Bàn về điều tra nghề cá thương phẩm ở biển Việt Nam

Ghi sổ nhật ký dạng chuyến ký không phản ánh đƣợc thực tế ngƣ trƣờng khai thác của các tàu cá. Do mỗi chuyến biển chỉ ghi thông tin một lần duy nhất. Trƣớc khi thông tƣ 25/2013/TT-BNNPTNT ban hành, việc ghi nhật ký khai thác đƣợc thực hiện theo thông tƣ 48/2010/TT-BNNPTNT, ngày 11 tháng 8 năm 2010 của Bộ trƣởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Theo thông tƣ này thì việc ghi sổ nhật ký khai thác đƣợc thực hiện hàng ngày, đối với từng mẻ lƣới đã thực hiện. Nhƣ vậy, hàng tháng sẽ có toàn bộ thông tin về hoạt động của tàu cá trong tháng đó. Đối với những ngày không khai thác thì trang nhật ký đƣợc để trống. Với cách triển khai nhƣ vậy, thông tin về hoạt động của tàu cá sẽ đƣợc đánh giá đầy đủ, bao gồm các thông tin sự thay đổi ngƣ trƣờng và thành phần sản lƣợng hàng ngày. Việc thu thập thông tin còn chƣa đƣợc thực hiện đầy đủ. Trong biểu nhật ký khai thác, mỗi trƣờng thông tin cần thu đều đƣợc sử dụng để tính toán các chỉ số cụ thể, phục vụ việc đánh giá sản lƣợng và cƣờng lực khai thác. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, rất nhiều trƣờng thông tin bị bỏ trống, không ghi thông tin, do đó không sử dụng đƣợc. Một số trƣờng thông tin thƣờng bị bỏ trống là: Thông tin về ngƣ cụ, thông tin về số ngày hoạt động trong tháng trƣớc và thông tin về số ngày hoạt động trong chuyến khai thác. Trong quá trình thực hiện việc ghi sổ nhật ký khai thác, một số địa phƣơng đã không triển khai theo kế hoạch. Thông tin đƣợc thu thập theo dạng hồi cứu hoặc tự ghi thông tin vào biểu nhật ký khai thác. Những biểu nhật ký khai thác này không sử dụng đƣợc và đƣợc loại bỏ sau khi Viện Nghiên cứu Hải sản kiểm tra. Sử dụng tên địa phƣơng. Trong thành phần sản lƣợng khai thác, có rất nhiều nhóm thƣơng phẩm khác nhau và mỗi địa phƣơng có cách gọi tên nhóm thƣơng phẩm khác nhau dẫn đến việc không thống nhất thậm chí nhầm lẫn khi phân tích số liệu. Việc phát sổ nhật ký cho chủ tàu và thu lại nhật ký hàng tháng đƣợc thực hiện nhƣng chƣa bám sát kế hoạch đã đề ra. Viện Nghiên cứu Hải sản nhận đƣợc số liệu rất muộn so với quy định, do đó ảnh hƣởng chung đến tiến độ kiểm ra, nhập và xử lý thông tin trong quá trình thực hiện.

pdf8 trang | Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Bàn về điều tra nghề cá thương phẩm ở biển Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
52 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 18, Số 1; 2018: 52-59 DOI: 10.15625/1859-3097/18/1/8663 BÀN VỀ ĐIỀU TRA NGHỀ CÁ THƢƠNG PHẨM Ở BIỂN VIỆT NAM Vũ Việt Hà Viện Nghiên cứu Hải sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn E-mail: havuviet@gmail.com Ngày nhận bài: 31-8-2016 / Ngày chấp nhận đăng: 5-10-2016 TÓM TẮT: Trong đánh giá nguồn lợi, hai tiếp cận thu thập thông tin đƣợc sử dụng hiện nay là: điều tra độc lập nghề cá và điều tra nghề cá. Điều tra độc lập nghề cá cung cấp các thông tin khoa học về hiện trạng nguồn lợi ở vùng biển nghiên cứu. Điều tra nghề cá cung cấp các thông tin về hoạt động khai thác hải sản. Ở nƣớc ta, tiếp cận điều tra nghề cá đƣợc thiết kế và thí điểm triển khai thực hiện bởi dự án đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam với sự hỗ trợ từ Chính phủ Đan Mạch từ năm 1998, áp dụng cho 11 tỉnh ven biển. Hệ thống này đƣợc nhân rộng ra toàn bộ 28 tỉnh ven biển và hoạt động khá hiệu quả từ năm 2000 nhƣng đến 2006 thì dừng hoạt động do dự án kết thúc. Từ tháng 7/2014, công tác điều tra thu thập số liệu nghề cá đƣợc khôi phục và hoạt động dƣới dạng mạng lƣới công tác viên thu mẫu. Hoạt động này là sự phối hợp giữa Tổng cục Thủy sản, Viện Nghiên cứu Hải sản và các chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở các địa phƣơng. Thiết kế điều tra áp dụng tiếp cận ghi sổ nhật ký khai thác và áp dụng phƣơng pháp thu mẫu theo không gian và thời gian. Bài viết này trình bày tổng quan về phƣơng pháp thu mẫu nghề cá ở nƣớc ta hiện nay cùng những hạn chế, thách thức tồn tại. Từ khóa: Nghề cá, điều tra, sổ nhật ký khai thác, thống kê, phỏng vấn. MỞ ĐẦU Trong đánh giá nguồn lợi hải sản, hai tiếp cận điều tra đƣợc sử dụng để thu thập thông tin, dữ liệu là: Điều tra độc lập nghề cá [1-3] và điều tra nghề cá [3, 4]. Điều tra độc lập nghề cá cung cấp các thông tin khoa học về hiện trạng nguồn lợi hải sản, nhƣ thành phần loài, thành phần sản lƣợng, năng suất khai thác, phân bố và trữ lƣợng tức thời của các loài hải sản. Điều tra nghề cá cung cấp các thông tin về hiện trạng hoạt động khai thác, cƣờng lực khai thác, sản lƣợng khai thác, ngƣ trƣờng khai thác và áp lực của hoạt động khai thác lên quần thể các loài hải sản. Trong điều tra nghề cá, ba nguồn dữ liệu chính cần đƣợc thu thập độc lập nhau là: 1) Thống kê nghề cá thƣơng phẩm, 2) Ghi sổ nhật ký khai thác và 3) Giám sát khai thác. Các nguồn dữ liệu này đƣợc sử dụng để đánh giá sản lƣợng và cƣờng lực khai thác hải sản. Trong đó, nguồn dữ liệu chính để đánh giá là số liệu thống kê nghề cá thƣơng phẩm và dữ liệu sổ nhật ký khai thác. Dữ liệu giám sát khai thác chủ yếu đƣợc sử dụng để kiểm tra chéo đối với các thông tin về ngƣ trƣờng khai thác, cƣờng lực và sản lƣợng khai thác đƣợc cung cấp từ số liệu thống kê nghề cá thƣơng phẩm và sổ nhật ký khai thác. Trong những năm qua, tiếp cận điều tra độc lập nghề cá đƣợc thực hiện khá đồng bộ và đƣợc sử dụng thống nhất về phƣơng pháp theo thời gian. Ngƣợc lại, tiếp cận điều tra nghề cá thƣơng phẩm đƣợc triển khai chƣa đồng bộ và thiếu tính thống nhất. Kết quả thu đƣợc từ công tác điều tra nghề cá còn rất hạn chế dẫn đến thiếu, thậm chí không có thông tin về sản lƣợng và cƣờng lực khai thác hàng năm đối với nghề cá biển nƣớc ta. Điều này đã gây ra những khó khăn nhất định cho công tác quy hoạch, khai thác hải sản và quản lý Bàn về điều tra nghề cá thương phẩm ở biển 53 nghề cá đồng thời bảo vệ nguồn lợi theo hƣớng bền vững. TỔNG QUAN CÔNG TÁC THU THẬP SỐ LIỆU NGHỀ CÁ THƢƠNG PHẨM Ở VIỆT NAM Mặc dù nghề cá biển nƣớc ta đã phát triển rất nhanh trong những năm qua, đóng góp tỉ lệ đáng kể trong sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nƣớc. Tuy nhiên, đầu tƣ cho công tác thống kê nghề cá còn rất hạn chế dẫn đến thông tin cần thiết về hoạt động nghề cá thƣơng phẩm có đƣợc ở nƣớc ta rất tản mạn, thiếu tính hệ thống và không liên tục làm cho những tƣ vấn về định hƣớng phát triển nghề cá còn nhiều bất cập. Hoạt động điều tra nghề cá thƣơng phẩm và nghiên cứu sinh học nghề cá ở nƣớc ta trong những năm qua có thể tóm tắt nhƣ sau: Năm 1996-1999, dự án “Đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam giai đoạn I” (ALMRV I) do Chính phủ Đan Mạch tài trợ đã thí điểm thiết lập hệ thống mạng lƣới thu mẫu nghề cá thƣơng phẩm ở 11 tỉnh nghề cá trọng điểm nƣớc ta. Hệ thống đã đi vào hoạt động từ năm 1998 và đã đạt đƣợc những kết quả nhất định góp phần quan trọng trong việc nhân rộng hệ thống ra phạm vi toàn quốc. Có thể nói, đây là tiền đề của hệ thống thống kê nghề cá biển ở nƣớc ta. Trong các năm 1998-1999, công tác điều tra nghề cá tập trung chủ yếu vào việc thống kê sản lƣợng khai thác, cƣờng lực khai thác, xác định thành phần loài trong các nhóm thƣơng phẩm và thu thập thông tin về kích thƣớc khai thác của các loài hải sản có giá trị kinh tế cao trong sản lƣợng khai thác. Từ năm 2000-2005, trên cơ sở các kinh nghiệm đạt đƣợc trong quá trình triển khai thí điểm công tác điều tra nghề cá thƣơng phẩm tại các tỉnh điểm, dự án ALMRV giai đoạn II (ALMRV II) đã nhân rộng phạm vi điều tra ra toàn bộ 28 tỉnh ven biển nƣớc ta, đồng thời thành lập nhóm chuyên gia kỹ thuật nghề cá biển nhằm đánh giá hoạt động nghề cá và đƣa ra các tƣ vấn trong công tác quản lý nghề cá phù hợp với điều kiện nƣớc ta [5]. Trong giai đoạn này, dự án ALMRV II cũng đã kết hợp với đề tài “Nghiên cứu thăm dò nguồn lợi hải sản và lựa chọn công nghệ khai thác phù hợp phục vụ phát triển nghề cá xa bờ” [6] tiến hành điều tra, thu thập thông tin nghề cá thƣơng phẩm ở tất cả các tỉnh ven biển. Đây có thể đƣợc xem là hệ thống thống kê nghề cá đầu tiên ở Việt Nam, áp dụng phƣơng pháp thu mẫu theo không gian và thời gian (Sampling in time and space). Với hệ thống thống kê nghề cá này, dữ liệu đƣợc thu thập rất đồng bộ, gồm: Số liệu điều tra nghề cá thƣơng phẩm bằng hình thức phỏng vấn hoạt động khai thác đối với các tàu cá, số liệu nhật ký khai thác do chủ tàu trực tiếp ghi trong quá trình khai thác trên biển và dữ liệu giám sát khai thác do giám sát viên từ Viện Nghiên cứu Hải sản ghi chép trực tiếp trên tàu khai thác. Trong giai đoạn này, dự án ALMRV II đã thu thập đƣợc khối lƣợng số liệu sản lƣợng và cƣờng lực khai thác rất lớn ở tất cả các tỉnh, của tất cả các đội tàu từ ven bờ đến xa bờ phục vụ tích cực các nghiên cứu về hoạt động nghề cá nƣớc ta. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất trong giai đoạn này là số liệu đƣợc thu thập nhiều nhƣng việc phân tích, đánh giá đƣợc thực hiện rất ít nên hiệu của tham khảo cho các nghiên cứu sau này rất hạn chế. Từ năm 2006, sau khi dự án ALMRV kết thúc, việc điều tra, đánh giá nghề cá biển nƣớc ta bị gián đoạn và hệ thống thống kê cũng dừng hoạt động do không có kinh phí duy trì. Trong năm 2006, Thủ tƣớng Chính phủ đã phê duyệt dự án điều tra tổng thể nguồn lợi hải sản biển Việt Nam (Quyết định số 47/2006/QĐ-TTg ngày 01 tháng 3 năm 2006 của Thủ tƣớng Chính phủ) tuy nhiên, đến năm 2011 dự án mới bắt đầu thực hiện. Nội dung điều tra nghề cá thƣơng phẩm chính thức hoạt động từ tháng 7/2014. Trong giai đoạn 2006-2014, việc điều tra nghề cá thƣơng phẩm không đƣợc thực hiện đồng bộ, mang tính hệ thống mà đƣợc thực hiện rời rạc, nhỏ lẻ theo kế hoạch nghiên cứu của các đề tài trong một khoảng thời gian nhất định và phạm vi hạn chế, cụ thể nhƣ sau: Năm 2005, Bộ Thủy sản đã phê duyệt thực hiện đề tài “Đánh giá nguồn lợi cá cơm (Stolephorus spp.) ở vùng biển Tây Nam Bộ và đề xuất giải pháp bảo vệ, khai thác hợp lý”. Đây là đề tài nghiên cứu, đánh giá nguồn lợi dựa trên tiếp cận sinh học nghề cá đầu tiên ở nƣớc ta. Từ năm 2005-2007, hàng tháng sản lƣợng và cƣờng lực khai thác của nghề khai thác cá cơm đƣợc thu mẫu, đánh giá cụ thể. Vũ Việt Hà 54 Các thông tin sinh học của cá cơm trong sản lƣợng khai thác cũng đƣợc thu thập và phân tích. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã đánh giá đƣợc nguồn lợi cá cơm ở vùng biển Tây Nam Bộ và hoạt động khai thác của các đội khai thác nguồn lợi cá cơm cũng đƣợc đánh giá cụ thể [8]. Tuy nhiên, việc thống kê nghề cá của đề tài này chỉ thực hiện cho nghề khai thác cá cơm và chỉ đƣợc thực hiện ở tỉnh Cà Mau và Kiên Giang. Hình 1. Khung logic của phƣơng pháp đánh giá nguồn lợi bằng tiếp cận điều tra nghề cá Cũng từ năm 2006, dự án “Điều tra liên hợp Việt - Trung đánh giá nguồn lợi hải sản trong vùng đánh cá chung ở vịnh Bắc Bộ” đƣợc phê duyệt thực hiện. Một trong những nội dung quan trong của dự án là đánh giá sản lƣợng và cƣờng lực khai thác của các đội tàu ở vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ làm cơ sở cho việc điều chỉnh cƣờng lực khai thác phù hợp. Dự án đã tiến hành thu mẫu sản lƣợng và cƣờng lực khai thác ở các tỉnh ven biển nƣớc ta bằng hình thức phỏng vấn hoạt động khai thác. Dữ liệu thu thập đƣợc là cơ sở để tính toán sản lƣợng khai thác tối đa và cƣờng lực khai thác tối ƣu tại vùng đánh cá chung [9, 10]. Sau 10 năm thu thập số liệu, phân tích, đánh giá, chúng ta đã có đƣợc thông tin khá đầy đủ hiện trạng và biến đồng cƣờng lực khai thác ở vùng đánh cá chung. Cơ sở khoa học cho việc điều chỉnh cƣờng lực khai thác đƣợc cập nhật hàng năm làm căn cứ cho việc đấu tranh với Trung Quốc trong việc quản lý cƣờng lực khai thác trong vùng đánh cá chung. Kết quả đàm phán với Trung Quốc năm 2014 đã cắt giảm đƣợc số lƣợng phƣơng tiện khai thác trong vùng đánh cá chung nhằm bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong vùng. Hoạt động điều tra nghề cá thƣơng phẩm của dự án chỉ đƣợc thực hiện đối với các đội tàu đƣợc cấp phép khai thác ở vùng đánh cá chung. Nghiên cứu gần đây nhất do Viện Nghiên cứu Hải sản tiến hành từ năm 2009 đến năm 2011 trong khuôn khổ đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ điều chỉnh cơ cấu đội tàu và nghề nghiệp khai thác hải sản”. Việc điều tra nghề cá thƣơng phẩm đƣợc thực hiện bằng hình thức phỏng vấn trực tiếp ngƣ dân. Từ các thông tin thu đƣợc, mô hình sản lƣợng thặng dƣ đã đƣợc sử dụng để xác định mối tƣơng quan giữa nguồn lợi hải sản và cƣờng lực khai thác. Kết quả nghiên cứu đã xác định đƣợc sản lƣợng và cƣờng lực khai thác bền tối đa cho Bàn về điều tra nghề cá thương phẩm ở biển 55 các vùng biển gồm vịnh Bắc Bộ, Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ đồng thời đề xuất đƣợc giải pháp điều chỉnh cơ cấu nghề và cƣờng lực khai thác phù hợp. Nhƣ vậy, có thể thấy rằng, các hoạt động điều tra, đánh giá nghề cá thƣơng phẩm ở nƣớc ta trong giai đoạn 2006-2014 đƣợc thực hiện rất ít và thiếu đồng bộ. Có thể nói, từ khi hệ thống thống kê nghề cá thƣơng phẩm do dự án ALMRV II ngừng hoạt động, đến nay chúng ta vẫn chƣa xây dựng đƣợc hệ thống thống kê nghề cá hoạt động hiệu quả. Công tác điều tra sản lƣợng và cƣờng lực khai thác đƣợc thực hiện đơn lẻ trong khuôn khổ từng đề tài, dự án và giải quyết các vấn đề trong phạm vi hẹp mà chƣa có hệ thống đồng bộ trong cả nƣớc. Từ tháng 7/2014, nội dung điều tra nghề cá thƣơng phẩm bằng tiếp cận “Ghi sổ nhật ký khai thác” do Tổng cục Thủy sản phối hợp với Viện Nghiên cứu Hải sản và các Chi cục Khai thác và Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản thực hiện là giải pháp tạm thời, giải quyết các vƣớng mắc trong việc thiếu thông tin nghề cá phục vụ công tác quản lý. Về lâu dài, để phục vụ công tác quản lý nghề cá và định hƣớng chỉ đạo sản xuất thì việc thành lập hệ thống thống kê nghề cá là hết sức cần thiết. CÔNG TÁC THU THẬP SỐ LIỆU NGHỀ CÁ THƢƠNG PHẨM HIỆN NAY Thông tƣ 25/2013/TT-BNNPTNT ngày 10/5/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Qui định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 33/2010/NĐ-CP ngày 31/3/2010 của Chính phủ về quản lý hoạt động khai thác thuỷ sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển và qui định chi tiết Điều 3 của Nghị định số 53/2012/NĐ-CP ngày 20/6/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về lĩnh vực thủy sản. Theo đó, Điều 5 của Thông tƣ quy định nhƣ sau: 1. Báo cáo khai thác thủy sản. Chủ tàu hoặc thuyền trƣởng của tất cả các tàu có Giấy phép khai thác thuỷ sản chịu trách nhiệm ghi sản lƣợng khai thác thủy sản từng chuyến biển tại nhật ký khai thác thủy sản (theo mẫu quy định tại Phụ lục VIII ban hành kèm theo Thông tƣ này). 2. Ghi và nộp nhật ký khai thác thủy sản. a) Đối với tàu khai thác thủy sản có công suất máy chính từ 20 CV trở lên, thuyền trƣởng có trách nhiệm thực hiện việc ghi nhật ký khai thác thủy sản (theo mẫu quy định tại Phụ lục VIII ban hành kèm theo Thông tƣ này). b) Chủ tàu hoặc thuyền trƣởng nộp và nhận nhật ký khai thác thủy sản mới theo quy định của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. 3. Tổng hợp và xử lý số liệu nhật ký khai thác thủy sản. a) Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tổng hợp, báo cáo số liệu về Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Tổng cục Thủy sản) và Ủy ban nhân dân tỉnh chậm nhất vào tuần thứ 3 của tháng sau theo phần mềm về nhật ký khai thác thủy sản hoặc theo mẫu quy định (mẫu quy định tại Phụ lục IX ban hành kèm theo Thông tƣ này). b) Tổng cục Thủy sản có trách nhiệm tổng hợp, kiểm tra, hƣớng dẫn việc báo cáo từ các địa phƣơng; Viện Nghiên cứu Hải sản có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý, quản lý cơ sở dữ liệu theo chức năng nhiệm vụ và quy định hiện hành. Mẫu sổ nhật ký khai thác kèm theo thông tƣ gồm Trang bìa 1 là thông tin chung về tàu khai thác nhƣ: Tên tàu, Số Đăng ký tàu, Tổng công suất máy chính, Số thuyền viên trên tàu và Thông số cơ bản của lƣới (ngƣ cụ). Trang bìa 2 là Hƣớng dẫn ghi sổ nhật ký khai thác. Các trang tiếp theo là thông tin về chuyến biển, gồm: Thông tin về ngày xuất bến, ngày về bến, Nơi xuất bến, Nơi về bến, Vùng hoạt động của tàu, Khối lƣợng chuyển tải. Các thông tin chi tiết về chuyến biển gồm: Thông tin về vị trí thực hiện mẻ lƣới đầu tiên và vị trí thực hiện mẻ lƣới cuối cùng của chuyến biển. Sản phẩm của chuyến biển đƣợc phân thành các nhóm là tôm, cá chọn, cá xô, cá tạp, mực ống, mực nang, ghẹ và các loài khác. Nhƣ vậy, theo thông tƣ 25/2013/TT- BNNPTNT việc ghi sổ nhật ký khai thác đƣợc thực hiện dƣới dạng chuyến ký, mỗi trang là thông tin của một chuyến biển. Sổ nhật ký thiếu thông tin về vùng biển khai thác. Để triển khai thực hiện việc ghi sổ nhật ký khai thác, Tổng cục Thủy sản đã phối hợp với Viện Nghiên cứu Hải sản điều chỉnh một số thông tin trong sổ nhật ký khai thác để tối ƣu hóa các dòng thông tin cần thu thập phục vụ việc phân tích, đánh giá nghề cá. Về cơ bản, sổ nhật ký vẫn là dạng chuyến ký, nhƣng bổ sung thêm các thông tin về cƣờng lực khai thác, Vũ Việt Hà 56 gồm: Số ngày khai thác của tháng trƣớc, số ngày hoạt động trong chuyến biển và ngƣ trƣờng khai thác đồng thời loại bỏ những thông tin không cần thiết. Sơ đồ ngƣ trƣờng khai thác ở biển Việt Nam đƣợc mã hóa thành các ô biển 1,0 × 1,0 độ kinh, vĩ và đƣợc bổ sung vào trang cuối của sổ nhật ký giúp các thuyền trƣởng dễ dàng tra cứu thông tin về ngƣ trƣờng đã đƣợc chuẩn hóa. Hình 2. Mã hóa các ô biển sử dụng trong hoạt động ghi sổ nhật ký khai thác theo Thông tƣ 25/2013/TT-BNNPTNT ngày 10/5/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việc ghi sổ nhật ký khai thác đƣợc thực hiện bằng sự phối hợp ba bên giữa Tổng cục Thủy sản, các chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại địa phƣơng và Viện Nghiên cứu Hải sản. Trong đó, Viện Nghiên cứu Hải sản là đơn vị tƣ vấn đồng thời quản lý, phân tích toàn bộ số liệu đã thu thập. Tổng cục Thủy sản là chủ đầu tƣ và các chi cục chủ trì thực hiện việc thu mẫu. Hình 3. Mô phỏng thiết kế thu mẫu theo không gian và thời gian [4] Bàn về điều tra nghề cá thương phẩm ở biển 57 Số liệu nghề cá thƣơng phẩm đƣợc thu thập theo phƣơng pháp thu mẫu theo không gian và thời gian [4]. Hàng tháng, các tàu đƣợc lựa chọn để thực hiện việc ghi sổ nhật ký khai thác sẽ ghi lại thông tin về hoạt động khai thác ở một chuyến biển bất kỳ trong tháng đó. Các thông tin về hoạt động khai thác gồm: Thông tin về tàu thuyền, ngƣ lƣới cụ, các thông tin về hoạt động khai thác nhƣ vị trí khai thác, độ sâu khai thác, thời gian khai thác, sản lƣợng mẻ lƣới, thành phần nhóm thƣơng phẩm của chuyến biển. Mô phỏng phƣơng pháp thu mẫu đƣợc trình bày ở hình 3. Toàn vùng biển Việt Nam đƣợc chia thành 4 vùng thu mẫu là vịnh Bắc Bộ, Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Ở mỗi vùng, tiến hành phân bổ các đội tàu cần thu mẫu đến từng tỉnh đảm bảo mẫu thu đƣợc sẽ đại diện cho vùng biển đó. Cơ cấu nghề khai thác đƣợc phân nhóm thành từng họ nghề nhƣ sau: Họ nghề lƣới kéo: Lƣới kéo đôi, lƣới kéo đơn; Họ nghề lƣới vây: Vây ánh sáng, vây ngời; Họ nghề lƣới rê: Lƣới rê nổi, lƣới rê đáy; Họ nghề câu: Câu tay, câu tay cá ngừ, câu vàng cá ngừ, câu vàng đáy; Nghề chụp; Nghề mành. Trong mỗi nghề, dựa trên đặc điểm hoạt động khai thác các tàu cá đƣợc nhóm lại thành đội tàu dựa trên công suất máy. Theo kết quả nghiên cứu của dự án ALMRV II, các đội tàu đƣợc phân nhóm nhƣ sau: Đối với các nghề khai thác chủ động, nhƣ lƣới kéo đáy, lƣới vây và chụp: Gồm các đội tàu: <20 CV; 20-50 CV; 50-90 CV; 90-250 CV; 250-400 CV và >400 CV. Đối với nghề khai thác thụ động, nhƣ các họ nghề lƣới rê, câu, mành, gồm các đội tàu: 90 CV. Để đảm bảo độ tin cậy 90% theo tiêu chuẩn của FAO [4], ở một điểm thu mẫu mỗi đội tàu sẽ thu thập 32 sổ nhật ký khai thác. Kết thúc tháng, sổ nhật ký khai thác đƣợc cán bộ điều phối ở địa phƣơng tập hợp và gửi cho Viện Nghiên cứu Hải sản để quản lý chung, nhập vào cơ sở dữ liệu phục vụ việc phân tích, đánh giá. Từ tháng 7/2014 đến nay, công tác thu thập số liệu nghề cá thƣơng phẩm bằng tiếp cận ghi sổ nhật ký khai thác đã đƣợc thực hiện và đã thu đƣợc khối lƣợng lớn thông tin về hoạt động nghề cá trong toàn quốc. Trong một năm (từ tháng 7/2014 đến hết tháng 6/2015) đã thu thập đƣợc 70.210 sổ nhật ký khai thác trên toàn vùng biển Việt Nam. Kết quả phân tích số liệu thu đƣợc từ sổ nhật ký khai thác mặc dù còn những hạn chế, sai sót, tuy nhiên về cơ bản đã đáp ứng đƣợc yêu cầu tối thiểu cho việc đánh giá cƣờng lực và sản lƣợng khai thác của nghề cá nƣớc ta, tập trung vào các đối tƣợng gồm cá, giáp xác (tôm, cua, ghẹ) và động vật chân đầu (mực, bạch tuộc). Sản lƣợng và cƣờng lực khai thác đối với từng loài chƣa đánh giá đƣợc từ tiếp cận này. NHỮNG HẠN CHẾ TỒN TẠI Bên cạnh những kết quả đã đạt đƣợc của việc thu thập số liệu nghề cá thƣơng phẩm bằng hình thức ghi sổ nhật ký khai thác, thì phƣơng pháp này còn tồn tại một số hạn chế nhƣ sau: Cách thức triển khai việc thu mẫu. Việc thực hiện nội dung ghi sổ nhật ký khai thác trong thời gian vừa qua đƣợc thực hiện trong khuôn khổ dự án ”Điều tra tổng thể hiện trạng và biến động nguồn lợi hải sản biển Việt Nam” với sự phối hợp thực hiện của ba bên là Tổng cục Thủy sản, các Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản và Viện Nghiên cứu Hải sản. Hoạt động này không phải nhiệm vụ thƣờng xuyên của các chi cục và Viện, do đó, trong quá trình triển khai, nhiều địa phƣơng đã không thực hiện hoặc thực hiện với trách nhiệm không cao. Các địa phƣơng không thấy đƣợc tầm quan trọng và ý nghĩa của việc thu thập số liệu nghề cá thƣơng phẩm do đó hiệu quả của việc thu mẫu còn rất hạn chế. Theo thiết kế hệ thống thì việc ghi sổ nhật ký khai thác phải trực tiếp do chủ tàu khai thác ghi trong quá trình khai thác trên biển. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, việc ghi sổ nhật ký khai thác đã không đƣợc thực hiện đúng với thiết kế ban đầu. Nhiều địa phƣơng đã chuyển sang hình thức phỏng vấn. Biểu ghi nhật ký khai thác đƣợc cán bộ điều phối hoạt động thu mẫu sử dụng để phỏng vấn chủ tàu và ghi lại thông tin về hoạt động khai thác. Với hình thức này, thông tin về hoạt động khai thác có thể không phản ánh đúng thực tế. Vũ Việt Hà 58 Khi triển khai thu thập số liệu, chƣa có tập huấn cho cán bộ đảm nhiệm nhiệm vụ điều phối thu mẫu ở các địa phƣơng nên khi triển khai thì rất lúng túng đặc biệt là việc hƣớng dẫn thuyền trƣởng tàu cá ghi nhƣ thế nào cho đúng, đạt yêu cầu. Ghi sổ nhật ký dạng chuyến ký không phản ánh đƣợc thực tế ngƣ trƣờng khai thác của các tàu cá. Do mỗi chuyến biển chỉ ghi thông tin một lần duy nhất. Trƣớc khi thông tƣ 25/2013/TT-BNNPTNT ban hành, việc ghi nhật ký khai thác đƣợc thực hiện theo thông tƣ 48/2010/TT-BNNPTNT, ngày 11 tháng 8 năm 2010 của Bộ trƣởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Theo thông tƣ này thì việc ghi sổ nhật ký khai thác đƣợc thực hiện hàng ngày, đối với từng mẻ lƣới đã thực hiện. Nhƣ vậy, hàng tháng sẽ có toàn bộ thông tin về hoạt động của tàu cá trong tháng đó. Đối với những ngày không khai thác thì trang nhật ký đƣợc để trống. Với cách triển khai nhƣ vậy, thông tin về hoạt động của tàu cá sẽ đƣợc đánh giá đầy đủ, bao gồm các thông tin sự thay đổi ngƣ trƣờng và thành phần sản lƣợng hàng ngày. Việc thu thập thông tin còn chƣa đƣợc thực hiện đầy đủ. Trong biểu nhật ký khai thác, mỗi trƣờng thông tin cần thu đều đƣợc sử dụng để tính toán các chỉ số cụ thể, phục vụ việc đánh giá sản lƣợng và cƣờng lực khai thác. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, rất nhiều trƣờng thông tin bị bỏ trống, không ghi thông tin, do đó không sử dụng đƣợc. Một số trƣờng thông tin thƣờng bị bỏ trống là: Thông tin về ngƣ cụ, thông tin về số ngày hoạt động trong tháng trƣớc và thông tin về số ngày hoạt động trong chuyến khai thác. Trong quá trình thực hiện việc ghi sổ nhật ký khai thác, một số địa phƣơng đã không triển khai theo kế hoạch. Thông tin đƣợc thu thập theo dạng hồi cứu hoặc tự ghi thông tin vào biểu nhật ký khai thác. Những biểu nhật ký khai thác này không sử dụng đƣợc và đƣợc loại bỏ sau khi Viện Nghiên cứu Hải sản kiểm tra. Sử dụng tên địa phƣơng. Trong thành phần sản lƣợng khai thác, có rất nhiều nhóm thƣơng phẩm khác nhau và mỗi địa phƣơng có cách gọi tên nhóm thƣơng phẩm khác nhau dẫn đến việc không thống nhất thậm chí nhầm lẫn khi phân tích số liệu. Việc phát sổ nhật ký cho chủ tàu và thu lại nhật ký hàng tháng đƣợc thực hiện nhƣng chƣa bám sát kế hoạch đã đề ra. Viện Nghiên cứu Hải sản nhận đƣợc số liệu rất muộn so với quy định, do đó ảnh hƣởng chung đến tiến độ kiểm ra, nhập và xử lý thông tin trong quá trình thực hiện. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ Để thiết lập và vận hành thống nhất hệ thống thống kê nghề cá từ trung ƣơng đến địa phƣơng thì việc bổ sung chức năng, nhiệm vụ thống kê nghề cá cho các chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản là cần thiết. Khi hệ thống đƣợc thiết lập, việc thu thập thông tin nghề cá sẽ đƣợc đảm bảo và đƣợc thực hiện thống nhất, đồng bộ. Cần thực hiện đồng bộ, thống nhất và đúng quy định đối với việc ghi nhật ký khai thác. Chủ tàu cá là ngƣời ghi sổ nhật ký khai thác và cán bộ điều phối ở địa phƣơng là ngƣời phát và thu lại sổ sau đó kiểm tra sơ bộ rồi gửi cho Viện Nghiên cứu Hải sản quản lý thống nhất. Sổ nhật ký nên thiết kế lại theo hƣớng ghi nhật ký hàng ngày, không nên áp dụng dạng chuyến ký. Cần tập huấn cho mạng lƣới cộng tác viên về phƣơng pháp thu mẫu nghề cá thƣơng phẩm, từ đó sẽ nâng cao đƣợc chất lƣợng của các số liệu thu thập. Cần có đánh giá hàng năm về công tác thu thập số liệu và các kết quả đã đạt đƣợc trong đó đối tƣợng tham gia bao gồm các cơ quan quản lý, đơn vị tƣ vấn, đơn vị thực hiện và mạng lƣới cộng tác viên tham gia vào việc thu mẫu thống kê nghề cá. Cần bố trí kinh phí thực hiện việc thu mẫu kịp thời, đúng tiến độ để hoạt động của các đơn vị thực hiện nhiệm vụ thu mẫu không bị gián đoạn. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Gunderson, D. R., 1993. Surveys of fisheries resources. John Wiley & Sons. 248 p. 2. Jennings, S., Kaiser, M. J., and Reynolds, J. D., 2001. Marine fisheries ecology. Oxford, UK: Blackwell Publishing. 402 p. 3. Sparre, P., and Venema, S. C., 1995. Introduction to tropical fish stock assessment-Part 1: Manual. Fisheries Technical Paper, 306, Rome: FAO. Bàn về điều tra nghề cá thương phẩm ở biển 59 4. Stamatopoulos, C., 2002. Sample-based fishery surveys: A technical handbook. Food and Agriculture Organization of the United Nations. 5. Raakjær, J., Son, D. M., Stæhr, K. J., Hovgård, H., Thuy, N. T. D., Ellegaard, K., ... and Hai, P. G., 2007. Adaptive fisheries management in Vietnam: The use of indicators and the introduction of a multi- disciplinary Marine Fisheries Specialist Team to support implementation. Marine Policy, 31(2), 143-152. 6. Đào Mạnh Sơn, 2005. Nghiên cứu, thăm dò nguồn lợi hải sản và lựa chọn công nghệ khai thác phù hợp phục vụ phát triển nghề cá xa bờ Việt Nam. Tuyển tập các công trình nghiên cứu nghề cá biển. Tập 3, trang 133-188. Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội. 7. Đặng Văn Thi and Nguyễn Bá Thông, 2008. Nguồn lợi và nghề khai thác cá cơm vùng biển Tây Nam Bộ, Việt Nam. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tháng 11/2008. 8. Vũ Việt Hà và Phạm Huy Sơn, 2011. Đánh giá sản lƣợng và cƣờng lực khai thác ở vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tháng 11/2011), trang 106-113 9. Vũ Việt Hà, Phạm Huy Sơn và Nguyễn Khắc Bát, 2014. Sản lƣợng và cƣờng lực khai thác bền vững tối đa ở Vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ, giai đoạn 2011-2013. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tháng 9/2014. Chuyên đề: Nghiên cứu Nghề cá biển. DISCUSSION ON MARINE CAPTURE FISHERIES SURVEY IN VIETNAM Vu Viet Ha Research Institute for Marine Fisheries, Ministry of Agriculture and Rural Development ABSTRACT: In fish stock assessment, two approaches have been used to collect data: Fisheries independent survey and fisheries survey. Fisheries independent survey provides scientific information on species composition, catch rate, density, distribution, standing stock biomass and biological information of certain species while fisheries survey supplies primary data for a wide variety of statistical analysis of fisheries performance. In Vietnam, fisheries survey was first developed by project “Assessment of the Living Marine Resources in Vietnam” with the support of DANIA since 1998 as the pilot study in 11 coastal provinces with the purpose of establishing the fisheries statistical system in Vietnam. After the pilot stage, it has been extended to all of 28 coastal provinces and worked effectively since 2000. In 2006, when the project ended, the fisheries statistical system collapsed due to no finance support to continue. Since July 2014, the fisheries data collection network has been recovered with the collaboration of Directorate of Fisheries, Research Institute for Marine Fisheries and Provincial Departments of Capture Fisheries and Marine Resources Protection. The survey design was the logbook base with applying the sampling in space and in time method. This is an overview of the capture fisheries survey in Vietnam with its limitations and challenges. Keywords: Fisheries, survey, logbook, statistics, interview.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfban_ve_dieu_tra_nghe_ca_thuong_pham_o_bien_viet_nam.pdf