Gép nêm
Để tận dụng các ưu thế của các ngọn ghép và gốc ghép trong tổ hợp ghép
Cải tạo các vườn bị già cỗi
Yêu cầu
Gốc ghép và cành ghép phải có đường kính tương đương nhau. Gốc ghép không được quá già. Gốc ghép có thể gieo từ hạt hoặc giâm cành.
Chọn cành ghép bánh tẻ, cắt lá chừa cuống để bảo vệ mắt ngủ, không để lá vì khó thao tác và bay hơi nước. Một đoạn cành ghép phải có nhiều mắt.
Phương pháp ghép nêm
Cắt ngọn gốc ghép, chừa lại đoạn gốc 15 - 20 cm
Cắt vát 2 mặt của đuôi chồi ghép tạo nêm hình nêm có độ dài tương ứng với vết chẻ tách đôi trên gốc ghép (khoảng 4 cm)
Đưa chồi ghép vào gốc ghép sao cho có độ tiếp xúc tượng tầng cả 2 bên hoặc chỉ 1 bên. Dùng dây nilông quấn chặt buộc chặt kín vết ghép (thường sẽ dùng túi nhựa thấu quang chụp kín phần chồi ghép).
43 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 14 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Bài thuyết trình Một số giống chủ lực và kỹ thuật nhân giống cây họ cam quýt, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NÔNG HỌC
MỘT SỐ GIỐNG CHỦ LỰC VÀ KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CÂY HỌ CAM QUÝT
Nhóm sinh viên thực hiện:
NGUYỄN THÀNH AN
LÊ ĐÌNH ĐẠT
ĐOÀN DUY ĐẠT
NGUYỄN NGỌC SƠN
MỘT SỐ GIỐNG CAM QUÝT CHỦ LỰC Ở VIỆT NAM
Quýt
Tên khoa học: Citrus reticulata Blanco
Nguồn gốc: Đông Nam Á và quần đảo Malaysia.
Các vùng trồng quýt chính ở Việt Nam là: Cần Thơ, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng Tháp, Trà Vinh, Đồng Nai, Hòa Bình, Nghệ An và Lạng Sơn .
Giá trị dinh dưỡng: Giàu vitamin C và A , ăn tươi hoặc xay nước ép.
Mùa quả: Ở miền Nam: t háng 8 - t háng 2 (thời gian cao điểm từ t háng 12 - tháng 2 ); ở phía bắc: tháng 10 - tháng 4 (thời kỳ cao điểm từ tháng 1 - tháng 3) (FAO, 2004).
Đặc điểm: Loài cây cao 2,5 m, lá xanh sẫm, nhỏ, cuống lá có cánh hẹp. Quả dẹt màu cam, nhiều múi, vỏ dễ bóc, múi dễ chia, chua hay ngọt tùy giống. Hạt nhỏ, phôi màu xanh lục (Nguyễn Hữu Đống, 2003).
CÁC GiỐNG QUÝT TRỒNG CHÍNH Ở VIỆT NAM
Quýt tiều
Hình 1 Quýt tiều
Hình dạng: hình cầu dẹt
Trọng lượng: 200 -300 g/quả
Màu sắc: Vỏ vàng khi chín , thịt hồng
Đặc điểm: Vỏ mỏng, múi dễ tách. Ngọt và ít vị chua, mọng nước.
Nguồn ICARD, 2002
Quýt đường
CÁC GiỐNG QUÝT TRỒNG CHÍNH Ở VIỆT NAM
Hình 2 Quýt đường
Hình dạng: hình cầu dẹt
Trọng lượng: 180 -280 g/quả
Màu sắc: Vỏ xanh vàng khi chín , thịt hồng
Đặc điểm: Vỏ mỏng, múi dễ tách. Ngọt và mọng nước.
Nguồn ICARD, 2002
CÁC GiỐNG QUÝT TRỒNG CHÍNH Ở VIỆT NAM
Cam sành (Quýt Vua)
Hình dạng: hình cầu dẹt
Trọng lượng: 200-380 g/quả
Màu sắc: Vỏ xanh khi chín, thịt hồng
Đặc điểm: Trái lớn, quả dày, múi dễ tách. Ngọt và mọng nước.
Hình 3 Cam sành
Nguồn ICARD, 2002
Cam
Tên khoa học: Citrus sinensis (L.) Osbeck
Nguồn gốc: gần biên giới Trung Quốc và Việt Nam .
Các vùng trồng cam chính ở Việt Nam là ở các tỉnh phía bắc như Hà Giang, Yên Bái, Lăng Sơn, Phú Thơ, Hà Nội, Thanh Hóa, Ninh Bình, Nghệ An và Hà Tĩnh. Cam cũng được trồng ở miền Nam, chủ yếu ở Cần Thơ, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng Tháp, Trà Vinh, Đồng Nai .
Giá trị dinh dưỡng: Giàu vitamin C và A , ăn tươi hoặc xay nước ép.
Mùa quả: quanh năm, với mùa cao điểm trong suốt tháng 8 đến tháng 1 ở miền Nam và tháng 2 đến tháng 3 ở miền Bắc (FAO, 2004).
CÁC GiỐNG CAM TRỒNG CHÍNH Ở VIỆT NAM
Cam chanh (Xã Đoài)
Hình dạng: Hình cầu
Trọng lượng: 200 -320 g/quả
Màu sắc: Vàng nhạt khi chín; thịt vàng tươi
Đặc điểm: Vỏ mịn, có nhiều tinh dầu, khó bóc. N gọt lẫn ít vị chua, mọng nước.
Hình 4 Cam chanh
Nguồn ICARD, 2002
CÁC GiỐNG CAM TRỒNG CHÍNH Ở VIỆT NAM
Cam S oàn
Hình dạng: Hình cầu, có một vòng trên đỉnh
Trọng lượng: 250 -350 g/quả
Màu sắc: Vàng nhạt hơi xanh khi chín; thịt vàng tươi
Đặc điểm: Quả to, vỏ mỏng, ít hạt. Ngọt và mọng nước.
Hình 5 Cam Soàn
Nguồn ICARD, 2002
CÁC GiỐNG CAM TRỒNG CHÍNH Ở VIỆT NAM
Cam Bù
Hình dạng: Hình cầu dẹt
Trọng lượng: 180 - 2 50 g/quả
Màu sắc: vỏ màu vàng và cam ; thịt vàng tươi
Đặc điểm : Vỏ dày, n gọt và mọng nước
Hình 6 Cam Bù
Nguồn ICARD, 2002
CÁC GiỐNG CAM TRỒNG CHÍNH Ở VIỆT NAM
Cam Mật
Hình dạng: Hình cầu
Trọng lượng: 200 - 320 g/quả
Màu sắc: Vàng nhạt hơi xanh khi chín ; thịt vàng
Đặc điểm : Trái to, vỏ nhẵn. Ngọt và mọng nước
Hình 7 Cam mật
Nguồn ICARD, 2002
Bưởi
Tên khoa học: Citrusmaxima Burm.Merr.
Nguồn gốc: Nguồn gốc của bưởi là không chắc chắn vì nhiều tác giả đã trích dẫn các địa điểm khác nhau như Polynesia, chân đồi của dãy H imalaya , Nam Trung Quốc và Mala y sia .
Các vùng trồng bưởi chính ở Việt Nam : Vĩnh Phúc, Hà Tĩnh, Vĩnh Long, Thừa Thiên – Huế, Đồng Nai, Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long.
Giá trị dinh dưỡng: Giàu vitamin C và A , ăn tươi hoặc xay nước ép.
Mùa quả: Ở miền Nam, tháng 9 đến tháng 2 (mùa cao điểm từ tháng 11 đến tháng 1) . Ở miền Bắc, tháng 8 đến tháng 11 (mùa cao điểm vào tháng 10) (FAO, 2004).
Đặc điểm: Cây cao to, lá có cánh rộng, hoa to, thơm. Quả to nhỏ tùy giống.
CÁC GiỐNG BƯỞI TRỒNG CHÍNH Ở VIỆT NAM
Bưởi Năm Roi
Hình dạng: hình quả lê
Trọng lượng: 1 ,0 -1,2 kg/quả
Màu sắc: Vỏ vàng nhạt , thịt trắng hơi vàng
Đặc điểm : Quả to, n gọt và ít vị chua , múi dễ tách, vỏ mỏng, thịt mềm.
Hình 8 Bưởi Năm Roi
Nguồn ICARD, 2002
CÁC GiỐNG BƯỞI TRỒNG CHÍNH Ở VIỆT NAM
Bưởi Da Xanh
Hình dạng: hình cầu
Trọng lượng: 1 ,0 -1, 5 kg/quả
Màu sắc: Vỏ xanh khi chín , thịt hồng hơi đỏ
Đặc điểm : Vỏ dễ lột và khá mỏng. N gọt và ít vị chua , mọng nước
Hình 9 Bưởi Da Xanh
Nguồn ICARD, 2002
CÁC GiỐNG BƯỞI TRỒNG CHÍNH Ở VIỆT NAM
Bưởi Đường lá cam
Hình dạng: hình quả lê
Trọng lượng: 1 ,0 -1, 5 kg/quả
Màu sắc: Vỏ xanh bóng khi chín , thịt trắng hơi vàng
Đặc điểm : Tép mọng, ăn ngọt mát, không có vị chua.
Hình 10 Bưởi Đường lá cam
Nguồn ICARD, 2002
CÁC GiỐNG BƯỞI TRỒNG CHÍNH Ở VIỆT NAM
Bưởi Thanh trà
Hình dạng: hình cầu và hình quả lê
Trọng lượng: 0,8 -1, 2 kg/quả
Màu sắc: vỏ vàng nhạt , thịt trắng hơi vàng
Đặc điểm : Quả chín ăn ngọt và có vị chua nhẹ. Tép có nhiều nước, nhưng bên ngoài khô, bóc không dính tay.
Hình 11 Bưởi Thanh Trà
Nguồn ICARD, 2002
KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG CÂY HỌ CAM QUÝT
Nhân giống bằng phương pháp gieo hạt
Là phương pháp lấy hạt giống cam quýt cho nảy mầm thành cây con. Hạt gi ống được thu từ quả đã chín thuần thục, trong điều kiện thích hợp, nảy mầm hình thành cây mới.
Ưu điểm :
Kỹ thuật đơn giản dễ làm.
Chi phí sản xuất thấp
Hệ số nhân giống cao.
Cây con mọc từ hạt có bộ rễ khỏe, ăn sâu xuống đất.
Cây nhân giống từ hạt sinh trưởng khỏe, tính chống chịu với ngoại cảnh cao
Nhược điểm:
Nhiều biến dị: Cây mẹ tốt nhưng cây con có thể xấu; những cây con nhân giống từ một cây mẹ nhưng lại rất khác nhau, sản lượng và chất lượng không giống nhau.
Cây nhân giống từ hạt sinh trưởng chậm
Một số chú ý khi nhân giống bằng hạt
- Số l ư ợng hạt tuỳ theo hạt mới hay cũ, số cây loại không đạt tiêu chuẩn.
Phải đảm bảo các điều kiện ngoại cảnh cho hạt nảy mầm tốt: nhiệt độ, không quá thấp hoặc quá cao, độ ẩm đất đảm bảo 70 - 80% độ ẩm bão hoà và đất gieo hạt phải tơi xốp, thoáng khí.
Giá thể:
Tro trấu hoặc hỗn hợp mụn xơ dừa, cát hạt to, tro trấu và trấu mụt theo tỷ
lệ 2:2:3:3 trộn sẵn trƣớc khi gieo từ 1-2 tháng,
Cát xây dựng đ ư ợc rửa sạch và khử trùng.
=> Có thể ươm hạt trên luống rồi cấy vào bầu, ươm hạt trong bầu hoặc gieo thẳng hạt ra đất (ít áp dụng)
Hình 13 Cây con gieo từ hạt trên
giá thể là cát
Hình 12 Luống ươm hạt
(Nguồn: Giáo trình nghề trồng cây có múi - Bộ NN&PT NT)
Gieo trong túi PE: Chọn hạt mẩy, mỗi bầu gieo một hạt, gieo sâu 1-2cm.
Bầu ư ơm màu đen loại nhỏ 0,5lít, loại lớn 3,5 – 4,5lít ( đ ư ờng kính 13-
14cm, cao 25-30cm
Hình 14 Túi PE gieo hạt
(Nguồn: Giáo trình nghề trồng cây có múi - Bộ NN&PT NT)
Nhân giống bằng hạt
Gieo hạt lấy cây làm gốc ghép
Công tác lai tạo, chọn lọc giống
Nhân giống bằng phương pháp giâm cành (cắm cành, cắm hom)
Hom là đoạn thân, cành được cắt ra từ cây mẹ dùng nhân giống vô tính.
Cành là một phần nhánh của thân, trên cành có sẵn điểm sinh trưởng lá và thân, chỉ cần thêm rễ là thành một cây hoàn chỉnh.
Ưu điểm:
Cây đồng đều, cho nhiều cây con, nhanh
Cây không phân ly, có đặc điểm giống cây mẹ, nhanh cho trái
Nhân đƣợc các cây không có hạt
Nhược điểm:
Tỷ lệ cành giâm bị chết cao
Rễ ăn cạn
Điều kiện phức tạp (Cần có nhà giâm, hệ thống phun s ư ơng...)
Dễ lan truyền bệnh
Chọn cành giâm:
Cành đ ư ợc sử dụng để giâm có thể lấy ở hai dạng cành là cành ngang (mang trái) và cành đứng (cành v ư ợt).
Cành ngang chỉ lấy từ ngọn vào bên trong khoảng 20 - 25 cm ở giai đoạn cây không ra hoa.
Cành v ư ợt có thể lấy từ ngọn vào trong 40 - 50 cm, cây con từ cành này có sức sống mạnh
Lưu ý:
Lúc chặt không được làm trầy vỏ, cần giữ nguyên vẹn mắt, bỏ những đoạn gần ngọn ( Chiều dài cành giâm khoảng 15 - 20cm. Tỉa bớt lá d ư ới đáy cành, giữ lại 5-7 lá , Cắt bớt 1/2 chiều dài lá để hạn chế mất n ư ớc ).
Vạt xéo đáy cành 1 góc 45 độ, dùng dao rạch vài đ ư ờng ở đáy cành để tạo mô sẹo, kích thích sự ra rễ.
Cành giâm nên đ ư ợc thu lúc sáng sớm, trong tình trạng tr ư ơng n ư ớc.
Lúc trồng nhớ vùi gốc xuống đất, hom cắm xiên xâu 4 - 5 cm
Luống cắm hom phải dọn sạch cỏ, đủ độ ẩm, tơi, xốp, không có dịch bệnh
-> Thường áp dụng cho chanh (tỉ lệ hom sống thành cây đến 99%). Đối với cam, bưởi trước khi cắm xuống luống người ta thường nhúng phần gốc vào chất kích thích sinh rễ IBA với liều lượng vài trăm đến vài nghìn ppm.
Hình 15 Cành giâm sau 2 tuần
Cách giâm
(Nguồn: Giáo trình nghề trồng cây có múi - Bộ NN&PT NT)
Nhân giống bằng phương pháp chiết cành
Chiết cành là biện pháp làm cho cành ở trên cây mẹ sinh ra rễ, từ cành đó cắt đem ươm hay trồng thành cây mới. Cành được chiết có đặc tính giống như cây mẹ.
Chọn cành
Chọn những cành xiên là những cành sinh trưởng bình thường để chiết hoặc cành vượt mọc ở trên thân chính, phía chân các cành lớn.
Chiết những cành nằm phần trên tán lá, chỗ có nhiều ánh sáng, cành thô, lá mọc dày, lóng ngắn.
Nên chọn những cành to bằng ngón chân cái (1 - 3 cm), gỗ đã cứng, cành đã tròn đều, cuối cành lá đã rụng hết (là cành già) vỏ đã chuyển màu nâu hay nâu sẫm, tuổi cành 1 - 3 năm (Nguyễn Hữu Đống, 2003).
Nhân giống bằng phương pháp chiết cành
Lưu ý khi chọn cành chiết
Không chọn cành tược, cành vọt thẳng đứng
Không chọn cành mọc gần sát đất
Không nên chọn cành quá to
Không chiết cành ở đỉnh ngọn, những cành xiên bị sâu, nấm, chảy gôm
Không được chiết một bên nhiều, nên chiết cân đối trên cây.
Nhân giống bằng phương pháp chiết cành
Phương pháp chiết
Khoanh vỏ: Dùng dao khoanh vỏ,chiều dài khoanh vở bằng 1,5 - 2 lần đường kính cành ở vị trí cách chạc cành 15cm, bóc khoanh vỏ bỏ đi.
Cạo tượng tầng để khô: d ù ng dao cạo nhẹ lớp tượng tầng ( lớp tế bào nhớt giữa thân gỗ và vỏ ) để không cho tạo lại vỏ ở chỗ khoanh vỏ.
Chờ 2 - 3 ngày sau cho tượng tầng chết, mặt gỗ khô mới lấy rơm nhào với đất và nước bó xung quanh chỗ vỏ đã cắt thành một cái bầu, bó bầu lại bằng rơm hay mo cau, giấy nilông đen càng tốt. Buộc chặt phía trên bầu để bầu không bị vỡ (Nguyễn Hữu Đống, 2003).
Nhân giống bằng phương pháp chiết cành
Nhân giống bằng chiết cành có nhiều ưu điểm: cây dễ sống, cây con khỏe, mọc nhanh nhưng được ít cây, tốn nhiều công, chỉ thích hợp với sản xuất nhỏ, ít đất (Nguyễn Hữu Đống, 2003).
Hình 16 Chiết cành
Nhân giống bằng phương pháp ghép
Lấy một bộ phận của cây giống (cây được ghép) gắn lên một cây khác (cây ghép, gốc ghép) gây thành cây mới có đặc tính giống như cây được ghép. Bộ phận được ghép có thể là một phần, một mắt ở nách lá.
Ưu điểm
Cây ghép giữ được nhiều đặc tính của cây mẹ.
Sản xuất được nhiều cây con mà chỉ cần ít cây mẹ.
Tận dụng được bộ rễ khỏe của gốc ghép được trồng bằng hạt
Cải tạo nhanh các vườn già cõi
Nhược điểm
Kĩ thuật ghép phức tạp, có nhiều cách ghép khác nhau đòi hỏi người ghép phải có trình độ kĩ thuật nhất định.
Giá thành cây giống sản xuất ra khá cao.
Cây dễ lây bệnh nếu dụng cụ ghép không được khử trùng sạch.
Yêu cầu chung của các kiểu ghép
Cành ghép và gốc ghép phải có khả năng tiếp hợp tốt (cành ghép và gốc ghép phải cùng họ).
Cành ghép và mắt ghép trong điều kiện vận chuyển đi xa, cần bảo quản trong điều kiện đủ ẩm, tránh nhiệt độ cao
Ghép có thể thực hiện suốt năm, nhưng mùa xuân là thời gian tốt nhất cho các công việc ghép cây, riêng ghép mắt thường thực hiện vào mùa hè sẽ tốt hơn vì là thời điểm lớp vỏ của gốc ghép tách dễ dàng (Nguyễn Duy Minh, 2004).
Phải cho cành ghép và gốc ghép tiếp xúc tượng tầng với nhau.
-> Ghép mắt và ghép nêm là 2 phương pháp ghép được sử dụng phổ biến cho cây ăn quả có múi
Ghép mắt
Đặc trưng của phương pháp ghép mắt là không cắt ngọn khi ghép.
Mắt ghép là miếng vỏ còn tươi, mắt sắp nảy còn nguyên vẹn, sạch bệnh, không được sây sát và hơi nảy.
Mắt ghép nên lấy trên cành xiên, to 3 - 5 cm, gỗ đã cứng và vỏ màu chì xám.
Cách ghép
Bóc một mảnh vỏ trên cành bánh tẻ của gốc ghép và bóc một mắt ở nách lá của cây ghép. Áp mắt vào chỗ đã bóc vỏ của gốc ghép, buộc chặt lai.
Các kiểu ghép mắt: Ghép cửa sổ, ghép chữ T và ghép mắt dạng mảnh
Ghép cửa sổ
Vạch 4 nhát thành hình chữ nhật kích thước 4 x 1,5 cm trên vỏ cành lấy mắt để bóc mắt.
Trên gốc ghép cũng bóc đi một mảnh giống thế, tạo hình cửa sổ, đặt mảnh vỏ có mắt vào vừa khít, lấy dây nilông buộc chặt lại.
Nên ghép vào đầu mùa mưa để cành ghép và gốc ghép có nhiều nhựa và dễ bóc.
Hình 17 Ghép cửa sổ
1: Cắt vỏ trên gốc ghép2: Lấy mắt ghép
3: Đặt mắt ghép vào gốc ghép4: Quấn chặt lại bằng dây nilon (chừa đỉnh sinh trưởng của mắt ghép)
(Nguồn: Giáo trình nghề trồng cây có múi - Bộ NN&PT NT)
Ghép chữ T
Gốc ghép đang lên nhựa từ 9 - 12 tháng tuổi. Cách ghép này rất phù hợp với cam, quýt, chanh.
Trên gốc ghép cắt 2 lát (1 lát ngang, 1 lát dọc) hình chữ T (Hình )
Luồn mắt ghép vào gốc ghép, dùng dây nilông buộc chặt lại.
Hình 18 Ghép chữ T
1: Lấy mắt ghép
2: Tách vỏ hình chữ T trên gốc ghép3: Đặt mắt ghép vào gốc ghép4: Quấn kín bằng dây nilon5: Kết quả sau khi mắt ghép phát triển tốt
(Nguồn: Giáo trình nghề trồng cây có múi - Bộ NN&PT NT)
Ghép mắt dạng mảnh
Thường áp dụng trong các vườn kinh doanh giống.
Chuẩn bị gốc ghép
a. Ở gốc gép cắt một lát nghiêng 45⁰, lưỡi dao cắt độ 1/3 chiều dày của gốc ghép
b. Khoảng 2,5 cm trên lát cắt thứ nhất, cắt một lát thứ 2 từ trên xuống dưới và khi lưỡi dao gặp lát cắt thứ nhất thì cắt đi ơ gốc ghép mảnh gỗ dài khoảng 2,5 cm
Ở cành lấy mắt cũng làm giống hệt như gốc ghép. Vết cắt ở dưới mắt cách mắt 0,5 cm
Hình 19 Chuẩn bị gốc ghép dạng ghép mảnh
Ghép mắt dạng mảnh
Sau khi ghép xong cần hạn chế sinh trưởng ngọn bằng cách cắt ngọn gốc ghép, để tập trung cho quá trình tiếp hợp tốt hơn.
Hình 20 Đặt mắt ghép
(Nguồn: Giáo trình nghề trồng cây có múi - Bộ NN&PT NT)
Gép nêm
Để tận dụng các ưu thế của các ngọn ghép và gốc ghép trong tổ hợp ghép
Cải tạo các vườn bị già cỗi
Yêu cầu
Gốc ghép và cành ghép phải có đường kính tương đương nhau. Gốc ghép không được quá già. Gốc ghép có thể gieo từ hạt hoặc giâm cành.
Chọn cành ghép bánh tẻ, cắt lá chừa cuống để bảo vệ mắt ngủ, không để lá vì khó thao tác và bay hơi nước. Một đoạn cành ghép phải có nhiều mắt.
Hình 20 Cành ghép đ ư ợc cắt cuống lá
(Nguồn: Giáo trình nghề trồng cây có múi - Bộ NN&PT NT)
Phương pháp ghép nêm
Cắt ngọn gốc ghép, chừa lại đoạn gốc 15 - 20 cm
Cắt vát 2 mặt của đuôi chồi ghép tạo nêm hình nêm có độ dài tương ứng với vết chẻ tách đôi trên gốc ghép (khoảng 4 cm)
Đưa chồi ghép vào gốc ghép sao cho có độ tiếp xúc tượng tầng cả 2 bên hoặc chỉ 1 bên. Dùng dây nilông quấn chặt buộc chặt kín vết ghép (thường sẽ dùng túi nhựa thấu quang chụp kín phần chồi ghép).
Hình 21 Ghép nêm
(Nguồn: camnangcaytrong.com)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Hữu Đống, 2003. Cây ăn quả có múi. Nhà xuất bản Nghệ An .
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Giáo trình nghề trồng cây có múi.
Nhân giống cây có múi: Nhân giống bằng phương pháp giâm cành , 2016. Truy cập từ ngày 30/05/2020.
Fruits in Vietnam, 2002. Nhà xuất bản Nông nghiệp.
Giáo Trình Kỹ Thuật Trồng Cây Ăn Quả , 2005 . Nhà xuất bản Hà Nội .
Các file đính kèm theo tài liệu này:
bai_thuyet_trinh_mot_so_giong_chu_luc_va_ky_thuat_nhan_giong.pptx