Vân và ctv., 2019). Tuy nhiên, song song với công
tác chọn tạo giống cần kết hợp với sử dụng các biện
pháp kỹ thuật hợp lý (Đỗ Thị Hải Vân, 2019). Các
nghiên cứu về vai trò của Ca liên quan đến cơ chế
và ứng dụng làm tăng khả năng chịu lạnh ở thực vật
cũng đã được thực hiện. Báo cáo của Nguyễn Thị
Phương Dung và Trần Anh Tuấn (2017) cho thấy có
thể xử lý calcium ngoại sinh để làm tăng khả năng
chống chịu của cây đậu đũa.
Như vậy, việc sử dụng các hợp chất có nguồn gốc
tự nhiên sẵn có giàu calcium để nâng cao khả năng
chịu lạnh của đậu xanh là cần thiết. Trong khi đó,
nguồn vỏ trứng là vật liệu rất giàu calcium dễ tiêu có
nguồn gốc hữu cơ đã được sử dụng rộng rãi trên thế
giới để giảm tác hại của các yếu tố stress. Nghiên cứu
của Almaroai và cộng tác viên (2014) đã cho thấy, sử
dụng bột vỏ trứng đã làm tăng sinh trưởng của cây
ngô trong điều kiện đất nhiễm chì (Pb). Các nghiên
cứu của Kim và cộng tác viên (RogYoung Kim et al.,
2010) đã chỉ ra rằng sử dụng bột vỏ trứng làm phân
bón rất hiệu quả. Điều này là do vỏ trứng có chứa
calcium đã làm tăng hoặc trung hòa độ pH của đất
quá chua. Ngoài ra vỏ trứng chứa nhiều nguyên tố
vi lượng và các axit amin, có thể được sử dụng như
phân bón hữu cơ và chất cải tạo đất thay thế cho
bón vôi. Nghiên cứu của Gaonkar và Chakraborty
(2016) cũng cho thấy bột vỏ trứng là phân bón chứa
calcium tốt nhất trên cà chua và một số cây trồng
khác. Hiện tại Việt Nam hiện đã có nghiên cứu bước
đầu về ứng dụng bón vỏ trứng cho canh tác đậu đỗ,
cho thấy sự hiệu quả làm tăng sinh trưởng và năng
suất (Nguyễn Thị Thu Thủy và ctv., 2020). Từ những
lý do trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu sử dụng
bột vỏ trứng cho canh tác đậu xanh trong vụ Đông.
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
2.1. Vật liệu nghiên cứu
Giống đậu xanh ĐX14 do Trung tâm Nghiên cứu
và Phát triển Đậu đỗ cung cấp được sử dụng trong
nghiên cứu này.
22
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 6(115)/2020
Bột vỏ trứng (calcium hữu cơ) làm từ nguyên
liệu 100% vỏ trứng do Công ty Green Techno21
(Japan) sản xuất và cung cấp. Thành phần chủ yếu
theo bảng 1.
Bảng 1. Các thành phần có trong bột calcium hữu cơ làm từ vỏ trứng
Thành phần chủ yếu Amino axit (trên 100 g protein)
Độ ẩm 1,57% Fe 0,017% Arginine 151 mg Alanine 96 mg
N 0,74% Cu 0,0002% Lysine 68 mg Glysin 152 mg
P2O5 0,26% Zn 0,0001% Histidine 96 mg Burorin 118 mg
K2O 0,08% Mo 0,0001% Phenylalanine 41 mg Glutamate 241 mg
Ca(CO3)2 88,08% Ni ≥ 0,0002% Tyrosine 52 mg Serine 111 mg
Mg-citrate 0,57% Cr ≥ 0,001% Leusine 109 mg Threonine 97 mg
Alkalinity 50,18% Ti ≥ 0,01% Isoleusine 62 mg Aspartate 157 mg
Mn-citrate 0,01% Protein 2,1% Methionine 42 mg Tryptophan 46 mg
B-citrate ≥ 0,002% pH 10,1 Valine 124 mg Cystein 60 mg
Nguồn: Công ty Green Techno21 (Japan) phân tích và cung cấp số liệu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối
ngẫu nhiên hoàn chỉnh với 3 lần nhắc lại. Diện tích ô
tích nghiệm là 6 m2 (5 m ˟ 1,2 m); khoảng cách gieo
hạt: hàng cách hàng 50 cm, hốc cách hốc 20 cm; gieo
4 - 5 hạt/hốc (sau khi cây lên tỉa để 2 cây/hốc); mật
độ 25 cây/m2.
Phân bón cho 1 ha: N : P2O5 : K2O tỷ lệ 40 : 60 : 40.
Lượng vôi bón tương đương với 5 công thức sau:
CT1: Đối chứng không bón vôi hữu cơ hoặc vôi bột;
CT2: Bón 300 kg/ha vôi bột (CaO); CT3: Bón 100
kg/ha bột vỏ trứng (calcium hữu cơ); CT4: Bón 300
kg/ha bột vỏ trứng (calcium hữu cơ); CT5: Bón 500
kg/ha bột vỏ trứng (calcium hữu cơ).
Quy trình kỹ thuật chăm sóc: Theo quy trình kỹ
thuật canh tác đậu xanh tổng hợp cho các tỉnh phía
Bắc (Ban hành kèm theo Quyết định số 252/QĐ-
KHCN ngày 14/3/2014 của Giám đốc Viện Khoa
học Nông nghiệp Việt Nam).
2.2.2. Phương pháp theo dõi, đánh giá
Theo quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về khảo
nghiệm giá trị canh tác và sử dụng giống đậu xanh
(QCVN 01-62:2011/BNNPTNT).
2.2.3. Các chỉ tiêu theo dõi
- Các chỉ tiêu sinh trưởng: Chiều cao thân chính
(cm); tổng số lá trên thân chính (lá); số cành cấp 1,
số cành cấp 2 (cành); đường kính thân (mm).
- Các chỉ tiêu sinh lý (số mẫu n = 10 cây) bao gồm:
Diện tích lá (dm2/cây) được xác định ở giai đoạn ra
hoa rộ (RHR) bằng cách chụp ảnh bằng máy ảnh kỹ
thuật số, sau đó sử dụng phần mềm Image J để phân
tích (LOCI, University of Wisconsin, USA); chỉ số
hàm lượng diệp lục (được đo bằng máy SPAD502,
Japan), khối lượng chất khô (g/cây) của cây ở giai
đoạn thu quả lần 1 (TQL1) xác định bằng cách sấy
đến khối lượng không đổi ở 85°C.
- Các chỉ tiêu năng suất và yếu tố cấu thành năng
suất: Số quả/cây (quả); chiều dài quả (cm); số hạt/
quả (hạt); khối lượng 1000 hạt (g); năng suất cá thể
(g/cây), năng suất lý thuyết (tấn/ha), năng suất thực
thu (tấn/ha).
2.2.4. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được phân tích, xử lý bằng Excel và phần
mềm thống kê SPSS ver. 22.
2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ tháng 9 đến tháng 12
năm 2019 tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam - Gia
Lâm, Hà Nội.
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Ảnh hưởng của lượng vôi bón đến sinh trưởng
của giống đậu xanh ĐX14 trồng vụ Đông
Kết quả nghiên cứu cho thấy, đường kính thân
ở các công thức dao động từ 7,9 - 8,7 mm. Trong
đó thấp nhất ở công thức đối chứng không bón vôi
(Bảng 2). Tuy nhiên, giữa các công thức đối chứng,
bón 300 kg/ha CaO, 100 và 500 kg/ha vôi hữu cơ
mặc dù có sự sai khác nhưng không có ý nghĩa thống
kê với α = 0,05. Công thức bón 300 kg/ha vôi hữu cơ
cho chỉ tiêu đường kính thân cao nhất đạt 8,7 mm.
Điều này cho thấy, bón vôi đã làm tăng sự đường
kính thân và mức độ tăng đường kính thân tăng
theo lượng vôi bón (từ 100 - 300 kg/ha). Khi bón vôi
hữu cơ đến 500 kg/ha có thể vượt quá mức thích hợp
nên đường kính thân lại giảm so với bón 300 kg/ha.
23
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 6(115)/2020
Chỉ tiêu về số cành cấp 1, cấp 2 ở bảng 2 cho thấy
mặc dù có sự sai khác nhưng không có ý nghĩa thống
kê (α = 0,05) giữa các công thức có bón vôi có hàm
lượng khác nhau và với đối chứng không bón vôi.
Như vậy, chỉ tiêu số cành là một đặc trưng của giống
và ít bị ảnh hưởng của điều kiện chăm sóc nên bón
CaO hoặc bột vỏ trứng đã không tác động có ý nghĩa
đến khả năng phân cành.
Kết quả về ảnh hưởng của lượng vôi bón đến
chiều cao cây (bảng 3) cho thấy bón vôi đã làm tăng
chiều cao cây so với đối chứng không bón (sự khác
biệt có ý nghĩa ở mức α = 0,05). Trong đó, chiều cao
cây của công thức bón 300 kg/ha vôi hữu cơ cao nhất,
đạt 66,94 cm/cây. Tuy nhiên giữa công thức bón
300 kg/ha vôi thường (CaO) và 500 kg/ha vôi hữu
cơ, sự khác biệt lại không có ý nghĩa thống kê. Giữa
công thức bón 100 và 300 kg/ha vôi hữu cơ, sự khác
biệt về chiều cao cây cũng không có ý nghĩa thống
kê. Kết hợp kết quả này với kết quả đã trình bày ở
bảng 2 ở trên cho thấy, bón bột vỏ trứng đã có tác
động tích cực đến sinh trưởng của thân cây đậu
xanh ĐX14 trồng vụ Đông; khi bón bột vỏ trứng ở
300 kg/ha đã làm tăng đường kính thân so với không
bón và bón vôi thường (CaO) qua đó có thể làm cây
cứng hơn. Điều này có thể trong bột vỏ trứng có
chứa nhiều vi lượng và axit amin cần thiết cho sự
sinh trưởng của cây. Kết quả ở bảng 3 cũng cho thấy
chỉ tiêu số lá ở các công thức thí nghiệm dao động
từ 12,8 - 14 lá/cây. Tuy nhiên sự khác biệt này không
có ý nghĩa thống kê. Như vậy, bón vôi thường và vôi
hữu cơ với hàm lượng khác nhau đã không có ảnh
hưởng có ý nghĩa tới chỉ tiêu số lá/cây.
Bảng 2. Ảnh hưởng của lượng vôi bón
đến đường kính thân và số cành giống đậu xanh ĐX14
Lượng vôi
bón/ha
Đường
kính thân
(mm)
Số cành
cấp 1
(cành)
Số cành
cấp 2
(cành)
ĐC 7,9 ± 0,1a 1,2 ±0,1a 0,5 ±0,2a
300 kg CaO 8,3 ± 0,1ab 1,3 ±0,2a 0,6 ±0,2a
100 kg
vôi hữu cơ 8,0 ± 0,1
a 1,5 ±0,2a 0,6 ±0,2a
300 kg
vôi hữu cơ 8,7 ± 0,2
b 1,4 ±0,2a 0,8 ±0,1a
500 kg
vôi hữu cơ 8,1 ± 0,2
a 1,1 ±0,1a 0,7 ±0,2a
Ghi chú: Số liệu được phân tích ANOVA theo phương
pháp Duncan’s Multiple Range Test. Giá trị được trình
bày là giá trị trung bình (mean) ± SE (standard error) với
số mẫu (n) = 10, các giá trị trong cùng cột có số mũ khác
nhau thì khác nhau có ý nghĩa với α = 0,05.
Bảng 3. Ảnh hưởng của lượng vôi bón
đến chiều cao và số lá của giống đậu xanh ĐX14
Lượng vôi bón/ha Chiều cao (cm/cây)
Số lá
(lá/cây)
ĐC 63,71 ± 0,44a 12,8 ± 0,2a
300 kg CaO 65,42 ± 0,30b 13,8 ± 0,2a
100 kg vôi hữu cơ 67,97 ± 0,24c 13,5 ± 0,2a
300 kg vôi hữu cơ 66,94 ± 0,64c 14,0 ± 0,2a
500 kg vôi hữu cơ 65,09 ± 0,16b 13,5 ± 0,2a
Ghi chú: Số liệu được phân tích ANOVA theo phương
pháp Duncan’s Multiple Range Test. Giá trị được trình
bày là giá trị trung bình (mean) ± SE (standard error) với
số mẫu (n) = 10, các giá trị trong cùng cột có số mũ khác
nhau thì khác nhau có ý nghĩa với α = 0,05.
3.2. Ảnh hưởng của lượng vôi bón đến một số chỉ
tiêu sinh lý của cây đậu xanh ĐX14
Kết quả trình bày trong bảng 4 cho thấy bón
300 kg/ha CaO và 100 - 300 kg/ha vỏ trứng có diện
tích lá dao động từ 14,33 - 15,15 dm2/cây, cao hơn hẳn
so với đối chứng không bón ở mức ý nghĩa α = 0,05.
Bón 500 kg/ha bột vỏ trứng cũng cho diện tích lá đạt
14,22 dm2/cây cao hơn đối chứng (13,87 dm2/cây)
nhưng sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê. Kết quả
cũng cho thấy bón bột vỏ trứng từ 300 -500 kg/ha
đã làm tăng hàm lượng diệp lục (xác định qua chỉ
số SPAD) so với đối chứng không bón (sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê với α = 0,05). Bón 300 kg/ha
CaO và 100 kg/ha vôi hữu cơ cũng làm tăng chỉ số
hàm lượng diệp lục so với đối chứng không bón vôi
nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.
Bảng 4. Ảnh hưởng của lượng vôi bón
đến diện tích lá, chỉ số diệp lục và khối lượng khô
giai đoạn TQL1 của cây đậu xanh ĐX14
Lượng vôi
bón/ha
Diện tích lá
RHR
(dm2/cây)
Hàm
lượng diệp
lục RHR
(SPAD)
Khối
lượng khô
TQL1
(g/cây)
ĐC 13,87 ± 0,14a 51,51 ± 0,10a 10,5 ± 0,8a
300 kg CaO 14,33 ± 0,08b 52,18 ± 0,15a 15,5 ± 0,6bc
100 kg
vôi hữu cơ 14,37 ± 0,09
b 52,18 ± 0,11a 11,1 ± 0,4a
300 kg
vôi hữu cơ 15,18 ± 0,11
c 54,73 ± 0,29c 17,7 ± 1,3c
500 kg
vôi hữu cơ 14,22 ± 0,19
ab 53,59 ± 0,39b 15,3 ± 0,6b
Ghi chú: Số liệu được phân tích ANOVA theo phương
pháp Duncan’s Multiple Range Test. Giá trị được trình
bày là giá trị trung bình (mean) ± SE (standard error) với
số mẫu (n) = 10, các giá trị trong cùng cột có số mũ khác
nhau thì khác nhau có ý nghĩa với α = 0,05.
24
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 6(115)/2020
Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng tốc độ hình
thành lá kép trên cây đậu xanh tùy thuộc vào giống,
thời vụ gieo trồng và kỹ thuật canh tác. Trên các
giống đậu xanh ra hoa không tập trung, số lượng lá
kép và độ bền của lá trong giai đoạn thu quả lần 1
có tương quan với số quả và năng suất hạt trong các
đợt thu kế tiếp. Như vậy cơ sở làm tăng sản lượng
cho đậu xanh ở các lứa hái muộn là giữ ổn định
diện tích lá và duy trì khả năng quang hợp tốt của
cây trong thời gian thu hoạch. Do đó, với các giống
ra hoa không tập trung cần áp dụng các biện pháp
kỹ thuật như phun phân bón qua lá, phòng trừ sâu
bệnh, tưới nước bổ sung trong điều kiện bất thuận
cho cây sau mỗi đợt thu quả... để kéo dài tuổi thọ của
bộ lá trên cây đậu xanh trong thời gian thu hoạch là
tiền đề làm tăng năng suất cho đậu xanh (Vũ Ngọc
Thắng và ctv., 2019). Như vậy, bón vôi hữu cơ làm
từ vỏ trứng đã cung cấp vi lượng, các axit amin cho
cây giúp phát triển và duy trì bộ lá tốt hơn so với đối
chứng không bón. Trong đó bón 300 kg/ha vôi hữu
cơ từ vỏ trứng có tác dụng tốt nhất đến phát triển
diện tích lá và hàm lượng diệp lục của lá ở cây đậu
xanh ĐX14 trồng vụ đông.
Kết quả ở bảng 4 cũng cho thấy bón vôi từ
300 - 500 kg/ha đã làm tăng mạnh hàm lượng chất
khô (đạt từ 15,3 - 17,7 g/cây) của cây đậu xanh ĐX14
trồng vụ đông so với đối chứng không bón (chỉ đạt
10,5 g/cây) với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở
mức α = 0,05. Bón 100 kg/ha vôi hữu cơ cũng làm
tăng khối lượng khô của cây so với đối chứng không
bón nhưng sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê.
Theo Vũ Ngọc Thắng và cộng tác viên (2019), hoạt
động của hệ thống lá không chỉ phụ thuộc vào kích
thước lá mà còn phụ thuộc vào tốc độ hình thành và
sự già hóa của lá. Như vậy, bón vôi hữu cơ đã giúp
duy trì diện tích lá và làm tăng khả năng tích lũy chất
khô ở nghiên cứu này.
3.5. Ảnh hưởng của lượng vôi bón đến các yếu tố
cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu
xanh ĐX14
Kết quả trình bày trong bảng 5 cho thấy bón vôi
đã làm tăng số quả/cây (đạt 18,6 - 19,7 quả/cây) so
với đối chứng không bón vôi (chỉ đạt 17,3 quả/cây)
với mức ý nghĩa thống kê α = 0,05. Trong các công
thức bón vôi, giữa công thức bón 300 kg/ha CaO và
100 kg/ha vỏ trứng thì sự khác biệt không có ý nghĩa
thống kê; Công thức cho số quả cao nhất là bón 300
kg/ha vỏ trứng, tuy nhiên giữa 2 công thức bón 300
và 500 kg/ha vỏ trứng sự khác biệt về số quả/cây cũng
không có ý nghĩa thống kê. Kết quả vể chiều dài quả
ở bảng 5 cho thấy giữa các công thức bón vôi ở liều
lượng khác nhau và so với đối chứng không bón lại
có sự sai khác nhỏ nhưng không có ý nghĩa thống kê.
Tương tự, về số hạt/quả và khối lượng 1000 hạt cũng
có sự khác biệt giữa các công thức nhưng không có
ý nghĩa thống kê. Như vậy, bón bột vỏ trứng có thể
cung cấp các yếu tố vi lượng và axit amin nên đã có
tác động tốt đến sự ra hoa, đậu quả nhưng sự ảnh
hưởng đến các chỉ tiêu chiều dài quả, số hạt/quả và
khối lượng 1000 hạt không rõ rệt.
Kết quả về năng suất cá thể cho thấy ở các công
thức bón vôi (đạt 10,13 - 12,26 g/cây) cao hơn so
với đối chứng không bón (chỉ đạt 9,99 g/cây). Tuy
nhiên, năng suất cá thể chỉ tăng khi bón ở 100-300
kg/ha, khi tăng liều lượng bón đến 500 kg/ha lại làm
năng suất giảm hơn so với bón 300 kg/ha. Ngoài ra,
sự khác biệt về năng suất cá thể khi bón vôi hữu cơ
ở 100 và 500 kg/ha so với bón vôi thường (CaO) lại
không có ý nghĩa thống kê. Như vậy, bón 300 kg/
ha vôi hữu cơ cho năng suất cá thể đạt cao nhất ở
nghiên cứu này. Kết quả cũng tương tự ở năng suất
lý thuyết, khi chỉ có công thức bón 300 kg/ha vỏ
trứng cho năng suất cá thể cao nhất, đạt 3,07 tấn/ha
(sự khác biệt so với công thức khác có ý nghĩa thống
kê ở α = 0,05).
Bảng 5. Ảnh hưởng của lượng vôi bón đến các yếu tố
cấu thành năng suất và năng suất của cây đậu xanh ĐX14
Lượng vôi
bón/ha
Số quả
(quả/cây)
Chiều dài
quả
(cm/quả)
Số hạt/
quả P1000 (g)
Năng suất
cá thể
(g/cây)
Năng suất
lý thuyết
(tấn/ha)
Năng suất
thực thu
(tấn/ha)
ĐC 17,30 ± 0,37a 9,33 ± 0,23a 9,9 ± 0,2a 58,36 ± 0,90a 9,99 ± 0,33a 2,50 ± 0,08a 0,92 ± 0,01a
300 kg CaO 18,60 ± 0,40b 9,40 ± 0,21a 9,8 ± 0,2a 58,25 ± 0,91a 10,63 ± 0,44a 2,66 ± 0,11a 1,43 ± 0,01b
100 kg Vôi hữu cơ 18,10 ± 0,43ab 9,48 ± 0,09a 9,5 ± 0,3a 58,97 ± 0,98a 10,13 ± 0,40a 2,53 ± 0,10a 1,45 ± 0,01b
300 kg Vôi hữu cơ 19,70 ± 0,21c 9,68 ± 0,11a 10,3 ± 0,4a 60,22 ± 0,97a 12,26 ± 0,58b 3,07 ± 0,14b 1,56 ± 0,03c
500 kg Vôi hữu cơ 18,70 ± 0,37bc 9,46 ± 0,20a 10,1 ± 0,3a 58,14 ± 0,89a 10,98 ± 0,42a 2,74 ± 0,10a 1,44 ± 0,02b
Ghi chú: Số liệu được phân tích ANOVA theo phương pháp Duncan’s Multiple Range Test. Giá trị được trình bày là
giá trị trung bình (mean) ± SE (standard error) với số mẫu (n) = 10, các giá trị trong cùng cột có số mũ khác nhau thì
khác nhau có ý nghĩa với α = 0,05.
25
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 6(115)/2020
Kết quả ở bảng 5 cũng cho thấy, năng suất thực
thu ở các công thức bón vôi đã cao hơn so với đối
chứng không bón (sự khác biệt so ý nghĩa thống kê
với α = 0,05). Tuy nhiên, ở 3 công thức bón 300 kg/ha
CaO, 100 và 500 kg/ha vôi hữu cơ, sự khác biệt lại
không có ý nghĩa thống kê. Trong đó, công thức
bón 300 kg/ha vôi hữu cơ cho kết quả cao nhất, đạt
1,56 tấn/ha, cao hơn các công thức khác (sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê với α = 0,05).
Theo nghiên cứu của Hakim (2008) tại Trung tâm
nghiên cứu và phát triển cây lương thực Indonesia
cho thấy số quả/cây và chiều cao cây có tương quan
thuận với năng suất hạt, nhưng kích thước hạt tương
quan nghịch với năng suất hạt. Ảnh hưởng trực tiếp
của số quả trên cây và chiều cao cây đến năng suất
hạt có hệ số cao nhất. Theo tác giả số lượng quả trên
cây và chiều cao cây có thể được sử dụng làm tiêu chí
lựa chọn trong chương trình chọn giống đậu xanh.
Ngoài ra nghiên cứu của Khajudparn và Tantasawat
(2011) cũng cho thấy năng suất hạt có tương quan
thuận và khá chặt với số quả/cây, số chùm quả/cây,
chất khô tổng số (TDM), số hạt/quả, số hạt/cây, chỉ
số diện tích lá (LAI) và số cành/cây. Trong khi đó,
năng suất hạt có tương quan nghịch với số ngày
từ gieo đến chín. Theo Khajudparn và Tantasawat
(2011) mức độ ảnh hưởng trực tiếp của một số yếu
tố đến năng suất hạt xếp theo thứ tự là: Số chùm
quả/cây, khối lượng 100 hạt, số hạt/quả, TDM và
số quả/cây. Như vậy, số chùm quả/cây, số hạt/quả,
TDM và số quả/cây nên được sử dụng làm tiêu chí
lựa chọn để cải thiện năng suất ở đậu xanh. Theo
Vũ Ngọc Thắng và cộng tác viên (2019), hệ số tương
quan giữa số quả trên cây với năng suất hạt của đậu
xanh có thể đạt r = 0,622 (hệ số tương quan cao nhất
trong các tính trạng đã được nghiên cứu). Như vậy,
bón vôi hữu cơ ở liều lượng 300 kg/ha đã làm tăng
rõ rệt số quả/cây và là nguyên nhân chính làm tăng
năng suất cá thể, năng suất lý thuyết và năng suất
thực thu so với không bón và bón CaO hoặc vôi hữu
cơ ở liều lượng khác trong nghiên cứu này.
IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Sử dụng vôi hữu cơ từ vỏ trứng đã làm tăng khả
năng sinh trưởng và một số chỉ tiêu sinh lý của cây
đậu xanh giống ĐX14 trồng trong vụ Đông như tăng
chiều cao, diện tích lá, chỉ số diệp lục (SPAD), khả
năng tích lũy chất khô... so với đối chứng không bón
hoặc bón vôi CaO. Tuy nhiên sử dụng bột vỏ trứng
không làm tăng đường kính thân, số cành, số lá so
với bón vôi thường CaO.
Sử dụng vôi hữu cơ từ vỏ trứng có ảnh hưởng tốt
đến các yếu tố cấu thành năng suất và cho năng suất
cao hơn so với đối chứng không bón vôi và bón vôi
thường CaO. Trong đó, liều bón 300 kg/ha bột vỏ
trứng cho số quả/cây cao nhất trên giống đậu xanh
ĐX14, qua đó đã cho năng suất cao hơn so với các
công thức khác với năng suất cá thể đạt 12,26 g/cây,
năng suất lý thuyết 3,07 tấn/ha và năng suất thực thu
đạt 1,56 tấn/ha.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Thị Phương Dung và Trần Anh Tuấn, 2017.
Ảnh hưởng của canxi và axit salicylic đến cây đậu
đũa trong điều kiện mặn nhân tạo. Tạp chí Khoa học
Nông nghiệp Việt Nam, 15 (6): 728-727.
QCVN 01-62:2011/BNNPTNN. Quy chuẩn Kỹ thuật
Quốc gia về Khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng
giống đậu xanh.
Vũ Ngọc Thắng, Trần Anh Tuấn, Phạm Tuấn Anh,
Lê Thị Tuyết Châm, Vũ Thúy Hằng, Nguyễn Đức
Huy and Vũ Ngọc Lan, 2019. Cây đậu xanh, chọn
giống và kỹ thuật trồng. Nhà xuất bản Nông nghiệp,
Hà Nội.
Nguyễn Thị Thu Thủy, Vũ Ngọc Thắng, Lê Thị Tuyết
Châm, Trần Anh Tuấn, Vũ Đình Chính, Shimo
Koji, Shugo Hama, 2020. Ảnh hưởng của bột vỏ
trứng đến sinh trưởng và năng suất của giống lạc
L27 trong điều kiện vụ Đông tại Gia Lâm - Hà Nội.
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam,
4 (113): 107-115.
Đỗ Thị Hải Vân, 2019. Đặc điểm sinh trưởng, phát triển
của một số giống đậu xanh và ảnh hưởng của phân
bón qua lá đến cây đậu xanh giống ĐX14 trồng vụ
Đông. Luận văn Thạc sĩ (Học viện Nông nghiệp Việt
Nam, Hà Nội).
Đỗ Thị Hải Vân, Nguyễn Ngọc Quất, Trần Anh Tuấn,
Vũ Ngọc Thắng và Nguyễn Thị Thủy, 2019. Đặc
điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất một số
giống đậu xanh tuyển chọn cho vụ Đông tại Thanh
Trì - Hà Nội. Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông
nghiệp Việt Nam, 11: 81-85.
Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 2014. Quy
trình kỹ thuật canh tác đậu xanh tổng hợp cho các
tỉnh phía Bắc. Ban hành theo Quyết định số 252/
QĐ-KHCN ngày 14/3/2014 của Giám đốc Viện
Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.
Almaroai Y.A., Usman A.R.A., Ahmad M., Moon
D.H., Cho J.-S., Joo Y.K., Jeon C., Lee S.S. and
Ok Y.S., 2014. Effects of biochar, cow bone, and
eggshell on Pb availability to maize in contaminated
soil irrigated with saline water. Environmental Earth
Sciences, 71 (3): 1289-1296.
Gaonkar M. and Chakraborty A., 2016. Application
of eggshell as fertilizer and calcium supplement
tablet. International Journal of Innovative Research
in Science, Engineering Technology, 5 (3): 3520-3525.
Hakim L., 2008. Variability and Correlation of
Agronomic Characters of Mungbean Germplasm
26
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 6(115)/2020
and Their Utilization for Variety Improvement
Program. Indonesian Journal of Agricultural Science,
9 (1): 24-28.
Khajudparn P. and Tantasawat P., 2011. Relationships
and variability of agronomic and physiological
characters in mungbean. African Journal of
Biotechnology, 10 (49): 9992-10000.
Effect of eggshell powder on growth and yield
of mungbean variety DX14 cultivated in winter crop 2019
at Gia Lam, Ha Noi
Nguyen Xuan Dai, Tran Anh Tuan, Vu Ngoc Thang,
Nguyen Ngoc Quat, Le Thi Tuyet Cham
Abstract
Developing mung bean (Vigna radiate L. Wilczek) to be a major crop in the winter season in Vietnam, besides breeding
of good varieties, the combination of suitable technical methods is necessary for the cultivation under cold condition
and limited water. In recent years there has been many publications about positive effects of eggshell powder as a good
lime fertilizer for crops, but there has been very little similar research performed in Vietnam. In this study, the influence
of eggshell powder produced by Green Techno21 (Japan) on growth and yield of mungbean variety DX14 cultivated
in winter crop 2019 was performed. The experiment included 05 treatments: Control (without lime); Applications of
300 kg ha-1 of CaO; 100, 300 and 500 kg ha-1 of eggshell powder. The results showed that use of organic lime from
the eggshell increased growth and some physiological indices of mungbean variety DX14 such as plant height, leaf
area, chlorophyll index (SPAD) and dry matter compared to the control or CaO application. However, the use of
eggshell powder did not increase stem diameter, number of branches and leaves compared to the CaO application.
The results also showed that, use of eggshell powder had good effects on yield components and yield. Among them,
application of 300 kg ha-1 eggshell powder gave the best results on pod number per plant of mungbean variety
DX14, therefore the individual yield, theoretical yield and actual yield were highest at 12.26 g/plant, 3.07 tons/ha and
1.56 tons/ha, respectively.
Keywords: Mung bean, winter crop, organic calcium, eggshell
Ngày nhận bài: 18/4/2020
Ngày phản biện: 22/4/2020
Người phản biện: PGS. TS. Ninh Thị Phíp
Ngày duyệt đăng: 29/4/2020
1 Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam; 2 Khoa Cơ điện, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
3 Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam; 4 Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm
ẢNH HƯỞNG CỦA KỸ THUẬT LÀM ĐẤT TRONG CƠ GIỚI HÓA
ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA ĐẬU TƯƠNG
TRONG VỤ THU ĐÔNG TẠI HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
Vũ Ngọc Thắng1, Vũ Thị Thúy Hằng1, Lê Thị Tuyết Châm1,
Nguyễn Xuân Thiết2, Phạm Thị Xuân3, Trần Thị Trường4
TÓM TẮT
Nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của kỹ thuật làm đất trong cơ giới hóa đậu tương tới đặc điểm sinh trưởng,
sinh lý và năng suất của 2 giống đậu tương ĐT12 và ĐT26. Bốn kỹ thuật làm đất được áp dụng, gồm: (1) phay đất
1 lần, lên luống 1 lần (LĐ1); (2) phay 1 lần, lên luống 2 lần (LĐ2); (3) phay 2 lần, lên luống 1 lần (LĐ3); (4) phay
2 lần, lên luống 2 lần (LĐ4). Kết quả cho thấy các chỉ tiêu sinh trưởng như chiều cao cây, khả năng tích lũy chất khô,
khả năng hình thành nốt sần có sự sai khác giữa các kỹ thuật làm đất. Bên cạnh đó, kỹ thuật làm đất cũng ảnh hưởng
đến đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của 2 giống đậu tương ĐT12 và ĐT26. Kỹ thuật làm đất LĐ4 cho
các chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất đạt giá trị cao nhất, tuy nhiên không có sự sai khác có ý nghĩa so với kỹ thuật
làm đất LĐ3 (phay 2 lần, lên luống 1 lần). Do đó, ngoài kỹ thuật làm đất LĐ4, kỹ thuật làm đất phay 2 lần, lên luống
1 lần (LĐ3) cũng có thể áp dụng ở giai đoạn chuẩn bị đất khi ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất đậu tương tại tỉnh
Thái Bình. Nhìn chung, kỹ thuật làm đất LĐ3 và LĐ4 cho giống ĐT26 cho các yếu tố cấu thành năng suất và năng
suất cao hơn kỹ thuật LĐ1 và LĐ2 cho giống ĐT26, cũng như cao hơn so với giống ĐT12.
Từ khóa: Đậu tương, kỹ thuật làm đất, cơ giới hóa, năng suất, sinh trưởng, Thái Bình
Các file đính kèm theo tài liệu này:
anh_huong_cua_voi_huu_co_tu_bot_vo_trung_den_sinh_truong_va.pdf