Trong khi mô tả Li và Wei [48] ghi chú
Aspidistra papillata được phân biệt với loài A.
tonkinensis (Gagnep.) W.T.Wang & K.Y.Lang
[22] bằng thân rễ mập hơn, cuống phình lên, rộng
2,5-3,5 mm, phiến lá hình elíp đến thuôn-elíp,
hoa hình chuông rộng, dài 2,5-3 cm, kích thước
ống bao hoa 1,3-1,7 × 2-2,4 cm, bề mặt nhụy nhú
li ty [48]. Theo chúng tôi thì Aspidistra
tonkinensis phân biệt dễ ràng với loài trên là bởi
thân rễ của nó dài, mảnh, bao phủ bởi nhiều vảy
ngắn, nhỏ, lá mọc cách nhau 3-4 cm, cuống lá
dài đến 25 cm, thùy hoa màu trắng, bề mặt của
nhụy nhẵn không có nhú.
Aspidistra papillata có hình thái gần giống
với loài A. chongzuoensis C.R.Lin & Y.S.Huang
[54] về hình thái lá và hoa, tuy nhiên có thể dễ
ràng phân biệt chúng bởi một số đặc điểm sau:
Aspidistra chongzuoensis có cuống hoa rất ngắn,
5-10 mm, mang 4-5 lá vẩy hình trứng rộng, 2 lá
vẩy trên cùng nhỏ 6-8 × 8-10 mm, trong khi đó
A. papillata có cuống hoa dài đến 5,5 cm, mang
tới 8 lá vẩy đa hình, 2 lá vẩy trên cùng lớn 25-32
× 12-15 mm. Hơn nữa, A. chongzuoensis có bao
hoa 7-8 mảnh, 8 nhị, nhụy mặt trên phẳng, nhẵn,
có 4 đoạn kẻ từ giữa tỏa ra và phân đôi ở gần
mép, mép gợn sóng phân 16 thùy, thì A. papillata
bao hoa có 6 mảnh, 6 nhị, nhụy mặt trên hơi lồi,
phân 3 thùy chính, đầu mỗi thùy lõm vào trong
để tạo thành 2 thùy nhỏ (nhìn rõ ở mặt dưới), bề
mặt có cấu trúc gồm nhiều nhú li ty mềm, mép
gợn sóng, hơn cong xuống.
Aspidistra bicolor Tillich, loài phân bố ở
Thái Nguyên và Tam Đảo (Vĩnh Phúc) [16] có
hình thái lá và bao hoa gần giống với A.
papillata, nhưng khác biệt bởi loài trước có
cuống hoa ngắn 1-2 cm (so với 1,2-5,5 cm),
mang 3-5 lá vẩy hình trứng rộng (s.v. 4-8 lá vẩy
đa hình), ống bao hoa hơi thắt hẹp lại ở gần gốc,
mặt ngoài màu trắng không có chấm đỏ tía (s.v.
không thắt, màu trắng đục-vàng với các chấm đỏ
tía dày đặc), bao phấn hơi hướng xuống (s.v. bao
phấn hơi hướng lên), đầu nhụy hẹp khoảng 10
mm và nhẵn mặt trên (s.v. 16-18 mm, dày đặc
nhú li ty).
Các mẫu nghiên cứu thu được ở Việt Nam có
vài điểm khác biệt nhỏ so với bản mô tả gốc của
loài Aspidistra papillata [48] như lá mọc xít
nhau hơn, cách nhau 0,5-1 cm (s.v. 0,5-2 cm),
phiến lá hẹp hơn, 16-26 × 4-7,5 cm (s.v. 18-25 ×
6-8,5 cm), cuống hoa dài 1,2-4,5 cm, mang 5-8
lá vẩy (s.v. 2,5-5,5 cm, mang 4-7 lá vẩy), thùy
bao hoa nhỏ hơn cỡ 9-12 × 9-13 mm (s.v. 12-15
× 14-16 mm). Sự khác biệt về mặt kích thước và
số lượng lá vẩy đó là điều bình thường và được
thể hiện ngay giữa các cá thể trong cùng một
quần thể chúng tôi nghiên cứu ở Lạng Sơn. Hơn
nữa quần thể ở Lạng Sơn cách nơi trồng của mẫu
type ở Trung Quốc trong mô tả gốc ít nhất cũng
khoảng 200 km đường chim bay, do đó sự biến
đổi về hình thái kể trên là điều tất yếu. Xét một
cách tổng thể thì các mẫu ở Việt Nam có đặc
điểm hình thái phù hợp với bản mô tả gốc loài
Aspidistra papillata G.Z.Li [48] dựa trên hình
dạng của các bộ bận thân rễ, lá, vẩy cuống hoa,
bao hoa, nhị, chỉ nhị và nhụy.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Aspidistra papillata G.Z.Li (Asparagaceae Juss): Loài bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 4 (2020) 69-76
69
Original Article
Aspidistra papillata G.Z.Li (Asparagaceae Juss.): A New
Record for the Flora of Vietnam
Nguyen Sinh Khang1,2, Hoang Thanh Son3, Nguyen Trung Thanh4,
1Institute of Ecology and Biological Resources (IEBR), Vietnam Academy of Science and Technology (VAST),
18 Hoang Quoc Viet, Cau Giay, Hanoi, Vietnam
2Graduate University of Science and Technology (GUST), Vietnam Academy of Science and Technology (VAST),
18 Hoang Quoc Viet, Cau Giay, Hanoi, Vietnam
3Silviculture Research Institute (SRI), Vietnamese Academy of Forest Sciences (VAFS),
46 Duc Thang, Bac Tu Liem, Hanoi, Vietnam
4VNU University of Science, 334 Nguyen Trai, Hanoi, Vietnam
Received 02 August 2020
Revised 06 September 2020; Accepted 07 September 2020
Abstract: This study presents the morphological characteristics, colour illustration, biological
information, ecology and distribution of Aspidistra papillata G.Z. Li, formerly considered as an
endemic species to China, but recently discovered and recorded for the Flora of Vietnam, to identify
new aspects of this species.
Keywords: Aspidistra, Nolinoideae, Convallariaceae, plant taxonomy, Lang Son
________
Corresponding author.
Email address: thanhntsh@gmail.com
https://doi.org/10.25073/2588-1140/vnunst.5105
N.S. Khang et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 4 (2020) 69-76 70
Aspidistra papillata G.Z.Li (Asparagaceae Juss.): Loài bổ
sung cho hệ thực vật Việt Nam
Nguyễn Sinh Khang1,2, Hoàng Thanh Sơn3, Nguyễn Trung Thành4,
1Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (IEBR), Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST),
18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
2Học viện Khoa học và Công nghệ (GUST), Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST),
18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
3Viện Nghiên cứu Lâm sinh (SRI), Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (VAFS),
46 Đức Thắng, Đức Thắng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội, Việt Nam
4Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN, 334 Nguyễn Trãi, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 22 tháng 8 năm 2020
Chỉnh sửa ngày 06 tháng 9 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 07 tháng 9 năm 2020
Tóm tắt: Aspidistra papillata G.Z.Li, trước đây là loài đặc hữu hẹp của Trung Quốc, đã được phát
hiện và ghi nhận cho hệ thực vật Việt Nam. Nhằm cung cấp dữ liệu phục vụ cho việc nhận diện và
nghiên cứu loài sâu hơn sau này, các đặc điểm hình thái cùng ảnh màu minh họa, một số thông tin
về sinh học, sinh thái và phân bố của loài bổ sung nêu trên được trình bày dưới đây.
Từ khoá: Aspidistra, Nolinoideae, Convallariaceae, phân loại thực vật, Lạng Sơn.
1. Mở đầu
Chi Trứng nhện-Aspidistra Kew Gawler (1822:
628) [1] trước được xếp vào các họ khác nhau
như Convallariaceae Horaninow [2-4], Liliaceae
Jussieu [5,6] hoặc Ruscaceae s.l. [7-9], nay thuộc
phân họ Nolinoideae Bernett trong Asparagaceae
s.l. [10-14]. Aspidistra phân bố tự nhiên ở vùng
Đông và Đông Nam châu Á [5], tập trung chủ
yếu ở Nam Trung Quốc, Lào và Việt Nam [15-
18], với trên 170 loài đã được ghi nhận [19].
Ở Việt Nam, một số loài trong Aspidistra
từng được ghi nhận dưới các tên chi khác nhau
là Colania Gagnep. (1934: 190), Evrardiella
Gagnep. (1934: 190) và Antherolophus Gagnep.
(1934: 191) [3,4,6, 20,21]. Tuy nhiên các chi đó
đã được chuyển vào Aspidistra [2,22] và được sử
dụng rộng khắp thế giới cho đến nay [5,11,15-
________
Tác giả liên hệ.
Địa chỉ email: thanhntsh@gmail.com
https://doi.org/10.25073/2588-1140/vnunst.5105
17,23-25]. Chi Aspidistra phân bố rộng từ Bắc
trải dài qua miền Trung và Tây Nguyên đến
Đông Nam Bộ [11], với trên 80 loài và phân loài
đã được ghi nhận cho hệ thực vật Việt Nam tính
đến nay [3,4,6,7,11,12,14,16-47]. Điều này
chứng tỏ Việt Nam là một trong những trung tâm
đa dạng loài Aspidistra của thế giới.
Trong quá trình nghiên cứu chi Aspidistra,
chúng tôi nhận thấy các mẫu vật thu ở Lạng Sơn
(HTS 637) có các đặc điểm hình thái phù hợp với
loài đặc hữu hẹp của Nam Trung Quốc là
Aspidistra papillata G.Z.Li (2003: 382) [48],
loài chưa được ghi nhận có ở Việt Nam trong các
nghiên cứu trước đây về Aspidistra ở Việt Nam.
Do đó, bài báo này nhằm mô tả loài bổ sung này
cho hệ thực vật Việt Nam và cung cấp một số
thông tin về hình thái, sinh học và sinh thái của
loài.
N.S. Khang et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 4 (2020) 69-76 71
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
- Vật liệu là mẫu tiêu bản thực vật thu được
tại Lạng Sơn, Đình Lập, Lâm Ca, dưới tán rừng
thứ sinh cây lá rộng thường xanh trên núi đất ở
độ cao khoảng 180-250 m so với mặt biển, xung
quang tọa độ 21o28′30″ N, 107o01′07″ E, ngày 14
tháng 3 năm 2019, Hoàng Thanh Sơn, HTS 637
(VAFS!, LE!, HN!).
- Mẫu hình ảnh so sánh lưu trữ ở các Phòng
tiêu bản thực vật: Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên
Quốc gia Pháp (P) [49], Viện Thực vật Komarov
(LE) [50], Viện Thực vật, Viện Hàn lâm Khoa
học Trung Quốc (PE) [51], Viện Thực vật Quảng
Tây (IBK) [52]. Viết tắt các phòng tiêu bản thực
vật theo Thiers [53].
- Hình minh họa được chụp ở thực địa và
trong phòng bởi máy ảnh Cannon EOS với ống
kit và macro.
- Phương pháp hình thái so sánh được sử
dụng trong nghiên cứu này.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Aspidistra papillata G.Z.Li, in Acta
Phytotax. Sin. 41 (4): 382, fig. 1 (2003); Li, The
genus Aspidistra: 82, figs 27-30 (2004);
Type: China, Guangxi, Nanning, Nanhu
Park, alt. 205 m, cultivated, 1999-06-18, G.Z.Li
16885 (Holotype: IBG); Guilin, Yanshan, alt.
180m, transplanted from Nanhu Park, Nanning,
2000-06-20, G.Z.Li 16885 (isotype:
IBK00200631!).
Tên tiếng Việt: Trứng nhện nhụy nhú li ty
Mô tả (Hình 1): Cây thảo lâu năm, sống trên
đất, thân rễ đơn hoặc phân nhánh 2-3 lần gồm 2
phần chính; phần không mang lá thường nằm
dưới mặt đất, ngang hoặc hơi xiên, dài 3-15 cm,
đường kính 5-8 mm, khúc khuỷu, cứng, màu
xanh lục nhạt hoặc màu nâu vàng đến nâu sẫm,
nhiều đốt (lóng), đốt phình hai đầu, cách nhau
khoảng 3-5 mm; phần mang lá hơi đứng hoặc
xiên, nổi trên mặt đất, dài (1)2-3(4.5) cm, đường
kính 8-13 mm, mang 3-5(7) lá, màu trắng đục
đến vàng nhạt, được bao phủ dày đặc bởi các sợi,
mảnh lá bẹ xơ xác và lá bẹ khô. Rễ 3-12 chiếc,
hơi thẳng, cứng, dài đến 20 cm, đường kính 2-3
mm, màu nâu vàng nhạt đến nâu, có nhiều lông
tơ trắng mềm bao phủ. Lá bẹ, 3-5, xếp lợp, ôm
lấy chồi hoặc lá non, hình mũi giáo, mũi giáo hẹp
đến hình dải, 2 mép cong vào trong, dài (1,5)3-
5,5(7) cm, rộng 8-11 mm (khi ép phẳng), màu
xanh lục lúc non hoặc trắng đục lẫn đỏ tía nhạt
đến sẫm, sau chuyển thành đỏ tía sẫm hoặc đen
rồi nâu hoặc nâu đen khi lụi, có nhiều gân nhỏ
chạy dọc từ gốc tới đỉnh, đầu tù. Lá đơn, mọc
cách nhau 0,5-1 cm hoặc sát nhau trên đốt, gần
đứng hoặc hơi xiên, có cuống rõ ràng; gốc cuống
phình ra, thuôn dài khoảng 8-10 mm, đường kính
4-8 mm, màu vàng đục đến xanh nhạt, cuống
cứng, hình trụ, dài (6)9-14(16) cm, rộng 2,5-3,5
mm, có rãnh ở mặt trên, màu xanh lá cây sẫm;
phiến lá dai, chất da, hình elíp hoặc elíp-thuôn
đến ngọn giáo, dài (16)18-24(26) cm, rộng (4)5-
6(7.5) cm, mặt trên bóng, xanh lá cây sẫm, mặt
dưới xanh lục nhạt, đôi khi có các đốm vàng ở cả
2 mặt lá, đầu từ từ thuôn dần có mũi nhọn, gốc
hình nêm, hơi lệch, men cuống, mép gợn sóng;
gân giữa lõm mặt trên, lồi từ gốc đến đỉnh ở mặt
dưới, 3-5 cặp gân cấp 2 hơi lồi ở mặt dưới. Hoa
1-2(3), lưỡng tính, mọc lên từ sườn bên của lóng,
có cuống; cuống dài (1,2)1,5-3,5(4,5) cm, đường
kính 2-2,5 mm, màu trắng đục hơi xanh-vành
nhạt với các vệt nhỏ ngắn màu đỏ tía, mang 5-8
lá vẩy mọc xít nhau ở gốc và cách nhau 3-12 mm
ở đầu đính với hoa; lá vẩy đa hình, từ tam giác
đến trứng, ngọn giáo hoặc hình đường, cong vào
trong, nhỏ và ngắn nhất ở gốc, to và dài dần lên
ở giữa và 2 lá vẩy lớn nhất ở trên cùng bao lấy
cuống và bao hoa, dài (0,7)1-2,5(3,2) cm, rộng
(5)8-12(15) mm, đầu nhọn đến có mũi kéo dài,
dai, nhẵn, màu nâu vàng với các vệt đỏ tía (lúc
tươi), nâu sẫm (khi khô), mép có màng mỏng.
Bao hoa đều, nở rộng 2,5-3 cm, gồm 2 phần;
phần dưới đính nhau thành ống bao hoa dạng
hình chuông, cao (12)14-16(18) mm, đường kính
(20)21-24(25) mm, nhẵn và bóng, mặt ngoài
màu trắng đục hơi vàng với các chấm đỏ tía dày
đặc ở bên, mặt trong đỏ tía sẫm đến tím đen, đáy
trắng đục hơi vàng cả trong và ngoài; phần trên
bao hoa xẻ 6 thùy gần bằng nhau, 3 thùy (cánh)
ngoài hơi lớn hơn và xếp đè lên 3 cánh trong, xòe
N.S. Khang et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 4 (2020) 69-76 72
rộng khi nở, rồi cong ngược ra sau, hình trứng
đến trứng-tam giác rộng, kích thước (9)10-
11(12) × (9)10-12(13) mm, mặt trong hơi gồ ghề,
thường có 3 đường gần thẳng chạy song song từ
dưới lên gần giữa thùy, màu đỏ tía, đỏ tía sẫm
đến gần tím đen, mặt ngoài xanh lục nhạt xen lẫn
các chấm và mảng đỏ tía, mép nguyên hoặc hơi
gợn sóng, đầu tù rộng đến gần tròn. Nhị 6, đính
vào gốc bao hoa, xếp vòng, cách nhau khoảng 3-
4 mm; chỉ nhị nằm gần ngang, hơi hướng lên,
hình trụ ngắn, kích thước khoảng 1,5-2 × 1,2-1,5
mm, gốc hơi phình, màu trắng; bao phấn đính
lưng, hình thận, 2 ô, kích thước 1,5-2 × 2,5-3
mm, màu vàng kem, mở bằng 2 rãnh chạy dọc.
Nhụy dạng hình phễu; đầu nhụy hình khiên, mặt
trên gần tròn, hơi lồi, phân 3 thùy chính, đầu mỗi
thùy lõm vào trong để tạo thành 2 thùy nhỏ (nhìn
rõ ở mặt dưới), có cấu trúc gồm nhiều nhú li ty
mềm, màu trắng sữa đục, mép cong xuống, rộng
16-18 mm, dày 3-4 mm, mặt dưới nhẵn, màu đỏ
tía sẫm đến tím đen; cột nhụy gần hình trụ, hơi
phình 2 đầu, cao 4-5 mm, rộng 2-3 mm, trắng
vàng đục ở giữa, đỏ tía ở 2 đầu, nhẵn, bóng; bầu
gần hình trụ, 3 ô, mỗi ô chưa 2 noãn hình trứng.
Sinh học và sinh thái: Cây trồng ở Trung
Quốc ra hoa tháng 6, cây mọc tự nhiên ra hoa
tháng 3 đến 4. Các thông tin về sinh thái của loài
này ở Quảng Tây (Trung Quốc) chưa được ghi
nhận (Li 2003, 2004), chỉ biết rằng chúng mọc ở
độ cao 160-400 m so với mặt nước biển dựa vào
các thông tin ghi nhận được ở mẫu nghiên cứu
dưới đây. Ở Việt Nam, cây mọc tự nhiên ra hoa
tháng 3, dưới dưới tán rừng thứ sinh cây lá rộng
thường xanh trên núi đất, nơi ẩm ướt ở độ cao
khoảng 180-250 m so với mặt nước biển, thường
mọc cùng với một số loài cây thảo như Begonia
handelii Irmsch., Jasticia sp., Staurogyne sp.,
Dianella ensifolia (L.) DC., Peliosanthes sp.,
ở khu vực nghiên cứu (xã Lâm Ca, huyện Đình
Lập, tỉnh Lạng Sơn). Quần thể ở Uông Bí, Quảng
Ninh mà Balansa thu được từ năm 1885 đến nay
chưa có thêm thông tin nào.
Phân bố: Việt Nam (Lạng Sơn: Đình Lập;
Quảng Ninh: Uông Bí), Trung Quốc (Quảng
Tây: Guilin, Ningming và Longzhou).
Mẫu nghiên cứu khác: Việt Nam, Tonkin,
forêt, an nam de Uonbi, 2 Novembre 1885, B.
Balansa 275 (P02157914!). China, Guangxi,
Guilin, alt. 170 m, 2009-03-29, Xu Wei Bin
09290 (IBK00223823!); Guangxi, Ningming
County, alt. 160-400 m, 22o14′31″ N, 107o3′38″
E, 2011-07-26, Huang Yu Song, Liao Yun Biao
et al. NM 1355 (IBK00206013!); Guangxi,
Longzhou County, alt. 400m, 2011-04-19,
Huang Yu Song Y0096 (IBK00281543!).
Thảo luận
Trong khi mô tả Li và Wei [48] ghi chú
Aspidistra papillata được phân biệt với loài A.
tonkinensis (Gagnep.) W.T.Wang & K.Y.Lang
[22] bằng thân rễ mập hơn, cuống phình lên, rộng
2,5-3,5 mm, phiến lá hình elíp đến thuôn-elíp,
hoa hình chuông rộng, dài 2,5-3 cm, kích thước
ống bao hoa 1,3-1,7 × 2-2,4 cm, bề mặt nhụy nhú
li ty [48]. Theo chúng tôi thì Aspidistra
tonkinensis phân biệt dễ ràng với loài trên là bởi
thân rễ của nó dài, mảnh, bao phủ bởi nhiều vảy
ngắn, nhỏ, lá mọc cách nhau 3-4 cm, cuống lá
dài đến 25 cm, thùy hoa màu trắng, bề mặt của
nhụy nhẵn không có nhú.
Aspidistra papillata có hình thái gần giống
với loài A. chongzuoensis C.R.Lin & Y.S.Huang
[54] về hình thái lá và hoa, tuy nhiên có thể dễ
ràng phân biệt chúng bởi một số đặc điểm sau:
Aspidistra chongzuoensis có cuống hoa rất ngắn,
5-10 mm, mang 4-5 lá vẩy hình trứng rộng, 2 lá
vẩy trên cùng nhỏ 6-8 × 8-10 mm, trong khi đó
A. papillata có cuống hoa dài đến 5,5 cm, mang
tới 8 lá vẩy đa hình, 2 lá vẩy trên cùng lớn 25-32
× 12-15 mm. Hơn nữa, A. chongzuoensis có bao
hoa 7-8 mảnh, 8 nhị, nhụy mặt trên phẳng, nhẵn,
có 4 đoạn kẻ từ giữa tỏa ra và phân đôi ở gần
mép, mép gợn sóng phân 16 thùy, thì A. papillata
bao hoa có 6 mảnh, 6 nhị, nhụy mặt trên hơi lồi,
phân 3 thùy chính, đầu mỗi thùy lõm vào trong
để tạo thành 2 thùy nhỏ (nhìn rõ ở mặt dưới), bề
mặt có cấu trúc gồm nhiều nhú li ty mềm, mép
gợn sóng, hơn cong xuống.
Aspidistra bicolor Tillich, loài phân bố ở
Thái Nguyên và Tam Đảo (Vĩnh Phúc) [16] có
hình thái lá và bao hoa gần giống với A.
N.S. Khang et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 4 (2020) 69-76 73
papillata, nhưng khác biệt bởi loài trước có
cuống hoa ngắn 1-2 cm (so với 1,2-5,5 cm),
mang 3-5 lá vẩy hình trứng rộng (s.v. 4-8 lá vẩy
đa hình), ống bao hoa hơi thắt hẹp lại ở gần gốc,
mặt ngoài màu trắng không có chấm đỏ tía (s.v.
không thắt, màu trắng đục-vàng với các chấm đỏ
tía dày đặc), bao phấn hơi hướng xuống (s.v. bao
phấn hơi hướng lên), đầu nhụy hẹp khoảng 10
mm và nhẵn mặt trên (s.v. 16-18 mm, dày đặc
nhú li ty).
Các mẫu nghiên cứu thu được ở Việt Nam có
vài điểm khác biệt nhỏ so với bản mô tả gốc của
loài Aspidistra papillata [48] như lá mọc xít
nhau hơn, cách nhau 0,5-1 cm (s.v. 0,5-2 cm),
phiến lá hẹp hơn, 16-26 × 4-7,5 cm (s.v. 18-25 ×
6-8,5 cm), cuống hoa dài 1,2-4,5 cm, mang 5-8
lá vẩy (s.v. 2,5-5,5 cm, mang 4-7 lá vẩy), thùy
bao hoa nhỏ hơn cỡ 9-12 × 9-13 mm (s.v. 12-15
× 14-16 mm). Sự khác biệt về mặt kích thước và
số lượng lá vẩy đó là điều bình thường và được
thể hiện ngay giữa các cá thể trong cùng một
quần thể chúng tôi nghiên cứu ở Lạng Sơn. Hơn
nữa quần thể ở Lạng Sơn cách nơi trồng của mẫu
type ở Trung Quốc trong mô tả gốc ít nhất cũng
khoảng 200 km đường chim bay, do đó sự biến
đổi về hình thái kể trên là điều tất yếu. Xét một
cách tổng thể thì các mẫu ở Việt Nam có đặc
điểm hình thái phù hợp với bản mô tả gốc loài
Aspidistra papillata G.Z.Li [48] dựa trên hình
dạng của các bộ bận thân rễ, lá, vẩy cuống hoa,
bao hoa, nhị, chỉ nhị và nhụy.
4. Kết luận
Aspidistra papillata G.Z.Li (Trứng nhện
nhụy nhú li ty) đã được mô tả và minh họa bằng
ảnh màu tương đối chi tiết cho hệ thực vật Việt
Nam. Bên cạnh đó một số dẫn liệu về phân loại,
mùa hoa, nơi mọc và khu vực phân bố của loài
đã được cập nhật và bổ sung.
Lời cảm ơn
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát
triển khoa học và công nghệ Quốc gia
(NAFOSTED) trong đề tài mã số 106.03-
2018.09. Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn
các phản biện đã đóng góp ý kiến và chỉnh sửa
cho bài báo này được tốt hơn.
Tài liệu tham khảo
[1] J.B. Ker Gawler, Aspidistra lurida, The Botanical
Register 8 (1822) t. 628.
[2] J.G. Conran, M.N. Tamura, Convallariaceae, in:
K. Kubitzki (Ed.), The Families and Genera of
Vascular Plants, Springer, Berlin Heidelberg, New
York, 3 (1998) 186-198.
[3] N.T. Do, Liliaceae In: Nguyen Tien Ban (Edit.),
Checklist plants of Vietnam, Agricultural
Publishing House, Hanoi, Vol III, 2005, 432-479.
[4] N.T. Do, Flora of Vietnam, Liliales Perleb, Vol. 8,
Science - Technology Publishing House Hanoi,
2007, P. 113-198.
[5] S.J. Liang, M.N. Tamura, Aspidistra Ker-Gawler.
in: C.Y. Wu, P.H. Raven & D.Y. Hong (Eds.),
Flora of China, Science Press, Beijing & Missouri
Botanical Garden, St. Louis, 24 (2000) 240-250.
[6] Pham Hoang Ho, An illustrated flora of Vietnam,
Vol. III. Young Publishing House Ho Chi Minh
City, 2000, P. 473-486.
[7] C. Bräuchler, L.H. Ngọc, Aspidistra renatae
(Ruscaceae)-A new species from Central
Vietnam, Blumea 50 (2005) 527-529.
doi.org/10.3767/000651905X622798.
[8] J.H. Kim, D.K. Kim, F. Forest, M.F. Fay, M.W.
Chase, Molecular phylogenetics of Ruscaceae
sensu lato and related families (Asparagales)
based on plastid and nuclear DNA sequences,
Annales of Botany 106 (2009) 775−790.
https://doi.org/10.1093/aob/mcq167 .
[9] S.Z. He, W.F. Xu, Y.Y. Wang & Q.W. Sun, A
New Species of Aspidistra (Ruscaceae) from
Guizhou, China, Novon 21 (2011) 187-189.
https://doi.org/10.3417/2009001.
[10] M.W. Chase, J.L. Reveal, M.F. Fay, A subfamilial
classification for the expanded asparagalean
families Amaryllidaceae, Asparagaceae and
Xanthorrhoeaceae, Botanical Journal of the
Linnean Society 161 (2009) 132-136. https://
doi.org/10.1111/j.1095-8339.2009. 00999.x.
[11] H.J. Tillich, The genus Aspidistra Ker-Gawl.
(Asparagaceae) in Vietnam, Taiwania 59 (2014)
1-8. https://taiwania.ntu.edu.tw/pdf/tai.2014.59.1.
pdf.
[12] L.V. Averyanov, T.A. Le, K.S. Nguyen, H.J.
Tillich, D.D. Nguyen, L.T.A. Hoang, H.D. Tran,
P.T.T Dat & T.V. Maisak, Aspidistra erosa, A.
sarcantha, and A. verruculosa (Asparagaceae),
N.S. Khang et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 4 (2020) 69-76 74
three new species from Vietnam, Phytotaxa 404
(2019) 102-110. https://doi.org/10.11646/phyto
taxa.404.3.2.
[13] C.R. Lin, B.M. Wang, J. Liu & Y. Liu, Aspidistra
synpetala and A. pulchella, two new species of
Aspidistra (Asparagaceae) from Guangxi, China,
Taiwania 64 (2019) 80-85. https://taiwania.ntu.
edu.tw/pdf/tai.2019.64.80.pdf.
[14] N.A. Vislobokov, A.N. Kuznetsov, S.P.
Kuznetsova, E.A. Kuzmicheva, Aspidistra
corniculata (Asparagaceae, Nolinoideae), a new
species from Vietnam, Phytotaxa 397 (2019) 125-
128. https://doi.org/10.11646/phytotaxa.397.1.15
[15] G.Z. Li, The genus Aspidistra, Guangxi Science &
Technology Publising House, Nanning, 2004, 229
pp.
[16] H.J. Tillich, A key for Aspidistra (Ruscaceae),
including fifteen new species from Vietnam,
Feddes Repertorium 116 (2005) 313-338. https://
doi.org/10.1002/fedr.200511076.
[17] H.J. Tillich, An updated and improved
determination key for Aspidistra KER-GAWL.
(Ruscaceae, Monocotyledons), Feddes
Repertorium 119 (2008) 449-462. https://doi.org/
10.1002/fedr.200811174.
[18] L.V. Averyanov, K.S. Nguyen, H.T. Son, H.J.
Tillich, T.V. Maisak, New taxa and taxonomic
notes in Aspidistra (Convallariaceae s.s.) of Laos
and Vietnam, Nordic Journal of Botany 37 (2019)
e02352. https://doi.org/10.1111/njb.02352.
[19] B. Pan, Y. Qin, C.R. Lin, Aspidistra luochengensis
(Asparagaceae), a new species from Guangxi,
China, Phytotaxa 387 (2019) 172-176. https://doi.
org/10.11646/phytotaxa.387.2.10
[20] F. Gagnepain, Les Aspidistrées d’Indo-Chine,
Bulletin du Museeum National d’Histoire
Naturelle, Serie 2 (1934) 189-192.
[21] F. Gagnepain, Liliacées in: H. Lecomte, H.
Humbert (Eds.), Flore Générale de L’Indo-Chine,
vol. 6, Mason, Paris, 1934, pp. 753-815.
[22] K.Y. Lang, Plantae novae Aspidistrae Sinicae,
Acta Phytotaxonomica Sinica 16 (1978) 76-77.
[23] H.J. Tillich, L.V. Averyanov, C.R. Lin, What is
Aspidistra tonkinensis (Gagnep.) Wang et Lang
(Asparagaceae)? Feddes Repertorium 128 (2017)
102-104. https://doi.org/10.1002/fedr.201700012.
[24] H.J. Tillich, L.V. Averyanov, A critical survey of
infraspecific taxa in the genus Aspidistra
(Asparagaceae), Feddes Repertorium 129 (2018)
185-188. https://doi.org/10.1002/fedr.201800002.
[25] L.V. Averyanov, H.J. Tillich, V.T. Pham, K.S.
Nguyen, T.A. Le, H.T. Nguyen, T.V. Maisak,
A.H.L. Tuan, D.D. Nguyen, Q.C. Truong, T.L.T.
Nguyen & T.C. Vu, New taxa and taxonomic
notes in Aspidistra (Convallariaceae s.s.) in China,
Laos and Vietnam, Nordic Journal of Botany 36
(2018) e01833. https://doi.org/10.1111/njb.01833.
[26] J. Leong-Škorničková, H.J. Tillich, Q.B. Nguyen,
Two new species and one new variety of
Aspidistra (Asparagaceae: Nolinoideae) from
Vietnam, Gardens Bulletin Singapore 66 (2014)
27-37.
[27] L.V. Averyanov, H.J. Tillich, Aspidistra laotica,
A. multiflora, A. oviflora and A. semiaperta spp.
nov. (Asparagaceae, Convallariaceae s.s.) from
eastern Indochina, Nordic Journal of Botany 33
(2015) 366-376.https://doi.org/10.1111/njb.00664.
[28] L.V. Averyanov, H.J. Tillich, Aspidistra anomala,
A. elegans and A. sinensis spp. nov.
(Asparagaceae, Convallariaceae s.s.) from China,
Laos and Vietnam, Nordic Journal of Botany 34
(2016) 141-147. https://doi: 10.1111/njb.01014.
[29] L.V. Averyanov, H.J. Tillich, Notes on taxonomy
and new taxa of Aspidistra (Ruscaceae) in the
flora of Laos and Vietnam, Nordic Journal of
Botany 35 (2017) 48-57. https://doi: 10.1111
/njb.01249.
[30] L.V. Averyanov, H.J. Tillich, X.M. Guo, Q.H.
Bui, K.S. Nguyen, Three new species of
Aspidistra (Convallariaceae) from Vietnam,
Wulfenia 23 (2016) 57-67.
[31] L.V. Averyanov, H.J. Tillich, T.A. Le, V.T. Pham,
T.V. Maisak, T.C. Vu, Aspidistra letreae
(Asparagaceae), a new species from central
Vietnam, Phytotaxa 308 (2017): 137-140. https://
doi.org/10.11646/phytotaxa.308.1.14.
[32] L.V. Averyanov, K.S. Nguyen, H.J. Tillich, T.V.
Maisak, Aspidistra bella (Asparagaceae), a new
species from northern Vietnam, Phytotaxa 364
(2018) 205-208. https://doi.org/10.11646/phyto
taxa.364.2.8
[33] O. Colin, Aspidistra tillichiana (Asparagaceae), a
new species from Northern Vietnam, Phytotaxa
212 (2015) 243-245.
phytotaxa.212.3.7.
[34] N.S. Ly, H.J. Tillich, Aspidistra averyanovii and
A. parviflora (Asparagaceae), two new species
Central Vietnam, Phytotaxa 282 (2016) 53-60.
https://doi.org/10.11646/phytotaxa.282.1.6.
[35] N.S. Ly, H.J. Tillich, Aspidistra cadamensis
(Asparagaceae), a new species from Central
Vietnam, Phytotaxa 303 (2017) 84-88. https://doi.
org/10.11646/phytotaxa.303.1.8.
[36] N.S. Ly, T. Haevermans & H.J. Tillich, Aspidistra
quangngaiensis, a new species of Asparagaceae
from Vietnam, Phytotaxa 312 (2017) 123-128.
https://doi.org/10.11646/phytotaxa.312.1.11.
[37] K.S. Nguyen, L.V. Averyanov, H.J. Tillich, V.T.
Pham, T.V. Maisak, N.S. Ly, Aspidistra
cyathiflora var. bifolia and A. neglecta spp. nov.
N.S. Khang et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 4 (2020) 69-76 75
(Convallariaceae) from northern Vietnam, Nordic
Journal of Botany 35 (2017) 482-487. https://doi.
org/10.1111/njb.01504.
[38] K.S. Nguyen, L.V. Averyanov, H.J. Tillich,
T.M.L. Le, T.H. Nguyen, Aspidistra babensis
(Asparagaceae), a new species from northern
Vietnam, Annales Botanici Fennici 57 (2020) 17-
22. https://doi.org/10.5735/085.057.0103.
[39] N.A. Vislobokov, Two new species of Aspidistra
(Asparagaceae: Nolinoideae) from northern
Vietnam: A. clausa and A. triradiata, Phytotaxa
207 (2015) 265-272.
phytotaxa.207.3.4.
[40] N.A. Vislobokov, Aspidistra obtusata sp. nov.
(Asparagaceae) from Vietnam, Nordic Journal of
Botany 34 (2016) 694-698. https://doi.org/10.
1111/njb.01227
[41] N.A. Vislobokov, D.D. Sokoloff, G.V.
Degtjareva, C.M. Valiejo-Roman, A.N.
Kuznetsov, M.S. Nuraliev, Aspidistra paucitepala
(Asparagaceae), a new species with occurrence of
the lowest tepal number in flowers of Asparagales,
Phytotaxa 161 (2014) 270-282.
10.11646/phytotaxa.161.4.2.
[42] N.A. Vislobokov, D.D. Sokoloff, G.V. Degtjareva,
C.M. Valiejo-Roman & A.N. Kuznetsov, Aspidistra
xuansonensis (Asparagaceae), a new species from
northern Vietnam, Phytotaxa 173 (2014) 226-234.
http:// dx.doi.org/10.11646/phytotaxa.173.3.5
[43] N.A. Vislobokov, M.S. Nuraliev, A.N. Kuznetsov,
S.P. Kunznetsova, Aspidistra cylindrica
(Asparagaceae), a new species from Southern
Vietnam, Systematic of Botany 41 (2016) 160-
165.
[44] N.A. Vislobokov, M.S. Nuraliev, A.N. Kuznetsov,
S.P. Kuznetsova, Aspidistra globosa
(Asparagaceae, Nolinoideae), a new species with
erect stem from southern Vietnam, Phytotaxa 282
(2016) 46-52. https://doi.org/10.11646/phytotaxa.
282.1.5.
[45] N.A. Vislobokov, A.N. Kuznetsov, S.P.
Kuznetsova, M.S. Romanov & M.S. Nuraliev,
Aspidistra viridiflora (Asparagaceae,
Nolinoideae), a new species from Vietnam,
Phytotaxa 313 (2017) 203-209. https://doi.org/10.
11646/phytotaxa.313.2.6.
[46] N.A. Vislobokov, A.N. Kuznetsov, S.P.
Kuznetsova, M.S. Romanov, M.S. Nuraliev,
Aspidistra minor (Asparagaceae, Nolinoideae), a
tiny new species from Vietnam, Phytotaxa 402
(2019) 63-67. https://doi.org/10.11646/phytotaxa.
402.1.9.
[47] N.A. Vislobokov, M.S. Nuraliev, A.N. Kuznetsov,
S.P. Kuznetsova, Aspidistra micrantha
(Asparagaceae, Nolinoideae), a new species from
Vietnam with unusually small flowers, Phytotaxa
422 (2019) 289-294. https://doi.org/10.11646/
phytotaxa.422.3.8.
[48] G.Z. Li, Y.G. Wei, Two new species of Aspidistra
Ker-Gawl. (Liliaceae), Acta Phytotaxonomica
Sinica 41 (2003) 381-386.
[49] Muséum National D’Histoire Naturelle. https://
science.mnhn.fr/all/search (accessed 5 July 2020).
[50] Vascular Plants Herbarium of the Komarov
Botanical Institute RAS-Herbarium LE.
(accessed 20 June
2020).
[51] Herbarium (PE), Institute of Botany, Chinese
Academy of Sciences.
(accessed 25 June 2020).
[52] Herbarium (IBK), Guangxi Institute of Botany,
Chinese Academy of Sciences.
gxib.cn/spIBK/ (accessed 26 June 2020).
[53] B.M. Thiers (continuously updated), Index
Herbariorum: A global directory of public
herbaria and associated staff, New York
Botanical Garden’s Virtual Herbarium, Available
from
(accessed 12 July 2020).
[54] Y.S. Huang, W.B. Zeng, F. Zhu, C.R. Lin,
Aspidistra chongzuoensis (Asparagaceae): a new
species from limestone areas in Guangxi, China,
Phytotaxa 208 (2015) 231-235. https://doi.org/10.
11646/phytotaxa.208.3.6.
N.S. Khang et al. / VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technology, Vol. 36, No. 4 (2020) 69-76 76
Hình 1. Aspidistra papillata G.Z. Li. A - Cây mọc trong tự nhiên; B - Dạng cây; C & D - Đoạn thân rễ mang lá
bẹ và hoa; E - Cuống hoa và các lá vẩy; F - Bao hoa nguyên, nhìn từ đáy; G - Bao hoa cắt dọc; H - Nhụy cắt dọc;
I - Mặt dưới nhụy; J - Nhị; K - Bầu cắt ngang; Ảnh A, B, D, F, H & I (Hoàng Thanh Sơn); C, E, G, J & K
(Nguyễn Sinh Khang) chụp từ mẫu HTS 637.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
aspidistra_papillata_g_z_li_asparagaceae_juss_loai_bo_sung_c.pdf