Kết quả nghiên cứu cho thấy, độ phong
phú của L. diardi có tương quan nghịch với
khoảng cách đến các trạm bảo vệ rừng
(β= 0,25) và sự xuất hiện của con người
(β=0,22). Rõ ràng, độ phong phú của loài giảm
dần ở những khu vực xa trạm bảo vệ rừng và
những nơi có sự xuất hiện của con người
thường xuyên hơn do không bị kiểm soát. Vị trí
và hoạt động tuần tra của các trạm như hiện
nay có thể ngăn chặn các vụ xâm nhập trái
phép ngay từ ngoài Vườn quốc gia. Dữ liệu thu
được từ bẫy chụp ảnh cho thấy hầu hết những
khu vực có tần suất xuất hiện cao của gà lôi
hông tía (hình 2) và con người ít xuất hiện
(hình 3) đều là những khu vực gần trạm bảo vệ
rừng và kết quả ngược lại ở những khu vực xa
trạm.
Kết quả nghiên cứu này cũng cho thấy các
hoạt động tuần tra ở những khu vực xa trạm
bảo vệ rừng cần tăng cường hơn so với những
khu vực gần trạm. Thực tế cho thấy, các trạm
bảo vệ rừng đóng vai trò rất quan trọng trong
việc thực thi pháp luật, ngăn chặn các hoạt
động săn bắt trong các khu bảo tồn
(Ghoddousi et al., 2016; Jenks et al., 2012)
cũng như góp phần định hình sự phân bố của
nhiều loài động vật theo không gian (Dajun et
al., 2006; Hunter & Cresswell, 2015; Jenks et
al., 2012). Những khu vực xa trạm bảo vệ
rừng thường có các hoạt động săn bắt cao hơn
và mật độ của nhiều loài động vật thấp hơn so
với các khu vực gần trạm (Ghoddousi et al.,
2016; Hunter & Cresswell, 2015; Jenks et al.,
2012). Việc tăng cường giám sát, đánh giá t ần
suất và qui mô của các hoạt động tuần tra bảo
vệ rừng hàng năm góp phần nâng cao hiệu quả
của công tác bảo tồn vì đã làm giảm rất nhiều
số vụ săn bắt trong các khu bảo tồn tại châu
Phi (Hilborn et al., 2006; Jachmann, 2008). Vì
vậy, ở VQG LG-XM, để nâng cao hiệu quả
của các hoạt động tuần tra bảo vệ rừng cần
đẩy mạnh công tác quản lý và tăng cường
giám sát hoạt động ở khu vực xa các trạm bảo
vệ rừng.
Mối đe dọa đến Lophura diardi
Kết quả phân tích cho thấy tần suất hiện
diện của con người (người dân) có tương quan
nghịch với sự hiện diện và số lượng của gà lôi
hông tía (hình 2, 3 và bảng 2). Theo báo cáo
của VQG-LGXM, trung bình mỗi năm số
lượng bẫy dây cáp (bẫy giò) do nhân viên của
Vườn tháo gỡ khoảng 1.750 chiếc cùng với
các dụng cụ săn bắt khác như lưới và súng
săn. Ngoài ra, qua những dữ liệu từ bẫy ảnh
cho thấy con người xuất hiện trong rừng cùng
với súng săn, chó săn và các lâm sản ngoài gỗ
(tổng số hình ảnh về người dân vào rừng từ
bẫy chụp ảnh là 42), chúng tôi cho rằng sự
hiện diện của họ trong rừng có những tác
động đáng kể đến tài nguyên và môi trường
sống ở đây trong đó có hoạt động săn bắt.
10 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 5 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Assessing status and habitat of siamese fireback (lophura diardi) by using camera trap in Lo Go-Xa Mat national park, Viet Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TAP CHI SINH HOC 2020, 42(1): 51–60
DOI: 10.15625/0866-7160/v42n1.14504
51
ASSESSING STATUS AND HABITAT OF SIAMESE FIREBACK (Lophura
diardi) BY USING CAMERA TRAP IN LO GO-XA MAT NATIONAL PARK,
VIETNAM
Nguyen Tran Vy1,*, To Quang2, Ho Dac Long2, Hoang Van Hai2,
Huynh Huu Phuong2, Nguyen Long Dien2, Nguyen Minh Tan3
1Institute of Tropical Biology, VAST, Vietnam
2Lo Go-Xa Mat National Park, Tay Ninh Province, Vietnam
3Department of Science and Technology, Tay Ninh Province, Vietnam
Received 17 October 2019, accepted 10 February 2020
ABSTRACT
Siamese fireback, Lophura diardi, belonging to Galliformes is at risk due to habitat loss and
hunting, which are main challenges to conservation of the species. In order to provide scientific
information to conserve the L. diardi, we implemented a camera-trap survey in Lo Go-Xa Mat
National Park from 2017 to 2018. Occupancy and Poisson regression models were used to
investigate presence of the species and potential factors influencing the occurrence of the species
in the study area. Our results showed that the probability of occurrence of the species at locations
within the park was high at 0.84 (0.69–0.92) and detection probability was relative low at 0.19
(0.16–0.23). The best models consistently suggested that the abundance of the species was high
in closed canopy forest cover (β = 0.41), but appeared to be notably lower in areas far away from
the ranger stations (β = -0.25) and in places with high frequency of human (β = -0.22). This
research provided the first quantitative information of status and potential factors influencing
occurrence of the L. diardi in the park, which is an essential data for developing practical actions
to protect the species and monitoring program in the future for the park.
Keywords: Lophura diardi, species conservation, camera trap, Siamese fireback, Lo Go-Xa Mat.
Citation: Nguyen Tran Vy, To Quang, Ho Dac Long, Hoang Van Hai, Huynh Huu Phuong, Nguyen Long Dien,
Nguyen Minh Tan, 2020. Assessing status and habitat of siamese fireback (Lophura diardi) by using cameratrap in
Lo Go-Xa Mat National Park, Vietnam. Tap chi Sinh hoc, 42(1): 51–60. https://doi.org/10.15625/0866-
7160/v42n1.14504.
*Corresponding author email: vychim@yahoo.com
©2020 Vietnam Academy of Science and Technology (VAST)
TAP CHI SINH HOC 2020, 42(1): 51–60
DOI: 10.15625/0866-7160/v42n1.14504
52
SỬ DỤNG BẪY CHỤP ẢNH ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ SINH CẢNH SỐNG
CỦA GÀ LÔI HÔNG TÍA (Lophura diardi) Ở VƯỜN QUỐC GIA
LÒ GÒ-XA MÁT, VIỆT NAM
Nguyễn Trần Vỹ1,*, Tô Quang2, Hồ Đắc Long2, Hoàng Văn Hải2,
Huỳnh Hữu Phương2, Nguyễn Long Điền2, Nguyễn Minh Tần3
1Viện Sinh học Nhiệt đới, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2Vườn Quốc gia Lò Gò-Xa Mát, Tây Ninh
3Sở Khoa học và Công nghệ Tây Ninh
Ngày nhận bài 17-10-2019, ngày chấp nhận 10-2-2020
TÓM TẮT
Gà lôi hông tía, Lophura diardi, thuộc Bộ gà (Galliformes) đang bị đe dọa do mất nơi sinh
sống và săn bắt. Đây là những thách thức lớn đối với bảo tồn loài. Nhằm cung cấp cơ sở khoa
học cho bảo tồn loài gà lôi hông tía, chúng tôi đã sử dụng bẫy chụp ảnh để nghiên cứu tại
Vườn quốc gia Lò Gò-Xa Mát từ năm 2017 đến năm 2018. Mô hình xác suất hiện diện loài và
hàm hồi quy phân phối Poisson được sử dụng để đánh giá sự có mặt và xác định các yếu tố có
thể ảnh hưởng đến sự hiện diện của loài trong khu vực nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho
thấy xác suất hiện diện của loài cao ở mức 0,84 (0,69–0,92) và xác suất bắt gặp loài tương đố i
thấp ở mức 0,19 (0,16–0,23). Những mô hình chỉ ra độ phong phú của loài cao trong sinh cảnh
rừng có độ che phủ cao (β = 0,41), nhưng thấp ở những khu vực xa trạm bảo vệ rừng (β = -
0,25) và ở những nơi có tần suất hoạt động của con người cao (β = -0,22). Đây là dữ liệu định
lượng đầu tiên về hiện trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hiện diện của L. diardi ở Vườn
quốc gia Lò Gò-Xa Mát làm cơ sở khoa học giúp chương trình giám sát và bảo tồn loài Gà lôi
hông tía, L. diardi, ở đây.
Từ khóa: Lophura diardi, bảo tồn loài, bẫy chụp ảnh, gà lôi hông tía, Lò Gò-Xa Mát.
*Địa chỉ liên hệ email: vychim@yahoo.com
MỞ ĐẦU
Trên thế gới, trong tổng số 308 loài thuộc
bộ Gà (Galliformes), có khoảng 25% thuộc
nhóm các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng cao
(Hilton-Taylor et al., 2009; IUCN, 2019).
Việt Nam có 22 loài thuộc họ chim Trĩ
(Phasianidae) trong đó có một loài rất nguy
cấp (CR), một loài nguy cấp (EN), bốn loài
sắp nguy cấp (IUCN, 2019). Hiện nay, ngoài
sinh cảnh sống bị suy giảm (Vy et al., 2017a;
Wege et al., 1999), săn bắt vẫn là mối đe dọa
hàng đầu đối với đa dạng sinh học ở Việt
Nam, đặc biệt là săn bắt bằng bẫy dây cáp
(bẫy giò) (Gray et al., 2018). Hình thức săn
bắt này có ảnh hưởng rất lớn đến các loài
sống trên nền đất trong đó có các loài chim
Trĩ mặc dù chúng không phải là mục tiêu săn
bắt (McGowan & Garson, 2002). Tuy là
nhóm đối tượng đang bị tác động nhiều,
những nghiên cứu về sinh thái học, hiện
trạng bảo tồn cũng như phân bố của các loài
chim Trĩ ở Đông Nam Á nói chung, Việt
Nam nói riêng rất ít (Brickle et al., 2008;
Grainger et al., 2018). Thiếu dữ liệu khoa
học về hiện trạng và sinh thái của các loài
dẫn đến những khó khăn trong việc xây dựng
các kế hoạch quản lý bảo tồn nhằm hạn chế
Assessing status and habitat of siamese fireback
53
nguy cơ tuyệt chủng của chúng trong đó có
các lòai chim trĩ (Duckworth et al., 2012;
Grainger et al., 2017).
Vườn quốc gia Lò Gò-Xa Mát (VQG-
LGXM), có ít nhất 5 loài thuộc họ chim Trĩ
trong đó có gà tiền mặt đỏ (Polyplectron
germaini) (phân hạng bảo tồn sắp nguy cấp
(NT)) và gà lôi hông tía (L. diardi) (phân hạng
bảo tồn ít lo ngại LC) (BirdLife International,
2019). Phân hạng bảo tồn của gà tiền mặt đỏ
và gà lôi hông tía trong sách đỏ Việt Nam là
sẽ nguy cấp (VU) (Anonymous, 2007b). Tuy
nhiên đến nay hầu như không còn ghi nhận gà
tiền mặt đỏ (Anonymous, 2007a) và chưa có
những dữ liệu về hiện trạng của gà lôi hông
tía ở đây. Trong nghiên cứu này chúng tôi t ập
trung đánh giá: 1) xác suất hiện diện và xác
suất bắt gặp gà lôi hông tía tại VQG-LGXM;
2) đánh giá một số yếu tố có thể ảnh hưởng
đến sự hiện diện của loài tại VQG-LGXM; 3)
xác định mối đe dọa đến sự hiện diện của gà
lôi hông tía tại VQG-LGXM.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
Địa điểm nghiên cứu
VQG-LGXM thuộc huyện Tân Biên, tỉnh
Tây Ninh (191,97 km2, 11o02’–11o47’N,
105o57’–106o04’E. Toàn VQG-LGXM có 17
trạm bảo vệ rừng được bố trí trên trục lộ chính
bao quanh và một trạm Đa Ha nằm bên trong
VQG-LGXM (hình 1). Địa hình khá bằng
phẳng, độ cao dao động từ 5−25 m so với mực
nước biển và độ dốc từ 1−5o. Thảm thực vật
của VQG-LGXM bao gồm các sinh cảnh
chính như rừng thường xanh (76%), bán rụng
lá xen cây bụi (3%), rừng rụng lá ngập nước
theo mùa (2%), trảng cỏ (4.3%) và một số
sinh cảnh khác. Tại VQG-LGXM, mùa mưa
kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10 với lượng
mưa trung bình năm khoảng 1.800 mm, mùa
khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 5 năm và
nhiệt độ trung bình năm 26,9oC (Anonymous,
2007a).
Hình 1. Vị trí hành chính của Vườn Quốc gia Lò Gò-Xa Mát và vị trí bẫy chụp ảnh
Nguyen Tran Vy et al.
54
Đặt bẫy chụp ảnh
Sử dụng 74 bẫy chụp ảnh (camera traps)
cảm biến chuyển động và hồng ngoại (hiệu
Bushnell Tropy Cam HD Brown, model
119874C) và đặt liên tục từ 2 đến 3 tháng trong
sinh cảnh rừng thường xanh từ tháng 11 năm
2017 đến tháng 5 năm 2018 để đảm bảo giả
định một quần thể đóng về thời gian
(MacKenzie, 2006). Vị trí các bẫy chụp ảnh
được đặt cách xa nhau ít nhất là 700m để thỏa
mãn giả định tính độc lập của các ghi nhận
giữa các máy ảnh (MacKenzie, 2006) (hình 1).
Để ghi nhận hình ảnh của gà lôi hông tía tốt
nhất, bẫy chụp ảnh được gắn trên gốc cây cách
mặt đất từ 30–40 cm và được cài đặt chế độ
chụp 3 hình liên tục cho mỗi lần chụp với
khoảng thời gian giữa hai lần chụp là 0,3 giây.
Điều tra số liệu về sinh cảnh sống
Độ che phủ và độ dày của thảm thực vật
rừng là những yếu tố môi trường tự nhiên có
ảnh hưởng đến các loài thuộc họ chim Trĩ
trong các nghiên cứu trước đây (Sukumal et
al., 2015; Suwanrat et al., 2014; Vy et al.,
2017a). Các yếu tố có liên quan đến con người
như khoảng cách đến các trạm bảo vệ rừng,
tần suất hiện diện của con người và những tác
động của họ trong khu vực nghiên cứu được
dùng để đánh giá hiệu quả công việc tuần tra
của các trạm bảo vệ rừng (Ghoddousi et al.,
2016; Hossain et al., 2016; Jenks et al., 2012).
Vì vậy các yếu tố trên được thu thập để đánh
giá sự ảnh hưởng của chúng lên phân bố của
gà lôi hông tía tại VQG-LGXM. Dữ liệu độ
che phủ của rừng và độ dày của thảm thực vật
được thu thập theo tài liệu hướng dẫn
(Abrams et al., 2018) và được xử lý bằng
phần mềm GIMP phiên bản 2.10.12, R phiên
bản 3.5.3 (R Development Core Team, 2019).
Khoảng cách từ bẫy chụp ảnh đến các đội bảo
vệ rừng được tính bằng phần mềm ArcGIS
phiên bản 10.3 (ESRI, Redlands, USA). Tần
suất hiện diện của con người là số lần xuất
hiện của con người tại từng bẫy chụp ảnh.
Hình ảnh từ các bẫy chụp ảnh được kiểm
tra xác định L. diardi và những người xuất
hiện trong khu vực nghiên cứu. Sự xuất hiện
và xác suất bắt gặp trung bình của L. diardi
trong khu vực nghiên cứu được đánh giá bằng
mô hình xác xuất hiện diện loài (không có các
yếu tố môi trường) (MacKenzie, 2006). Để
tăng độ chính xác của các mô hình, chúng tôi
kết hợp dữ liệu của 6 ngày liên tục thành một
lần khảo sát (Rovero et al., 2010; Tilker et al. ,
2018) để tạo thành 11 lần khảo sát lặp lại cho
tất cả các bẫy chụp ảnh trong nghiên cứu này.
Thời gian giữa các ghi nhận độc lập về L.
diardi phải cách nhau ít nhất 60 phút kể từ lần
ghi nhận sau cùng trước đó nhằm tránh trường
hợp đếm lặp lại nhiều lần đối với những cá thể
hiện diện quá lâu trước bẫy chụp ảnh
(MacKenzie, 2006; Mugerwa et al., 2013). Tất
cả các bước xử lý dữ liệu trên đều thực hiện
bằng phần mềm R phiên bản 3.5.3 (R
Development Core Team, 2019) với các gói
camtrapR phiên bản 0.99.9 (Niedballa et al.,
2017) và gói Unmarked phiên bản 0.12-3
(Fiske et al., 2019).
Các mô hình tương quan phân phối
Poisson được sử dụng để đánh giá sự ảnh
hưởng của các yếu tố môi trường lên sự hiện
diện của L. diardi trong khu vực khảo sát. Số
lượng L. diardi của mỗi lần khảo sát lặp lại
trong mô hình là số lượng cá thể của lần ghi
nhận cao nhất trong tất cả các lần ghi nhận
độc lập của lần khảo sát lặp lại đó. Mô hình
tương quan thích hợp nhất được lựa chọn dựa
vào chỉ số AICc (Akaike Information
Criterion) (Akaike, 1973) với chỉ số AICc
thấp nhất và chỉ số wi (Akaike model weights)
cao nhất (Burnham & Anderson, 2002). Các
biến độc lập liên tục được chuẩn hóa
(Gelman, 2008) và kiểm tra sự tương quan
theo phương pháp Pearson trước khi đưa vào
các mô hình phân tích.
KẾT QUẢ
Có 74 bẫy chụp ảnh đã được đặt ngoài
thực địa tại VQG LG-XM với tổng thời gian
là 4.818 đêm, trong đó có 56 máy có ghi nhận
hình ảnh L. diardi (hình 2) và 28 máy ghi
nhận có xuất hiện con người hoạt động t rong
khu vực nghiên cứu (hình 3).
Kết quả phân tích sự hiện diện của L.
diardi cho thấy, xác suất bắt gặp trung bình
của chúng lần lượt là 0,84 (0,69–0,92, SE =
0,06) và 0,19 (0,16–0,23; SE = 0,02) trong
điều kiện không bị chi phối bởi các yếu tố
môi trường.
Assessing status and habitat of siamese fireback
55
Hình 2. Tần suất hiện diện của gà lôi hông tía tại các bẫy chụp ảnh
Hình 3. Tần suất hiện diện của con người trong khu vực nghiên cứu
Nguyen Tran Vy et al.
56
Các yếu tố ảnh hưởng đến độ phong phú
của L. diardi
Có 16 mô hình tương quan phân phối
Poisson đã được xây dựng kể cả mô hình
không biến số. Mô hình tốt nhất bao gồm ba
yếu tố môi trường đó là độ che phủ của rừng,
khoảng cách đến các trạm bảo vệ rừng và tần
suất hoạt động của con người trong khu vực
nghiên cứu (bảng 1). Kết quả phân tích hệ số
biến thiên của các yếu tố môi trường từ mô
hình tốt nhất cho thấy L. diardi có xu hướng
phân bố trong sinh cảnh rừng có độ che phủ
cao (β=0,41) ở những khu vực gần các trạm
bảo vệ rừng (β=-0,25) và khu vực ít có sự
hiện diện của người dân (β=-0,22) (bảng 2).
Bảng 1. Hai mô hình tốt nhất về tương quan giữa các yếu tố môi trường với số lượng
của gà lôi hông tía (L. diardi) được lựa chọn từ 16 mô hình đã xây dựng. Mô hình
có 3 biến số bao gồm độ che phủ của rừng, khoảng cách đến các trạm bảo vệ rừng
và tần suất hiện diện của con người có chỉ số AICc thấp nhất (AICc=1110,28)
và mức độ thích hợp với thực tế cao nhất (AICcWt = 0,60)
Các yếu tố ảnh hưởng Tham số AICc Delta AICc AICcWt Cum.Wt
1. Độ che phủ của rừng,
2. Khoảng cách đến trạm bảo vệ rừng
3. Tần suất hiện diện của con người
4 1.110,28 0 0,60 0,60
1. Độ che phủ của rừng,
2. Khoảng cách đến trạm bảo vệ rừng
3. Tần suất hiện diện của con người
4. Độ dày của thảm thực vật
5 1.111,42 1,14 0,34 0,94
Ghi chú: K là số lượng tham số trong mô hình, ΔAICc là sự khác nhau giữa AICc của các mô hình đã
phân tích; Mô hình có giá trị ΔAICc=0 là mô hình có khả năng được chọn cao nhất. Mô hình có giá tr ị
ΔAICc trong khoảng 0–2 thì khả năng được chọn ở mức trung bình, giá trị này lớn hơn 2 thì khả năng
được lựa chọn rất thấp. Wi: mức độ thích hợp của mô hình so với thực tế.
Bảng 2. Hệ số biến thiên của các yếu tố môi trường trong mô hình tốt nhất
Các yếu tố ảnh hưởng
Hệ số
biến thiên
Sai số
chuẩn
Ngưỡng
dưới 95%
Ngưỡng trên
95%
Hệ số chặn -1,45 0,08 -1,61 -1,30
Độ che phủ của rừng 0,41 0,13 0,12 0,68
Khoảng cách đến trạm bảo vệ rừng -0,25 0,07 -0,33 -0,12
Tần suất hiện diện của con người -0,22 0,08 -0,39 -0,07
THẢO LUẬN
Xác suất hiện diện trung bình của L.
diardi trong khu vực nghiên cứu là 0,84 t rong
sinh cảnh rừng thường xanh có độ che phủ
của rừng cao (β=0.41). Xu hướng chọn nơi
sinh sống có độ che phủ của rừng cao đã được
ghi nhận ở các loài thuộc bộ Gà trong đó có L.
diardi (Sukumal et al., 2010; Suwanrat et al.,
2014), các loài khác như gà lôi Hume
(Syrmaticus humiae) (Iamsiri & Gale, 2008),
các loài Gà so như Arborophila torqueola
(Liao et al., 2007), Gà so Sichuan
(Arborophila rufipectus) (Bo et al., 2009; Liao
et al., 2008), Gà tiền mặt đỏ (Polyplectron
germaini), Gà so cổ hung (Arborophila
davidi), và Gà so ngực gụ (Tropicoperdix
chloropus) (Vy et al., 2017a; Vy et al.,
2017b). Sự lựa chọn kiểu sinh cảnh có đặc
điểm như vậy có thể giúp chúng giảm nhẹ khả
năng bị phát hiện bởi các loài ăn thịt, đặc biệt
là các loài săn mồi từ trên cao.
Loài L. diardi hoạt động khá rộng trong
khu vực nghiên cứu nhưng xác suất bắt gặp
khá thấp ở mức 0,19. Trước đây, chưa có
nghiên cứu nào về sinh cảnh hay hiện trạng
của L. diardi ở VQG-LGXM nên không thể
đánh giá sự biến động về hiện trạng phân bố
và xác suất bắt gặp loài này tại VQG-LGXM
Assessing status and habitat of siamese fireback
57
theo thời gian. Tuy nhiên, với sinh cảnh sống
phù hợp (độ che phủ trung bình của rừng cao
0,93%, SE=0,006), độ dày trung bình của
thảm thực vật cao và khá tương đồng trong
toàn khu vực nghiên cứu (0,75%, SE=0,011),
khả năng sinh sản của L. diardi cao (6,4±0,3
trứng/lứa) (Suwanrat et al., 2014) thì xác suất
bắt gặp ở mức 0,19 được xem là rất thấp so
với điều kiện môi trường sinh thái ở đây.
Ngoài các yếu tố môi trường tự nhiên, sự h iện
diện của L. diardi chắc chắn chịu ảnh hưởng
của những yếu tố có liên quan đến hoạt động
của con người.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, độ phong
phú của L. diardi có tương quan nghịch với
khoảng cách đến các trạm bảo vệ rừng
(β= 0,25) và sự xuất hiện của con người
(β=0,22). Rõ ràng, độ phong phú của loài giảm
dần ở những khu vực xa trạm bảo vệ rừng và
những nơi có sự xuất hiện của con người
thường xuyên hơn do không bị kiểm soát. Vị trí
và hoạt động tuần tra của các trạm như hiện
nay có thể ngăn chặn các vụ xâm nhập trái
phép ngay từ ngoài Vườn quốc gia. Dữ liệu thu
được từ bẫy chụp ảnh cho thấy hầu hết những
khu vực có tần suất xuất hiện cao của gà lôi
hông tía (hình 2) và con người ít xuất hiện
(hình 3) đều là những khu vực gần trạm bảo vệ
rừng và kết quả ngược lại ở những khu vực xa
trạm.
Kết quả nghiên cứu này cũng cho thấy các
hoạt động tuần tra ở những khu vực xa trạm
bảo vệ rừng cần tăng cường hơn so với những
khu vực gần trạm. Thực tế cho thấy, các t rạm
bảo vệ rừng đóng vai trò rất quan trọng trong
việc thực thi pháp luật, ngăn chặn các hoạt
động săn bắt trong các khu bảo tồn
(Ghoddousi et al., 2016; Jenks et al., 2012)
cũng như góp phần định hình sự phân bố của
nhiều loài động vật theo không gian (Dajun et
al., 2006; Hunter & Cresswell, 2015; Jenks et
al., 2012). Những khu vực xa trạm bảo vệ
rừng thường có các hoạt động săn bắt cao hơn
và mật độ của nhiều loài động vật thấp hơn so
với các khu vực gần trạm (Ghoddousi et al.,
2016; Hunter & Cresswell, 2015; Jenks et al.,
2012). Việc tăng cường giám sát, đánh giá t ần
suất và qui mô của các hoạt động tuần t ra bảo
vệ rừng hàng năm góp phần nâng cao hiệu quả
của công tác bảo tồn vì đã làm giảm rất nh iều
số vụ săn bắt trong các khu bảo tồn tại châu
Phi (Hilborn et al., 2006; Jachmann, 2008). Vì
vậy, ở VQG LG-XM, để nâng cao hiệu quả
của các hoạt động tuần tra bảo vệ rừng cần
đẩy mạnh công tác quản lý và tăng cường
giám sát hoạt động ở khu vực xa các trạm bảo
vệ rừng.
Mối đe dọa đến Lophura diardi
Kết quả phân tích cho thấy tần suất hiện
diện của con người (người dân) có tương quan
nghịch với sự hiện diện và số lượng của gà lôi
hông tía (hình 2, 3 và bảng 2). Theo báo cáo
của VQG-LGXM, trung bình mỗi năm số
lượng bẫy dây cáp (bẫy giò) do nhân viên của
Vườn tháo gỡ khoảng 1.750 chiếc cùng với
các dụng cụ săn bắt khác như lưới và súng
săn. Ngoài ra, qua những dữ liệu từ bẫy ảnh
cho thấy con người xuất hiện trong rừng cùng
với súng săn, chó săn và các lâm sản ngoài gỗ
(tổng số hình ảnh về người dân vào rừng từ
bẫy chụp ảnh là 42), chúng tôi cho rằng sự
hiện diện của họ trong rừng có những tác
động đáng kể đến tài nguyên và môi trường
sống ở đây trong đó có hoạt động săn bắt.
KẾT LUẬN
Sự thay đổi của sinh cảnh sống (habitat)
có ảnh hưởng đến phân bố và hoạt động của
Gà lôi hông tía, Lophura diardii. Vì vậy, điều
này cần được chú ý trong hoạt động quản lý
và bảo tồn loài này tại VQG LG-XM. Kết quả
nghiên cứu này cho thấy, Gà lôi hông tía phân
bố rộng trong sinh cảnh rừng thường xanh
nhưng xác suất bắt gặp thấp mà nguyên nhân
chính do việc tuần tra ở các khu vực xa trạm
bảo vệ rừng chưa thường xuyên, và đây cũng
là hạn chế lớn trong nỗ lực bảo tồn loài này ở
VQG.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Abrams J. F., Axtner J., Bhagwat T.,
Mohamed A., Nguyen A., Niedballa J.,
Sollmann R., Tilker A., Wilting A., 2018.
Studying terrestrial mammals in tropical
rainforests. A user’s guide for camera-
trapping and environmental DNA.
Leibniz-IZW, Berlin, Germany, pp. 88.
Nguyen Tran Vy et al.
58
Akaike H. 1973. Information theory and an
extension of the maximum likelihood
principle. In B. N. Petrovand & F. Csàki
(Eds.), 2nd International Symposium on
Information Theory, Akadémiai
Kiàdo,Budapest, Hungary pp. 267−281.
Anonymous, 2007a. Inverstigating status of
fauna and flora in Lo Go - Xa Mat
National park. Viện Sinh học Nhiệt đới.
Anonymous, 2007b. Vietnam Red Data Book
(Part 1 - Animals). Publishing House of
Natural Sciences and Technology, Ha Noi,
pp. 515.
BirdLife International, 2019. Lophura diardi.
The IUCN Red List of Threatened Species
2016: e.T22679274A92808547.
3.RLTS.T22679274A92808547.en .
[accessed 24 July, 2019].
Bo D., Dowell S. D., Garson P. J., Fen-Qi, H.,
2009. Habitat utilisation by the threatened
Sichuan partridge Arborophila rufipectus:
consequences for managing newly
protected areas in southern China. Bird
Conserv. Int, 19(2): 187−198.
Brickle N. W., Duckworth J., Tordoff A. W.,
Poole, C. M., Timmins, R., McGowan, P.
J., 2008. The status and conservation of
Galliformes in Cambodia, Laos and
Vietnam. Biodiversity and Conservation,
17(6): 1393−1427.
Burnham K. P., Anderson D. R., 2002. Model
selection and multimodel inference: a
practical information-theoretic approach
(2nd ed.). Springer Science & Business
Media, New York, pp. 482.
Dajun W., Sheng L., McShea W. J., Fu L. M.,
2006. Use of remote-trip cameras for
wildlife surveys and evaluating the
effectiveness of conservation activities at
a nature reserve in Sichuan Province,
China. Environmental Management,
38(6): 942−951.
Duckworth J., Batters G., Belant J., Bennett
E., Brunner, J., Burton, J., Challender, D.,
Cowling, V., Duplaix, N., Harris, J., 2012.
Why South-East Asia should be the
world’s priority for averting imminent
species extinctions, and a call to join a
developing cross-institutional programme
to tackle this urgent issue. J S.A.P.I.EN.S,
5(2): 1−19.
Fiske I., Chandler R., Miller D., Royle A.,
Kery, M., Hostetler, J., Hutchinson, R.,
Smith, A., Kellner, K., Royle, M. A.,
2019. Package ‘unmarked’.
Gelman A., 2008. Scaling regression inputs
by dividing by two standard deviations.
Stat Med, 27(15): 2865−2873.
Ghoddousi A., Kh. Hamidi A., Soofi M.,
Khorozyan I., Kiabi B., Waltert M., 2016.
Effects of ranger stations on predator and
prey distribution and abundance in an I
ranian steppe landscape. Animal
Conservation, 19(3): 273−280.
Grainger M. J., Garson P. J., Browne S. J.,
McGowan P. J., Savini, T., 2018.
Conservation status of Phasianidae in
Southeast Asia. Biological Conservation,
220: 60−66.
Grainger M. J., Ngoprasert D., McGowan P.
J., Savini, T., 2017. Informing decisions
on an extremely data poor species facing
imminent extinction. Oryx, 51(4): 1−7.
Gray T. N., Hughes A. C., Laurance W. F.,
Long, B., Lynam A. J., O’Kelly H.,
Ripple, W. J., Seng, T., Scotson, L.,
Wilkinson, N. M., 2018. The wildlife
snaring crisis: an insidious and pervasive
threat to biodiversity in Southeast Asia.
Biodiversity and Conservation, 27(4):
1031−1037.
Hilborn R., Arcese P., Borner M., Hando J.,
Hopcraft G., Loibooki M., Mduma S.,
Sinclair, A. R., 2006. Effective
enforcement in a conservation area.
Science, 314(5803): 1266−1266.
Hilton-Taylor C., Pollock C. M., Chanson J.
S., Butchart S. H., Oldfield T. E.,
Katariya, V., 2009. State of the world’s
species (J.-C. Vié, C. Hilton-Taylor & S.
N. Stuart Eds.). IUCN, Gland,
Switzerland, pp. 184
Assessing status and habitat of siamese fireback
59
Hossain A. N. M., Barlow A., Barlow C. G.,
Lynam, A. J., Chakma, S., Savini, T.,
2016. Assessing the efficacy of camera
trapping as a tool for increasing detection
rates of wildlife crime in tropical
protected areas. Biological Conservation,
201: 314–319.
Hunter M., Cresswell W., 2015. Factors
affecting the distribution and abundance
of the Endangered volcano rabbit
Romerolagus diazi on the Iztaccihuatl
volcano, Mexico. Oryx, 49(2): 366−375.
Iamsiri A., Gale G. A., 2008. Breeding season
habitat use by Hume's pheasant
Syrmaticus humiae in the Doi Chiang Dao
Wildlife Sanctuary, Northern Thailand.
Zool Stud, 47(2): 138-145.
IUCN 2019. Threatened species in each
country (totals by taxonomic group).
https://www.iucnredlist.org/resources/sum
mary-statistics#Summary%20Tables.
[accessed 22 July, 2019].
Jachmann H., 2008. Illegal wildlife use and
protected area management in Ghana.
Biological Conservation, 141(7):
1906−1918.
Jenks K. E., Howard J., Leimgruber P., 2012.
Do ranger stations deter poaching activity
in national parks in Thailand? Biotropica,
44(6): 826−833.
Liao W. B., Fuller R. A., Hu J. C., Li C.,
2008. Habitat use by endangered Sichuan
partridges Arborophila rufipectus during
the breeding season. Acta Ornithol, 43(2):
179−184.
Liao W. B., Hu J. C., Li C., 2007. Habitat
utilization during the pairing season by the
common hill partridge Arborophila
torqueola in Baiposhan Natural Reserve,
Sichuan, China. Ornithol Sci, 6(2): 87−94.
MacKenzie D. I., 2006. Occupancy estimation
and modeling: inferring patterns and
dynamics of species occurrence.
Academic Press, pp. 344
McGowan P. J., Garson, P. J., 2002. The
Galliformes are highly threatened: should
we care? Oryx, 36(04): 311−312.
Mugerwa B., Sheil D., Ssekiranda P., Heist,
M., Ezuma, P., 2013. A camera trap
assessment of terrestrial vertebrates in
Bwindi Impenetrable National Park,
Uganda. African Journal of Ecology,
51(1): 21−31.
Niedballa, J., Courtiol, A., Sollmann, R.
(2017) camtrapR: camera trap data
management and preparation of
occupancy and spatial capture-recapture
analyses. R package version 0.99. 9.
Development Core Team, 2019. R: A
language and environment for statistical
computing.
[accessed 5 January, 2019].
Rovero F., Tobler M., Sanderson J., 2010.
Camera trapping for inventorying
terrestrial vertebrates. Manual on field
recording techniques and protocols for All
Taxa Biodiversity Inventories and
Monitoring. The Belgian National Focal
Point to the Global Taxonomy Initiative:
100−128.
Sukumal N., Gale G. A., Savini T., 2010. Sub-
montane habitat selection by a lowland
pheasant. Raffles Bull. Zool, 58(2):
391−401.
Sukumal N., McGowan P. J., Savini T., 2015.
Change in status of green peafowl Pavo
muticus (Family Phasianidae) in
Southcentral Vietnam: A comparison over
15 years. Glob Ecol Conserv, 3(1): 11−19.
Suwanrat J., Ngoprasert D., Sukumal N.,
Suwanwaree P., Savini T., 2014.
Reproductive ecology and nest-site
selection of Siamese fireback in lowland
forest. Raffles Bull. Zool, 62(1): 581−590.
Tilker A., Nguyen A., Abrams J. F., Bhagwat ,
T., Le, M., Van Nguyen, T., Nguyen, A.
T., Niedballa, J., Sollmann, R., Wilting,
A., 2018. A little-known endemic caught
in the South-east Asian extinction crisis:
The Annamite striped rabbit Nesolagus
timminsi. Oryx: 1−10.
Vy N. T., Ngoprasert D., Browne S., Savini
T., 2017a. Status and range decline of two
Nguyen Tran Vy et al.
60
galliformes species in Southeast Asia.
Bird Conserv. Int, 27(4): 1–16. doi:
10.1017/S0959270917000168
Vy N. T., Ngoprasert D., Gale G. A., Browne,
S. J., Savini, T., 2017b. Co-occurrence of
two sympatric galliform species on a
landscape-scale. Raffles Bulletin of
Zoology, 65(1): 60−67.
Wege D. C., Long A. J., Vinh M. K., Dung V.
V., Eames J. C., 1999. Expanding the
protected areas network in Vietnam for
the 21st century: an analysis of the
current system with recommendations for
equitable expansion. BirdLife
International Vietnam Programme, Ha
Noi, Vietnam, pp. 74.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
assessing_status_and_habitat_of_siamese_fireback_lophura_dia.pdf