Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về thừa kế

Trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành di sản dùng vào việc thờ cúng. Sở dĩ tác giả kiến nghị cho phép người lập di chúc có quyền dành toàn bộ di sản dùng vào việc thờ cúng bởi vì, về nguyên tắc, tài sản của một người thì người đó có quyền định đoạt, miễn sao không xâm phạm quyền lợi của người khác, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Một người có quyền lập di chúc để định đoạt toàn bộ di sản của mình cho người thừa kế thì cũng có quyền dành toàn bộ di sản đó để thờ cúng, như vậy mới hợp logic. Do đó, quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu cần được pháp luật tôn trọng, còn việc quyết định như thế nào là tùy thuộc ý chí của chủ sở hữu. Nếu cứ nhất thiết là di sản dùng vào việc thờ cúng chỉ có thể được dành một phần trong khối di sản của người lập di chúc thì quy định của BLDS không còn mang ý nghĩa là hướng dẫn chủ thể thực hiện quyền, nghĩa vụ theo pháp luật nữa, mà là áp đặt ý chí của Nhà nước lên quan hệ pháp luật dân sự như nhận xét của một thẩm phán: “Bộ luật Dân sự quy định có phần thiên về hướng dẫn cách xử sự cho công dân, nhưng hầu hết các quy định trong phần thừa kế lại có tính chất dứt khoát”11. BLDS hiện hành không quy định hậu quả pháp lý của trường hợp những người thừa kế không thỏa thuận cử được người quản lý di sản, do đó, tác giả kiến nghị “trường hợp người được chỉ định/được cử quản lý di sản và thực hiện việc thờ cúng mà không thực hiện nghĩa vụ quản lý di sản và thờ cúng thì những người thừa kế có quyền thỏa thuận cử người thừa kế khác quản lý di sản và thực hiện việc thờ cúng”, nếu không cử được ai thì tác giả kiến nghị chia di sản dùng vào việc thờ cúng theo quy định của pháp luật thì mới thuyết phục. Bởi vì một khi những người thừa kế đã không thỏa thuận được việc cử người mà lại quyết định giao cho một trong số những người thừa kế theo pháp luật thì mâu thuẫn sẽ càng bị đẩy lên cao, pháp luật không có tính thuyết phục. Còn trường hợp những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì đây là căn cứ để chia di sản theo pháp luật theo Điều 650 BLDS năm 2015

pdf8 trang | Chia sẻ: hachi492 | Ngày: 24/01/2022 | Lượt xem: 198 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về thừa kế, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
HOÏC VIEÄN TÖ PHAÙP 28 ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ Phan Thị Hồng1 Tóm tắt: Áp dụng pháp luật là một công việc hết sức quan trọng đối với cơ quan tài phán, bởi vì họ là người cầm cân nảy mực và đem lại sự công bằng trong giải quyết các tranh chấp, đặc biệt là các tranh chấp thừa kế, giúp ổn định quan hệ xã hội. Mặc dù vậy, giữa các quy định của văn bản pháp luật và thực tiễn áp dụng vẫn còn nhiều vấn đề bất cập, cần thiết nghiên cứu để có giải pháp phù hợp nhằm bảo đảm thống nhất giữa văn bản pháp luật và thực tiễn áp dụng, góp phần nâng cao chất lượng xét xử của hệ thống Tòa án. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung phân tích thực trạng chọn luật áp dụng của Tòa án và thực trạng áp dụng quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng trong giải quyết các tranh chấp thừa kế, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật. Từ khóa: Áp dụng pháp luật, Bộ luật dân sự, di sản dùng vào việc thờ cúng, thừa kế. Nhận bài: 05/01/2018; Hoàn thành biên tập: 15/03/2018; Duyệt đăng: 02/04/2018 Summary: Application of the law is very important to the judicial authorities, because they are the ones who bring justice to society in resolving disputes, especially inheritance disputes. However, there are some problems that need to be investigated in order to find a suitable solution between the legal documents and practical application, help the trial of the Vietnamese court to achieve high efficiency. In this article, the author analyzes the situation of choosing the applicable law and the status of the application of the inheritance provisions to worship when resolving the inheritance dispute, to propose some solutions to improve the efficiency of applying the law. Keywords: Application of the law, civil code, the inheritance provisions to worship, inheritance. Date of receipt: 05/01/2018; Date of revision: 15/03/2018; Date of approval: 02/04/2018 1. Lựa chọn luật áp dụng trong giải quyết tranh chấp thừa kế Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về thừa kế trước hết phải bàn đến vấn đề lựa chọn luật áp dụng. Đây là vấn đề không mới và cũng được quy định trong các văn bản luật cũng như hướng dẫn của Ủy ban thường vụ Quốc Hội và Tòa án nhân dân Tối cao. Tuy nhiên, do một số yếu tố khách quan cũng như chủ quan nên vẫn còn tồn tại những cách hiểu và áp dụng pháp luật không thống nhất. Theo quy định của Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 tại Điều 15 và BLDS năm 2005 tại Điều 2 thì BLDS (năm 1995 và năm 2005) được áp dụng đối với các quan hệ dân sự được xác lập từ ngày Bộ luật này có hiệu lực, trừ trường hợp được BLDS hoặc Nghị quyết của Quốc Hội quy định. BLDS năm 2015 tại Điều 689 quy định: Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017. Đối với những giao dịch dân sự xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực thì việc áp dụng pháp luật được quy định tại Điều 688 về điều khoản chuyển tiếp. Như vậy, theo quy định của hệ thống văn bản pháp luật dân sự thì về nguyên tắc, quan hệ dân sự phát sinh vào thời điểm nào sẽ áp dụng văn bản đang có hiệu lực tại thời điểm đó để giải quyết tranh chấp. Sẽ không có gì phải bàn cãi nếu như quan hệ dân sự được xác lập và tranh chấp phát sinh trong cùng thời gian mà một văn bản đang có hiệu lực, bởi vì chính văn bản đó sẽ được áp dụng để giải quyết tranh chấp. Vấn đề lựa chọn luật áp dụng chỉ đặt ra khi một quan hệ dân sự phát sinh ở thời điểm Bộ luật này đang có hiệu lực nhưng tranh chấp lại phát sinh khi Bộ luật đó đã bị bác bỏ hiệu lực bởi một Bộ luật khác. Theo tinh thần của BLDS năm 2015 thì Bộ luật này chỉ được áp dụng cho những quan hệ đã xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực trong các trường hợp sau đây: 1 Thạc sỹ, Giảng viên Khoa Luật Dân sự, trường Đại học Luật – Đại học Huế Soá 2/2018 - Naêm thöù Möôøi Ba 29 - Giao dịch dân sự chưa được thực hiện mà có nội dung, hình thức khác với quy định của BLDS năm 2015 mà các bên của giao dịch dân sự có thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung nội dung, hình thức của giao dịch để phù hợp với Bộ luật này và để áp dụng quy định của Bộ luật này; - Giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của BLDS năm 2015 thì áp dụng quy định của Bộ luật này; - Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này2. Đối với trường hợp giải quyết tranh chấp thừa kế thì việc áp dụng BLDS năm 2015 về thời hiệu được hướng dẫn tại Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 6 năm 2016 của Hội đống thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 103/2015/QH13 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự, theo đó, kể từ ngày 01/01/2017, Tòa án áp dụng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13, Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 và luật khác có liên quan về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu để thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Vì vậy, ngoài hai trường hợp kể trên được áp dụng BLDS năm 2015, Tòa án áp dụng luật đang có hiệu lực tại thời điểm quan hệ dân sự phát sinh để giải quyết. Dưới góc độ văn bản là như thế, tuy nhiên thực tiễn xét xử của Tòa án cho thấy vẫn chưa có sự thống nhất trong cách áp dụng pháp luật. Cụ thể, cùng là tranh chấp tương tự, nhưng các Tòa án khác nhau lại có cách áp dụng pháp luật khác nhau. Để minh chứng cho vấn đề này, tác giả xin trích dẫn hai bản án sau đây: Bản án thứ nhất: () Cụ Huỳnh Ch chết năm 1995, cụ Trần Thị H chết năm 1992. Hai cụ có 09 người con chung là các ông bà: Huỳnh A, Huỳnh H, Huỳnh C, Huỳnh T, Huỳnh M, Huỳnh Q, Huỳnh Thị A, Huỳnh Thị M, Huỳnh Thị K. Ngoài ra, cụ Huỳnh Ch còn có 04 người con riêng là các ông bà: Huỳnh Thị Tr, Huỳnh Thị H, Huỳnh Th, Huỳnh Thị C. Trong quá trình tiến hành tố tụng cũng như tại phiên tòa, đương sự có mặt tại phiên tòa thỏa thuận giao cho ông Huỳnh M sở hữu và sử dụng nhà đất tại địa chỉ tại xã C huyện P, tỉnh H. Ông M có trách nhiệm thối trả cho Huỳnh A, Huỳnh H, Huỳnh C, Huỳnh T, Huỳnh Q, Huỳnh Thị A, Huỳnh Thị M, Huỳnh Thị K mỗi người số tiền 235.000.000đ (Hai trăm ba mươi lăm triệu đồng), thối trả lại cho Huỳnh Thị Tr, Huỳnh Thị H, Huỳnh Th, Huỳnh Thị C mỗi người số tiền 96.000.000đ (Chín mươi sáu triệu đồng). Xét thấy thỏa thuận này của các đương sự có mặt tại phiên tòa là không trái với pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên cần chấp nhận ý kiến thỏa thuận này của họ. Đối với ông Huỳnh C, mặc dù Tòa án đã thực hiện việc thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng theo khoản 4 Điều 173 nhưng ông Huỳnh C vẫn vắng mặt. Xét thấy việc ông M đồng ý thối trả lại cho ông C một kỷ phần thừa kế tương ứng với số tiền 235.000.000đ (Hai trăm ba mươi lăm triệu đồng) là có lợi cho ông C. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận. Do ông C hiện sinh sống ở đâu không rõ, các đương sự có mặt tại phiên tòa đều thống nhất giao cho ông Huỳnh H quản lý số tiền này nên xét thấy cần áp dụng án lệ số 06/2016/AL được Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao để giao cho ông Huỳnh H quản lý số tiền 235.000.000đ (Hai trăm ba mươi lăm triệu đồng) tương ứng với một kỷ phần thừa kế mà ông C được hưởng. Vì những lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH Áp dụng khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 357, 468, 623,649, 651 Bộ luật dân sự năm 2015; () 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông 2 Điều 688 BLDS năm 2015. HOÏC VIEÄN TÖ PHAÙP 30 Huỳnh H đối với ông Huỳnh M về việc yêu cầu chia thừa kế. 2.()3 Trong bản án này, thời điểm mở thừa kế của cụ Huỳnh Ch là vào năm 1995 và cụ Trần Thị H là năm 1992 nhưng đương sự khởi kiện vào năm 2017 nên Tòa án đã áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết tranh chấp. Bản án thứ hai: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định: () Từ kết quả giám định cho thấy, trước khi chết, cụ B(chết năm 2006), cụ U (chết năm 2004) đã phân chia đất cho các con. Trong đó, con trai 5 công, con gái 3 công, các con đã nhận sử dụng không tranh chấp, phần còn lại có làm di chúc và làm giấy bán ruộng để lại cho ông H1 diện tích 7.197 m2 là thật. Ông G không nhận cha mẹ có làm di chúc, giấy tay bán ruộng cho ông H1 là không trung thực. Trên thực tế, sau khi nhận phần đất ông G đang ở, di chúc có điều kiện là ông G phải cúng giỗ cho cụ U sau này nhưng ông không thực hiện nghĩa vụ. Sau khi cụ U bị bệnh, ông H1 đã rước về nuôi dưỡng đến khi cụ U chết, làm đám tang và cúng giỗ đến nay (cụ B, ông H1 thờ và cúng giỗ, theo di chúc đã thực hiện). Như vậy, có đủ căn cứ xác định ông H1 được cụ B, cụ U để lại di chúc phần đất 7.197 m2, ông H1 mua 1.300 m2, tổng cộng là 8.497 m2. Nhưng ông H1 chỉ được cấp giấy 6.540 m2, hiện đo thực tế phần đất ông H1 đang sử dụng là 10.036,6 m2, chênh lệch giữa di chúc và diện tích đã mua so với đo đạc thực tế là 2.039,6 m2, so với giấy được cấp là 3.996,6 m2. Theo ý chí của cụ B, cụ U xác định là chỉ còn 7.197 m2 đã lập di chúc và bán cho ông H1. các con không được tranh chấp nhưng cũng cần được xem xét cụ thể: Đất thừa so với giấy đã cấp cho ông H1 là 3.996,6 m2, trong đó chưa kê khai cấp giấy, ông H1 sử dụng từ trước là 3.193,6 m2. Nên không được xem là di sản của cụ B, cụ U mà thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông H1, ông H1 có quyền kê khai đăng ký theo quy định; Phần đất 293 m2 ông H1 sử dụng nhưng cấp giấy cho ông G, ông G không tranh chấp, nên ông H1 có quyền điều chỉnh cho phù hợp; Phần đất 510 m2 ông H1 sử dụng, nhưng cụ B, cụ U đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất được ông H1 nhận từ di chúc, từ nhận chuyển nhượng của cụ B, cụ U đã đủ. Nên phần đất 510 m2 là di sản thừa kế của cụ B, cụ U, cần được chia theo quy định của pháp luật. Cụ thể, 510 m2 trị giá 21.930.000 đồng, giao đất cho ông H1 quản lý sử dụng. Buộc ông H1 giao lại cho ông G 02 phần (của ông G, bà M) là 14.620.000 đồng. Ghi nhận các thừa kế khác không yêu cầu chia. Do đó, sửa án sơ thẩm. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Thanh H1. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 54/2016/DSST ngày 18/10/2016 của Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh T. Áp dụng Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Áp dụng các Điều 666, Điều 691 Bộ luật Dân sự năm 1995; các Điều 642, Điều 663, Điều 674, Điều 676, Điều 685, Điều 689, Điều 733 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 203 Luật đất đai; Điều 27 Pháp lện án phí, lệ phí Tòa án; 1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Thanh G về việc chia di sản thừa kế đối với phần đất nằm ngoài Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H1 diện tích 510 m2, một phần thửa số 554, tờ bản đồ số 13 năm 2010 (thửa cũ số 520, tờ bản đồ 09 cấp cho cụ Phạm Văn B theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01127 QSDĐ/E10, ngày 20/9/1994) có tứ cận như sau()4: Trong bản án thứ hai, tranh chấp phát sinh năm 2016, Tòa án xử phúc thẩm năm 2017 nhưng vẫn áp dụng quy định của BLDS năm 3 Bản án số 48/2017/DS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố, Đà Nẵng về việc “tranh chấp thừa kế”. 4 Bản án số 135/2017/DS-PT ngày 08/8/2017 của TAND tỉnh Tây Ninh về việc “tranh chấp di sản thừa kế”. Soá 2/2018 - Naêm thöù Möôøi Ba 31 1995 và BLDS năm 2005 tương ứng với thời điểm cụ U và cụ B chết để giải quyết tranh chấp về thừa kế. Như vậy, cùng một loại tranh chấp tương tự nhau về thời điểm xác lập quan hệ và thời điểm phát sinh tranh chấp nhưng hai cấp Tòa án lại có hai cách áp dụng pháp luật khác nhau. Mặc dù các cấp Tòa án không lý giải cơ sở áp dụng pháp luật, song, có thể nhận thấy thực tiễn xét xử của Tòa án áp dụng pháp luật trên cơ sở hai luồng quan điểm sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng quan hệ dân sự xác lập vào thời điểm nào thì áp dụng văn bản có hiệu lực tại thời điểm đó; quan điểm thứ hai cho rằng tranh chấp phát sinh thời điểm nào thì áp dụng văn bản tại thời điểm đó. Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng cũng theo hướng này, cụ thể, tại bản án số 25/2017/DS-PT ngày 27/4/2017 xử phúc thẩm “tranh chấp về thừa kế tài sản” do Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2016/DS-ST ngày 14 tháng 12 năm 2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai bị kháng cáo. Theo đó, cụ Trịnh T chết năm 1992, các đồng thừa kế tranh chấp và khởi kiện năm 2016, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm đã áp dụng BLDS năm 2005 để chia di sản thừa kế của cụ T. Sau đó bản án bị kháng cáo, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã xét xử phúc thẩm và quyết định: “Không chấp nhận kháng cáo của bà Trịnh Thị S và giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2016/DS-ST ngày 14 tháng 12 năm 2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai. Áp dụng các Điều 161, 632, 633, 634, 635, 645, 674, 675, 676, 685 của Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11, xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Trịnh Thị Th về việc chia di sản thừa kế đối với nhà và đất tại số C, đường P, thành phố PL, tỉnh Gia Lai. ()”5. Xét dưới góc độ văn bản, pháp luật dân sự quy định về việc áp dụng pháp luật đối với những giao dịch xác lập trước khi một văn bản có hiệu lực nhưng tranh chấp phát sinh sau khi văn bản đó có hiệu lực tại điều khoản chuyển tiếp hoặc nghị quyết hướng dẫn thi hành của Quốc Hội. Nhưng những quy định này chỉ hướng dẫn cho các “giao dịch”, trong khi đó, thừa kế có phải là một giao dịch hay không còn cần phải xem xét. Có ý kiến cho rằng, thời điểm mở thừa kế đúng là thời điểm giao dịch được xác lập. Tại thời điểm này, những người thừa kế chia xong thừa kế (có thể theo thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết) thì sẽ được coi là giao dịch dân sự được thực hiện xong. Nhưng tại thời điểm mở thừa kế cũng như sau này, các bên chưa có yêu cầu chia thừa kế, chưa làm thủ tục thừa kế tài sản (khai nhận di sản thừa kế và chuyển quyền sở hữu), thì không thể coi là giao dịch đã thực hiện xong mà đó là trường hợp “giao dịch dân sự được xác lập trước ngày BLDS có hiệu lực và đang được thực hiện”. Giải quyết giao dịch thừa kế, ở thời điểm BLDS năm 2005 có hiệu lực pháp luật, chúng ta phải áp dụng BLDS năm 2005 vì những quy định về thừa kế giữa BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005 là phù hợp với nhau6. Trên cơ sở quy định của pháp luật, nếu xem thừa kế là một giao dịch dân sự là chưa xem xét toàn diện bản chất của quan hệ này. Đối với thừa kế theo di chúc thì đúng là một giao dịch, vì theo quy định tại Điều 116 BLDS năm 2015 (trước đây là Điều 121 BLDS năm 2005) thì “giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Di chúc chính là hành vi pháp lý đơn phương, vì vậy thừa kế theo di chúc là một loại giao dịch dân sự. Tuy nhiên, thừa kế theo pháp luật lại không phụ thuộc vào ý chí của người để lại di sản mà là do pháp luật quy định, và việc một người chết chính là một sự biến pháp lý làm phát sinh quan hệ thừa kế chứ không phải giao dịch. Do đó, không thể áp dụng quy định chuyển tiếp trong BLDS hoặc Nghị quyết hướng dẫn thi hành BLDS của Quốc Hội về giao dịch dân sự đang được thực hiện để áp dụng quy định của BLDS có hiệu lực tại thời điểm các bên xảy ra tranh chấp. 5 Bản án số 25/2017/DS-PT ngày 27/4/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về “tranh chấp về thừa kế tài sản”. 6 TS. Lê Thu Hà, Vấn đề áp dụng và hoàn thiện pháp luật qua thực tiễn xét xử vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2011, tr 27. HOÏC VIEÄN TÖ PHAÙP 32 Mặt khác, việc áp dụng pháp luật của Tòa án đòi hỏi phải chính xác, không thể cho rằng việc áp dụng văn bản nào cũng cho ra kết quả như nhau nên áp dụng văn bản nào cũng được. Có thể các văn bản tại các thời điểm khác nhau đều có nội dung quy định giống nhau, nhưng không có nghĩa Tòa án được phép áp dụng tùy tiện. Bởi việc áp dụng pháp luật đã được quy định ở văn bản quy phạm pháp luật, Tòa án cần phải tuân thủ. Đơn cử như quy định tại BLDS năm 2015, Điều 689 quy định BLDS có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017 và chỉ áp dụng BLDS này cho các giao dịch đã xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực nếu thuộc trường hợp quy định tại Điều 688. Như vậy, đối với trường hợp thừa kế theo pháp luật không phải là giao dịch dân sự nên không thuộc các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 688. Đồng thời, Nghị quyết số 02/2016/NQ- HĐTP ngày 30 tháng 6 năm 2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao đã hướng dẫn, đối với tranh chấp phát sinh từ ngày 01/01/2017 thì áp dụng quy định của BLDS năm 2015 về thời hiệu để giải quyết. Hơn nữa, tại Công văn số 01/GĐ-TANDTC ngày 25 tháng 7 năm 2016 của Tòa án nhân dân Tối cao giải đáp một số vấn đề về hình sự, tố tụng hình sự, dân sự, tố tụng dân sự thì “Điểm d khoản 1 Điều 688 BLDS năm 2015 quy định: đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực thì “Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này”. Như vậy, kể từ ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực thi hành, Tòa án áp dụng quy định tại Điều 623 BLDS năm 2015 để xác định thời hiệu đối với trường hợp thời điểm mở thừa kế trước ngày 01/01/2017”. Vậy theo tinh thần của Tòa án Tối cao thì không phải BLDS năm 2015 được áp dụng để giải quyết mọi tranh chấp phát sinh từ ngày 01/01/2017. Việc các Tòa án áp dụng pháp luật như bản án thứ nhất là không phù hợp xét dưới góc độ văn bản. 2. Áp dụng pháp luật trong việc xác định di sản dùng vào việc thờ cúng Di sản dùng vào việc thờ cúng đã được quy định cụ thể tại Điều 645 BLDS năm 2015, theo đó, người lập di chúc có quyền dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử lại gặp phải nhiều khó khăn trong quá trình áp dụng đối với quy định tưởng chừng như đã rất rõ ràng này. Cụ thể, theo một bản án: Nguồn gốc nhà đất tại thị trấn PĐ, huyện P tỉnh TH là của ông Phan Văn M và bà Nguyễn Thị L. Ông M và bà L có 7 người con là anh Th, anh T, anh X, chị N, chị H, chị H2 và anh Đ. Trước khi chết, ông bà có lập di chúc để lại nhà đất nói trên cho 7 người con đồng thừa hưởng để thờ cúng cha mẹ. Nay 5/7 người con là anh Th, anh X, chị N, chị H và anh Đ yêu cầu chia di sản thừa kế nói trên nhưng anh T và chị H2 không đồng ý. Xét thấy: Về nội dung: Bà L là mẹ anh Th, anh T, anh X, anh N, chị H, anh Đ và chị H2, bà L chết ngày 08/12/2005, di sản bà để lại là một căn nhà diện tích 57,25m2 kết cấu móng cột xây gạch, tường xây gạch trên diện tích 86m2 thửa số 27-tờ bản đồ số 25 thị trấn PĐ, kết quả thẩm định giá ngày 05/8/2016 với số tiền là 261.967.000đ. Tại tờ di chúc ngày 08/7/2004 bà L để lại nhà đất cho 7 người con đồng thừa hưởng để thờ cúng cha mẹ, anh Đ là người đang quản lý di sản, hiện tại 5/7 anh chị em của anh Đ đồng ý chia di sản và giao cho anh Đ sở hữu di sản là có cơ sở chấp nhận. Anh Th, anh T, anh X, chị N, chị H, anh Đ và chị H2 là hàng thừa kế thứ nhất của bà L, anh chị được hưởng di sản bằng nhau, mỗi người được hưởng giá trị bằng tiền là 37.423.857đ giao cho anh Đ sở hữu di sản nhà đất, anh Đ phải có trách nhiệm thanh toán bằng tiền cho anh Th, anh T, anh X, chị N, chị H và chị H2 mỗi người 37.423.857đ (tính tròn là 37.424.000đ) nhưng anh Th, anh X, chị N, chị H không nhận di sản mà cho lại anh Đ. Vì vậy, anh Đ được sở hữu phần của anh Th, anh X, chị N, chị H và phần của anh Đ tổng số là 187.120.000đ, anh Đ phải thanh toán cho anh T, chị H mỗi người là 37.424.000đ. Vì các lẽ trên, Quyết định: () Soá 2/2018 - Naêm thöù Möôøi Ba 33 Tuyên xử: Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của anh Phan Văn Đ đối với anh Phan Văn T, chị Phan Thị H ().7 Trong bản án nêu trên, nội dung các đương sự tranh chấp là tranh chấp về quyền thừa kế theo di chúc. Nguồn gốc nhà đất cha mẹ để lại theo di chúc cho các con cùng hưởng và để làm nơi thờ cúng, nhưng sau khi cha mẹ chết thì các con tranh chấp, một bên yêu cầu chia di sản thừa kế còn bên kia không đồng ý chia vì di chúc cha mẹ để lại di sản để làm nơi thờ tự. Mặc dù vậy Tòa án vẫn chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và xử chia thừa kế đối với di sản nói trên. Về quy định di sản dùng vào việc thờ cúng, BLDS năm 2015 quy định:“trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thoả thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng. Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng”8. Quy định này được giữ nguyên như Điều 670 BLDS năm 2005. Như vậy, BLDS thể hiện rõ, nếu ý chí của người lập di chúc đã để lại di sản dùng vào việc thờ cúng thì phải tôn trọng ý chí của người đó, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người chết thì mới không được để lại di sản dùng vào việc thờ cúng theo quy định tại khoản 2 Điều 645 BLDS năm 2015. BLDS chỉ quy định người lập di chúc có quyền dành “một phần” di sản dùng vào việc thờ cúng, mà không nói rõ là một phần mấy. Chẳng hạn, trong cổ luật nước ta có để cập đến di sản dùng vào việc thờ cúng thì người quá cố được dành 1/20 tài sản của họ dùng vào việc thờ cúng9. Vậy một phần trong BLDS hiện hành được hiểu như thế nào? Là phần nhiều hay phần ít? Có người cho rằng, BLDS chỉ quy định người lập di chúc có quyền dành “một phần” di sản dùng vào việc thờ cúng mà không quy định là một phần mấy, do đó chỉ cần người lập di chúc để lại một phần di sản mà không phải hai phần là được. Tuy nhiên, dưới góc độ văn bản thì BLDS cũng như văn bản hướng dẫn thi hành không giải thích về quy định này, do đó khi giải quyết tranh chấp về di sản dùng vào việc thờ cúng giữa những người thừa kế theo di chúc, thiết nghĩ Tòa án cần giải thích quy định tại Điều 645 cùng với ý chí của người chết thể hiện trong di chúc để quyết định thì thuyết phục hơn. Quay lại bản án nêu trên, Ông M và bà L trước khi chết có để lại di chúc cho 7 người con đồng thừa hưởng nhà đất để thờ cúng cha mẹ. Mặc dù di chúc không nói rõ di sản này chỉ được dùng để thờ cúng và không được bán, tuy nhiên nội dung di chúc đã thể hiện để lại cho các con cùng thừa hưởng nhằm mục đích thờ cúng. Do đó, bản án của Tòa án nhân dân huyện P quyết định chia nhà đất nói trên cho các đồng thừa kế với lý do “5/7 anh chị em của anh Đ đồng ý chia di sản” là không thuyết phục. Nếu giải quyết như Tòa án thì trường hợp người chết lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng nhưng chỉ cần các đồng thừa kế thỏa thuận chia thì đều được Tòa án chấp nhận. Cách giải quyết này lại đi ngược với quy định tại Điều 645 BLDS. 3. Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật Thứ nhất, như chúng tôi đề cập thực trạng tại mục 1 và mục 2 nêu trên thì hiện nay, các Tòa án đang áp dụng BLDS năm 2015 để giải quyết các tranh chấp về thừa kế, mặc dù thời điểm mở thừa kế là trước khi Bộ luật này có hiệu lực. Đối chiếu với các quy định trong BLDS năm 2015 thì thấy quy định về việc áp dụng BLDS chưa thực sự rõ ràng cho vấn đề giải quyết tranh chấp thừa kế. Theo quy định tại các Điều 688 và Điều 689 BLDS thì việc áp dụng BLDS năm 2015 để giải quyết tranh chấp thừa kế mà đương sự khởi kiện từ ngày 01/01/2017 được hiểu như sau: Đối với những tranh chấp 7 Bản án số 21/2016/DSST ngày 16/9/2016 v/v “tranh chấp di sản thừa kế” của TAND huyện P tỉnh Thừa Thiên Huế. 8 Điều 645 BLDS năm 2015. 9 Về vấn đề này xin xem thêm: Điều 388 và Điều 391 Bộ luật Hồng Đức tr.176 và tr.178. HOÏC VIEÄN TÖ PHAÙP 34 thừa kế mà thời điểm mở thừa kế từ ngày 01/01/2017 trở đi thì áp dụng BLDS năm 2015; đối với những tranh chấp về thừa kế mà thời điểm mở thừa kế trước ngày 01/01/2017 thì chỉ áp dụng BLDS năm 2015 để tính thời hiệu về thừa kế, việc áp dụng BLDS năm 2015 để tính thời hiệu về thừa kế không đồng nghĩa với việc áp dụng toàn bộ các quy định trong chương thừa kế để giải quyết. Sở dĩ không áp dụng được các quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 688 để áp dụng BLDS năm 2015 để giải quyết tranh chấp bởi vì: thứ nhất, thừa kế nói chung không hoàn toàn là một giao dịch dân sự, mà những quy định này chỉ quy định việc áp dụng văn bản cho giao dịch dân sự mà thôi. Thừa kế không hoàn toàn là một giao dịch dân sự, bởi vì ngoài thừa kế theo di chúc thì còn có thừa kế theo pháp luật, thừa kế theo pháp luật không phải là giao dịch. Còn xét di chúc, theo quy định của BLDS thì di chúc là hành vi pháp lý đơn phương nên nó là một giao dịch, tuy nhiên người xác lập giao dịch này đã chết do đó không thể sửa đổi để áp dụng BLDS năm 2015 như quy định tại điểm a khoản 1 Điều 688. Mặt khác, có quan điểm cho rằng, thừa kế theo di chúc là một loại giao dịch, nếu tại thời điểm có một văn bản khác có hiệu lực các bên mới phát sinh tranh chấp thì được coi là trường hợp giao dịch đó đang được thực hiện10, tuy nhiên, theo điểm b khoản 1 Điều 688 thì chỉ áp dụng BLDS năm 2015 khi giao dịch đang được thực hiện mà có nội dung, hình thức phù hợp với Bộ luật này. Vậy, giả sử có trường hợp tranh chấp về thừa kế theo di chúc, theo đó nguyên đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố di chúc vô hiệu vì người lập di chúc không tự tay viết mà lại nhờ người khác đánh máy hộ, có hai người làm chứng và di chúc được chứng thực, lý do là người lập di chúc không tự viết được di chúc. Tuy nhiên, bị đơn cho rằng di chúc này phù hợp với quy định của BLDS năm 2015 nên đề nghị công nhận di chúc. Trường hợp này Tòa án sẽ áp dụng văn bản nào để giải quyết? Nếu cho rằng vận dụng điểm b khoản 1 Điều 688 nói trên để áp dụng BLDS năm 2015 thì cũng được, nhưng Tòa án sẽ áp dụng văn bản nào nếu tranh chấp di sản theo pháp luật, bởi thừa kế theo pháp luật không phải là “giao dịch”. Chẳng lẽ tranh chấp thừa kế theo di chúc thì áp dụng BLDS năm 2015, tranh chấp thừa kế theo pháp luật lại áp dụng BLDS năm 2005 sẽ không thuyết phục. Mặt khác, việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) đã được quy định cụ thể tại Điều 156 Luật ban hành VBQPPL năm 2015, theo đó: “Văn bản QPPL được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của VBQPPL có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó”. Do vậy, việc áp dụng pháp luật của Tòa án cũng cần phải thống nhất để phù hợp với hệ thống văn bản QPPL. Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng vấn đề chọn luật áp dụng cần phải được thống nhất trong ngành Tòa án. Ngành Tòa án cần thường xuyên rà soát việc áp dụng văn bản QPPL, tập huấn nhằm thống nhất nguyên tắc áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp dân sự nói chung và giải quyết tranh chấp thừa kế nói riêng, bảo đảm quan hệ thừa kế phát sinh tại thời điểm nào phải áp dụng BLDS đang có hiệu lực tại thời điểm đó để giải quyết, trừ trường hợp văn bản QPPL có quy định hiệu lực trở về trước thì áp dụng quy định đó. Điều này sẽ tránh được sự tùy tiện trong việc áp dụng pháp luật và đảm bảo nguyên tắc thượng tôn pháp luật. Thứ hai, về vấn đề di sản dùng vào việc thờ cúng quy định tại Điều 645 BLDS năm 2015, như đã phân tích, tác giả kiến nghị trước mắt chúng ta cần có văn bản hướng dẫn việc xác định phần di sản dùng vào việc thờ cúng theo hướng thừa nhận di sản người chết để lại được dùng làm di sản thờ cúng miễn sao không phải là toàn bộ di sản. Bởi khi một người chết, họ không chỉ để lại tài sản là bất động sản mà còn để lại những tài sản khác là động sản. Vậy nếu họ chỉ định đoạt di sản là bất động sản dùng vào việc thờ cúng thì cũng được xem là mới chỉ định đoạt một phần di sản thôi. Như vậy, trong khi BLDS quy định chung chung, Tòa án nhân dân Tối cao cần có văn bản giải 10 Xem thêm: TS. Lê Thu Hà, Vấn đề áp dụng và hoàn thiện pháp luật qua thực tiễn xét xử vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2011, tr 27. Soá 2/2018 - Naêm thöù Möôøi Ba 35 thích theo hướng công nhận di sản là nhà đất mà người chết để lại làm di sản thờ cúng là phù hợp quy định của pháp luật. Về lâu dài, sau này khi có điều kiện sửa đổi BLDS thì Điều 645 về di sản dùng vào việc thờ cúng nên sửa đổi như sau: Điều 645. Di sản dùng vào việc thờ cúng 1. Người lập đi chúc có quyền để lại một phần hoặc toàn bộ di sản dùng vào việc thờ cúng. Việc dành di sản dùng vào việc thờ cúng phải được ghi rõ trong di chúc. Người lập di chúc có quyền chỉ định người quản lý di sản này để thực hiện việc thờ cúng. Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người thừa kế khác quản lý di sản thờ cúng. Trường hợp người được giao quản lý di sản thờ cúng theo di chúc hoặc người được những người thừa kế thỏa thuận cử ra để quản lý di sản thờ cúng mà không thực hiện nghĩa vụ quản lý di sản và thờ cúng thì những người thừa kế có quyền thỏa thuận cử người thừa kế khác quản lý di sản và thực hiện việc thờ cúng. Trường hợp không thỏa thuận được hoặc tất cả những người thừa kế theo di chúc đã chết thì phần di sản thờ cúng được chia theo quy định của pháp luật. 2. Trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành di sản dùng vào việc thờ cúng. Sở dĩ tác giả kiến nghị cho phép người lập di chúc có quyền dành toàn bộ di sản dùng vào việc thờ cúng bởi vì, về nguyên tắc, tài sản của một người thì người đó có quyền định đoạt, miễn sao không xâm phạm quyền lợi của người khác, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Một người có quyền lập di chúc để định đoạt toàn bộ di sản của mình cho người thừa kế thì cũng có quyền dành toàn bộ di sản đó để thờ cúng, như vậy mới hợp logic. Do đó, quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu cần được pháp luật tôn trọng, còn việc quyết định như thế nào là tùy thuộc ý chí của chủ sở hữu. Nếu cứ nhất thiết là di sản dùng vào việc thờ cúng chỉ có thể được dành một phần trong khối di sản của người lập di chúc thì quy định của BLDS không còn mang ý nghĩa là hướng dẫn chủ thể thực hiện quyền, nghĩa vụ theo pháp luật nữa, mà là áp đặt ý chí của Nhà nước lên quan hệ pháp luật dân sự như nhận xét của một thẩm phán: “Bộ luật Dân sự quy định có phần thiên về hướng dẫn cách xử sự cho công dân, nhưng hầu hết các quy định trong phần thừa kế lại có tính chất dứt khoát”11. BLDS hiện hành không quy định hậu quả pháp lý của trường hợp những người thừa kế không thỏa thuận cử được người quản lý di sản, do đó, tác giả kiến nghị “trường hợp người được chỉ định/được cử quản lý di sản và thực hiện việc thờ cúng mà không thực hiện nghĩa vụ quản lý di sản và thờ cúng thì những người thừa kế có quyền thỏa thuận cử người thừa kế khác quản lý di sản và thực hiện việc thờ cúng”, nếu không cử được ai thì tác giả kiến nghị chia di sản dùng vào việc thờ cúng theo quy định của pháp luật thì mới thuyết phục. Bởi vì một khi những người thừa kế đã không thỏa thuận được việc cử người mà lại quyết định giao cho một trong số những người thừa kế theo pháp luật thì mâu thuẫn sẽ càng bị đẩy lên cao, pháp luật không có tính thuyết phục. Còn trường hợp những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì đây là căn cứ để chia di sản theo pháp luật theo Điều 650 BLDS năm 2015. Kết luận Xã hội càng phát triển thì nhu cầu con người cần dùng đến cơ quan tài phán để phân xử các tranh chấp ngày càng nhiều. Mặt khác, trình độ dân trí ngày càng cao và con người ngày càng ý thức được quyền lợi cũng như nghĩa vụ của mình khi tham gia các quan hệ pháp luật. Để nền tư pháp ngày càng vững mạnh, tạo được niềm tin tuyệt đối trong nhân dân thì trước hết người cầm cân này mực phải làm đúng và thượng tôn pháp luật. Muốn được như vậy không chỉ có sự cố gắng của người áp dụng luật mà còn cần có cả một hệ thống pháp luật đầy đủ, rõ ràng và phân minh. Không có cách nào tốt hơn là soi pháp luật vào thực tiễn để thấy được những bất cập nhằm khắc phục kịp thời những bất cập ấy, vấn đề áp dụng pháp luật trong giải quyết các tranh chấp về thừa kế cũng không ngoại lệ./. 11 Tưởng Bằng Lượng, một số vấn đề trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp thừa kế tại Tòa án nhân dân trong thời gian vừa qua, Tạp chí Khoa học pháp lý số 03/2001.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfap_dung_phap_luat_trong_giai_quyet_tranh_chap_ve_thua_ke.pdf
Tài liệu liên quan