Ghi sổ nhật ký dạng chuyến ký không phản
ánh đƣợc thực tế ngƣ trƣờng khai thác của
các tàu cá. Do mỗi chuyến biển chỉ ghi thông
tin một lần duy nhất. Trƣớc khi thông tƣ
25/2013/TT-BNNPTNT ban hành, việc ghi
nhật ký khai thác đƣợc thực hiện theo thông tƣ
48/2010/TT-BNNPTNT, ngày 11 tháng 8 năm
2010 của Bộ trƣởng Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn. Theo thông tƣ này thì việc ghi
sổ nhật ký khai thác đƣợc thực hiện hàng ngày,
đối với từng mẻ lƣới đã thực hiện. Nhƣ vậy,
hàng tháng sẽ có toàn bộ thông tin về hoạt động
của tàu cá trong tháng đó. Đối với những ngày
không khai thác thì trang nhật ký đƣợc để
trống. Với cách triển khai nhƣ vậy, thông tin về
hoạt động của tàu cá sẽ đƣợc đánh giá đầy đủ,
bao gồm các thông tin sự thay đổi ngƣ trƣờng
và thành phần sản lƣợng hàng ngày.
Việc thu thập thông tin còn chƣa đƣợc thực
hiện đầy đủ. Trong biểu nhật ký khai thác, mỗi
trƣờng thông tin cần thu đều đƣợc sử dụng để
tính toán các chỉ số cụ thể, phục vụ việc đánh
giá sản lƣợng và cƣờng lực khai thác. Tuy
nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, rất
nhiều trƣờng thông tin bị bỏ trống, không ghi
thông tin, do đó không sử dụng đƣợc. Một số
trƣờng thông tin thƣờng bị bỏ trống là: Thông
tin về ngƣ cụ, thông tin về số ngày hoạt động
trong tháng trƣớc và thông tin về số ngày hoạt
động trong chuyến khai thác.
Trong quá trình thực hiện việc ghi sổ nhật
ký khai thác, một số địa phƣơng đã không
triển khai theo kế hoạch. Thông tin đƣợc thu
thập theo dạng hồi cứu hoặc tự ghi thông tin
vào biểu nhật ký khai thác. Những biểu nhật ký
khai thác này không sử dụng đƣợc và đƣợc loại
bỏ sau khi Viện Nghiên cứu Hải sản kiểm tra.
Sử dụng tên địa phƣơng. Trong thành phần
sản lƣợng khai thác, có rất nhiều nhóm thƣơng
phẩm khác nhau và mỗi địa phƣơng có cách gọi
tên nhóm thƣơng phẩm khác nhau dẫn đến việc
không thống nhất thậm chí nhầm lẫn khi phân
tích số liệu.
Việc phát sổ nhật ký cho chủ tàu và thu lại
nhật ký hàng tháng đƣợc thực hiện nhƣng
chƣa bám sát kế hoạch đã đề ra. Viện Nghiên
cứu Hải sản nhận đƣợc số liệu rất muộn so với
quy định, do đó ảnh hƣởng chung đến tiến độ
kiểm ra, nhập và xử lý thông tin trong quá trình
thực hiện.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Bàn về điều tra nghề cá thương phẩm ở biển Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
52
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 18, Số 1; 2018: 52-59
DOI: 10.15625/1859-3097/18/1/8663
BÀN VỀ ĐIỀU TRA NGHỀ CÁ THƢƠNG PHẨM Ở BIỂN VIỆT NAM
Vũ Việt Hà
Viện Nghiên cứu Hải sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
E-mail: havuviet@gmail.com
Ngày nhận bài: 31-8-2016 / Ngày chấp nhận đăng: 5-10-2016
TÓM TẮT: Trong đánh giá nguồn lợi, hai tiếp cận thu thập thông tin đƣợc sử dụng hiện nay là:
điều tra độc lập nghề cá và điều tra nghề cá. Điều tra độc lập nghề cá cung cấp các thông tin khoa
học về hiện trạng nguồn lợi ở vùng biển nghiên cứu. Điều tra nghề cá cung cấp các thông tin về hoạt
động khai thác hải sản. Ở nƣớc ta, tiếp cận điều tra nghề cá đƣợc thiết kế và thí điểm triển khai thực
hiện bởi dự án đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam với sự hỗ trợ từ Chính phủ Đan Mạch từ
năm 1998, áp dụng cho 11 tỉnh ven biển. Hệ thống này đƣợc nhân rộng ra toàn bộ 28 tỉnh ven biển
và hoạt động khá hiệu quả từ năm 2000 nhƣng đến 2006 thì dừng hoạt động do dự án kết thúc. Từ
tháng 7/2014, công tác điều tra thu thập số liệu nghề cá đƣợc khôi phục và hoạt động dƣới dạng
mạng lƣới công tác viên thu mẫu. Hoạt động này là sự phối hợp giữa Tổng cục Thủy sản, Viện
Nghiên cứu Hải sản và các chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở các địa phƣơng. Thiết
kế điều tra áp dụng tiếp cận ghi sổ nhật ký khai thác và áp dụng phƣơng pháp thu mẫu theo không
gian và thời gian. Bài viết này trình bày tổng quan về phƣơng pháp thu mẫu nghề cá ở nƣớc ta hiện
nay cùng những hạn chế, thách thức tồn tại.
Từ khóa: Nghề cá, điều tra, sổ nhật ký khai thác, thống kê, phỏng vấn.
MỞ ĐẦU
Trong đánh giá nguồn lợi hải sản, hai tiếp
cận điều tra đƣợc sử dụng để thu thập thông tin,
dữ liệu là: Điều tra độc lập nghề cá [1-3] và
điều tra nghề cá [3, 4]. Điều tra độc lập nghề cá
cung cấp các thông tin khoa học về hiện trạng
nguồn lợi hải sản, nhƣ thành phần loài, thành
phần sản lƣợng, năng suất khai thác, phân bố
và trữ lƣợng tức thời của các loài hải sản. Điều
tra nghề cá cung cấp các thông tin về hiện trạng
hoạt động khai thác, cƣờng lực khai thác, sản
lƣợng khai thác, ngƣ trƣờng khai thác và áp lực
của hoạt động khai thác lên quần thể các loài
hải sản.
Trong điều tra nghề cá, ba nguồn dữ liệu
chính cần đƣợc thu thập độc lập nhau là: 1)
Thống kê nghề cá thƣơng phẩm, 2) Ghi sổ nhật
ký khai thác và 3) Giám sát khai thác. Các
nguồn dữ liệu này đƣợc sử dụng để đánh giá
sản lƣợng và cƣờng lực khai thác hải sản.
Trong đó, nguồn dữ liệu chính để đánh giá là số
liệu thống kê nghề cá thƣơng phẩm và dữ liệu
sổ nhật ký khai thác. Dữ liệu giám sát khai thác
chủ yếu đƣợc sử dụng để kiểm tra chéo đối với
các thông tin về ngƣ trƣờng khai thác, cƣờng
lực và sản lƣợng khai thác đƣợc cung cấp từ số
liệu thống kê nghề cá thƣơng phẩm và sổ nhật
ký khai thác.
Trong những năm qua, tiếp cận điều tra
độc lập nghề cá đƣợc thực hiện khá đồng bộ
và đƣợc sử dụng thống nhất về phƣơng pháp
theo thời gian. Ngƣợc lại, tiếp cận điều tra
nghề cá thƣơng phẩm đƣợc triển khai chƣa
đồng bộ và thiếu tính thống nhất. Kết quả thu
đƣợc từ công tác điều tra nghề cá còn rất hạn
chế dẫn đến thiếu, thậm chí không có thông
tin về sản lƣợng và cƣờng lực khai thác hàng
năm đối với nghề cá biển nƣớc ta. Điều này
đã gây ra những khó khăn nhất định cho công
tác quy hoạch, khai thác hải sản và quản lý
Bàn về điều tra nghề cá thương phẩm ở biển
53
nghề cá đồng thời bảo vệ nguồn lợi theo
hƣớng bền vững.
TỔNG QUAN CÔNG TÁC THU THẬP SỐ
LIỆU NGHỀ CÁ THƢƠNG PHẨM Ở VIỆT
NAM
Mặc dù nghề cá biển nƣớc ta đã phát triển
rất nhanh trong những năm qua, đóng góp tỉ lệ
đáng kể trong sự phát triển kinh tế, xã hội của
đất nƣớc. Tuy nhiên, đầu tƣ cho công tác thống
kê nghề cá còn rất hạn chế dẫn đến thông tin
cần thiết về hoạt động nghề cá thƣơng phẩm có
đƣợc ở nƣớc ta rất tản mạn, thiếu tính hệ thống
và không liên tục làm cho những tƣ vấn về định
hƣớng phát triển nghề cá còn nhiều bất cập.
Hoạt động điều tra nghề cá thƣơng phẩm và
nghiên cứu sinh học nghề cá ở nƣớc ta trong
những năm qua có thể tóm tắt nhƣ sau:
Năm 1996-1999, dự án “Đánh giá nguồn
lợi sinh vật biển Việt Nam giai đoạn I”
(ALMRV I) do Chính phủ Đan Mạch tài trợ đã
thí điểm thiết lập hệ thống mạng lƣới thu mẫu
nghề cá thƣơng phẩm ở 11 tỉnh nghề cá trọng
điểm nƣớc ta. Hệ thống đã đi vào hoạt động từ
năm 1998 và đã đạt đƣợc những kết quả nhất
định góp phần quan trọng trong việc nhân rộng
hệ thống ra phạm vi toàn quốc. Có thể nói, đây
là tiền đề của hệ thống thống kê nghề cá biển ở
nƣớc ta. Trong các năm 1998-1999, công tác
điều tra nghề cá tập trung chủ yếu vào việc
thống kê sản lƣợng khai thác, cƣờng lực khai
thác, xác định thành phần loài trong các nhóm
thƣơng phẩm và thu thập thông tin về kích
thƣớc khai thác của các loài hải sản có giá trị
kinh tế cao trong sản lƣợng khai thác.
Từ năm 2000-2005, trên cơ sở các kinh
nghiệm đạt đƣợc trong quá trình triển khai thí
điểm công tác điều tra nghề cá thƣơng phẩm tại
các tỉnh điểm, dự án ALMRV giai đoạn II
(ALMRV II) đã nhân rộng phạm vi điều tra ra
toàn bộ 28 tỉnh ven biển nƣớc ta, đồng thời
thành lập nhóm chuyên gia kỹ thuật nghề cá
biển nhằm đánh giá hoạt động nghề cá và đƣa
ra các tƣ vấn trong công tác quản lý nghề cá
phù hợp với điều kiện nƣớc ta [5]. Trong giai
đoạn này, dự án ALMRV II cũng đã kết hợp
với đề tài “Nghiên cứu thăm dò nguồn lợi hải
sản và lựa chọn công nghệ khai thác phù hợp
phục vụ phát triển nghề cá xa bờ” [6] tiến hành
điều tra, thu thập thông tin nghề cá thƣơng
phẩm ở tất cả các tỉnh ven biển. Đây có thể
đƣợc xem là hệ thống thống kê nghề cá đầu tiên
ở Việt Nam, áp dụng phƣơng pháp thu mẫu
theo không gian và thời gian (Sampling in time
and space). Với hệ thống thống kê nghề cá này,
dữ liệu đƣợc thu thập rất đồng bộ, gồm: Số liệu
điều tra nghề cá thƣơng phẩm bằng hình thức
phỏng vấn hoạt động khai thác đối với các tàu
cá, số liệu nhật ký khai thác do chủ tàu trực tiếp
ghi trong quá trình khai thác trên biển và dữ
liệu giám sát khai thác do giám sát viên từ Viện
Nghiên cứu Hải sản ghi chép trực tiếp trên tàu
khai thác.
Trong giai đoạn này, dự án ALMRV II đã
thu thập đƣợc khối lƣợng số liệu sản lƣợng và
cƣờng lực khai thác rất lớn ở tất cả các tỉnh,
của tất cả các đội tàu từ ven bờ đến xa bờ phục
vụ tích cực các nghiên cứu về hoạt động nghề
cá nƣớc ta. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất trong
giai đoạn này là số liệu đƣợc thu thập nhiều
nhƣng việc phân tích, đánh giá đƣợc thực hiện
rất ít nên hiệu của tham khảo cho các nghiên
cứu sau này rất hạn chế.
Từ năm 2006, sau khi dự án ALMRV kết
thúc, việc điều tra, đánh giá nghề cá biển nƣớc
ta bị gián đoạn và hệ thống thống kê cũng dừng
hoạt động do không có kinh phí duy trì.
Trong năm 2006, Thủ tƣớng Chính phủ đã
phê duyệt dự án điều tra tổng thể nguồn lợi hải
sản biển Việt Nam (Quyết định số
47/2006/QĐ-TTg ngày 01 tháng 3 năm 2006
của Thủ tƣớng Chính phủ) tuy nhiên, đến năm
2011 dự án mới bắt đầu thực hiện. Nội dung
điều tra nghề cá thƣơng phẩm chính thức hoạt
động từ tháng 7/2014.
Trong giai đoạn 2006-2014, việc điều tra
nghề cá thƣơng phẩm không đƣợc thực hiện
đồng bộ, mang tính hệ thống mà đƣợc thực
hiện rời rạc, nhỏ lẻ theo kế hoạch nghiên cứu
của các đề tài trong một khoảng thời gian nhất
định và phạm vi hạn chế, cụ thể nhƣ sau:
Năm 2005, Bộ Thủy sản đã phê duyệt
thực hiện đề tài “Đánh giá nguồn lợi cá cơm
(Stolephorus spp.) ở vùng biển Tây Nam Bộ và
đề xuất giải pháp bảo vệ, khai thác hợp lý”.
Đây là đề tài nghiên cứu, đánh giá nguồn lợi
dựa trên tiếp cận sinh học nghề cá đầu tiên ở
nƣớc ta. Từ năm 2005-2007, hàng tháng sản
lƣợng và cƣờng lực khai thác của nghề khai
thác cá cơm đƣợc thu mẫu, đánh giá cụ thể.
Vũ Việt Hà
54
Các thông tin sinh học của cá cơm trong sản
lƣợng khai thác cũng đƣợc thu thập và phân
tích. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã đánh giá
đƣợc nguồn lợi cá cơm ở vùng biển Tây Nam
Bộ và hoạt động khai thác của các đội khai
thác nguồn lợi cá cơm cũng đƣợc đánh giá cụ
thể [8]. Tuy nhiên, việc thống kê nghề cá của
đề tài này chỉ thực hiện cho nghề khai thác cá
cơm và chỉ đƣợc thực hiện ở tỉnh Cà Mau và
Kiên Giang.
Hình 1. Khung logic của phƣơng pháp đánh giá nguồn lợi bằng tiếp cận điều tra nghề cá
Cũng từ năm 2006, dự án “Điều tra liên
hợp Việt - Trung đánh giá nguồn lợi hải sản
trong vùng đánh cá chung ở vịnh Bắc Bộ” đƣợc
phê duyệt thực hiện. Một trong những nội dung
quan trong của dự án là đánh giá sản lƣợng và
cƣờng lực khai thác của các đội tàu ở vùng đánh
cá chung vịnh Bắc Bộ làm cơ sở cho việc điều
chỉnh cƣờng lực khai thác phù hợp. Dự án đã
tiến hành thu mẫu sản lƣợng và cƣờng lực khai
thác ở các tỉnh ven biển nƣớc ta bằng hình thức
phỏng vấn hoạt động khai thác. Dữ liệu thu thập
đƣợc là cơ sở để tính toán sản lƣợng khai thác
tối đa và cƣờng lực khai thác tối ƣu tại vùng
đánh cá chung [9, 10]. Sau 10 năm thu thập số
liệu, phân tích, đánh giá, chúng ta đã có đƣợc
thông tin khá đầy đủ hiện trạng và biến đồng
cƣờng lực khai thác ở vùng đánh cá chung. Cơ
sở khoa học cho việc điều chỉnh cƣờng lực khai
thác đƣợc cập nhật hàng năm làm căn cứ cho
việc đấu tranh với Trung Quốc trong việc quản
lý cƣờng lực khai thác trong vùng đánh cá
chung. Kết quả đàm phán với Trung Quốc năm
2014 đã cắt giảm đƣợc số lƣợng phƣơng tiện
khai thác trong vùng đánh cá chung nhằm bảo
vệ nguồn lợi thủy sản trong vùng. Hoạt động
điều tra nghề cá thƣơng phẩm của dự án chỉ
đƣợc thực hiện đối với các đội tàu đƣợc cấp
phép khai thác ở vùng đánh cá chung.
Nghiên cứu gần đây nhất do Viện
Nghiên cứu Hải sản tiến hành từ năm 2009 đến
năm 2011 trong khuôn khổ đề tài “Nghiên cứu
cơ sở khoa học phục vụ điều chỉnh cơ cấu đội
tàu và nghề nghiệp khai thác hải sản”. Việc
điều tra nghề cá thƣơng phẩm đƣợc thực hiện
bằng hình thức phỏng vấn trực tiếp ngƣ dân. Từ
các thông tin thu đƣợc, mô hình sản lƣợng
thặng dƣ đã đƣợc sử dụng để xác định mối
tƣơng quan giữa nguồn lợi hải sản và cƣờng lực
khai thác. Kết quả nghiên cứu đã xác định đƣợc
sản lƣợng và cƣờng lực khai thác bền tối đa cho
Bàn về điều tra nghề cá thương phẩm ở biển
55
các vùng biển gồm vịnh Bắc Bộ, Trung Bộ,
Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ đồng thời đề
xuất đƣợc giải pháp điều chỉnh cơ cấu nghề và
cƣờng lực khai thác phù hợp.
Nhƣ vậy, có thể thấy rằng, các hoạt động
điều tra, đánh giá nghề cá thƣơng phẩm ở nƣớc
ta trong giai đoạn 2006-2014 đƣợc thực hiện rất
ít và thiếu đồng bộ. Có thể nói, từ khi hệ thống
thống kê nghề cá thƣơng phẩm do dự án
ALMRV II ngừng hoạt động, đến nay chúng ta
vẫn chƣa xây dựng đƣợc hệ thống thống kê
nghề cá hoạt động hiệu quả. Công tác điều tra
sản lƣợng và cƣờng lực khai thác đƣợc thực
hiện đơn lẻ trong khuôn khổ từng đề tài, dự án
và giải quyết các vấn đề trong phạm vi hẹp mà
chƣa có hệ thống đồng bộ trong cả nƣớc.
Từ tháng 7/2014, nội dung điều tra nghề
cá thƣơng phẩm bằng tiếp cận “Ghi sổ nhật ký
khai thác” do Tổng cục Thủy sản phối hợp với
Viện Nghiên cứu Hải sản và các Chi cục Khai
thác và Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản thực hiện là
giải pháp tạm thời, giải quyết các vƣớng mắc
trong việc thiếu thông tin nghề cá phục vụ công
tác quản lý. Về lâu dài, để phục vụ công tác
quản lý nghề cá và định hƣớng chỉ đạo sản xuất
thì việc thành lập hệ thống thống kê nghề cá là
hết sức cần thiết.
CÔNG TÁC THU THẬP SỐ LIỆU NGHỀ
CÁ THƢƠNG PHẨM HIỆN NAY
Thông tƣ 25/2013/TT-BNNPTNT ngày
10/5/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Qui định chi tiết thi hành một số
điều của Nghị định số 33/2010/NĐ-CP ngày
31/3/2010 của Chính phủ về quản lý hoạt động
khai thác thuỷ sản của tổ chức, cá nhân Việt
Nam trên các vùng biển và qui định chi tiết
Điều 3 của Nghị định số 53/2012/NĐ-CP ngày
20/6/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung
một số điều của các Nghị định về lĩnh vực thủy
sản. Theo đó, Điều 5 của Thông tƣ quy định
nhƣ sau:
1. Báo cáo khai thác thủy sản. Chủ tàu hoặc
thuyền trƣởng của tất cả các tàu có Giấy phép
khai thác thuỷ sản chịu trách nhiệm ghi sản lƣợng
khai thác thủy sản từng chuyến biển tại nhật ký
khai thác thủy sản (theo mẫu quy định tại Phụ lục
VIII ban hành kèm theo Thông tƣ này).
2. Ghi và nộp nhật ký khai thác thủy sản.
a) Đối với tàu khai thác thủy sản có công suất
máy chính từ 20 CV trở lên, thuyền trƣởng có
trách nhiệm thực hiện việc ghi nhật ký khai
thác thủy sản (theo mẫu quy định tại Phụ lục
VIII ban hành kèm theo Thông tƣ này).
b) Chủ tàu hoặc thuyền trƣởng nộp và nhận
nhật ký khai thác thủy sản mới theo quy định
của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
3. Tổng hợp và xử lý số liệu nhật ký khai
thác thủy sản. a) Sở Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn tổng hợp, báo cáo số liệu về Bộ
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Tổng
cục Thủy sản) và Ủy ban nhân dân tỉnh chậm
nhất vào tuần thứ 3 của tháng sau theo phần
mềm về nhật ký khai thác thủy sản hoặc theo
mẫu quy định (mẫu quy định tại Phụ lục IX ban
hành kèm theo Thông tƣ này).
b) Tổng cục Thủy sản có trách nhiệm tổng
hợp, kiểm tra, hƣớng dẫn việc báo cáo từ các địa
phƣơng; Viện Nghiên cứu Hải sản có trách
nhiệm tiếp nhận, xử lý, quản lý cơ sở dữ liệu
theo chức năng nhiệm vụ và quy định hiện hành.
Mẫu sổ nhật ký khai thác kèm theo thông tƣ
gồm Trang bìa 1 là thông tin chung về tàu khai
thác nhƣ: Tên tàu, Số Đăng ký tàu, Tổng công
suất máy chính, Số thuyền viên trên tàu và
Thông số cơ bản của lƣới (ngƣ cụ). Trang bìa 2
là Hƣớng dẫn ghi sổ nhật ký khai thác. Các
trang tiếp theo là thông tin về chuyến biển,
gồm: Thông tin về ngày xuất bến, ngày về bến,
Nơi xuất bến, Nơi về bến, Vùng hoạt động của
tàu, Khối lƣợng chuyển tải. Các thông tin chi
tiết về chuyến biển gồm: Thông tin về vị trí
thực hiện mẻ lƣới đầu tiên và vị trí thực hiện
mẻ lƣới cuối cùng của chuyến biển. Sản phẩm
của chuyến biển đƣợc phân thành các nhóm là
tôm, cá chọn, cá xô, cá tạp, mực ống, mực
nang, ghẹ và các loài khác.
Nhƣ vậy, theo thông tƣ 25/2013/TT-
BNNPTNT việc ghi sổ nhật ký khai thác đƣợc
thực hiện dƣới dạng chuyến ký, mỗi trang là
thông tin của một chuyến biển. Sổ nhật ký thiếu
thông tin về vùng biển khai thác.
Để triển khai thực hiện việc ghi sổ nhật ký
khai thác, Tổng cục Thủy sản đã phối hợp với
Viện Nghiên cứu Hải sản điều chỉnh một số
thông tin trong sổ nhật ký khai thác để tối ƣu
hóa các dòng thông tin cần thu thập phục vụ
việc phân tích, đánh giá nghề cá. Về cơ bản, sổ
nhật ký vẫn là dạng chuyến ký, nhƣng bổ sung
thêm các thông tin về cƣờng lực khai thác,
Vũ Việt Hà
56
gồm: Số ngày khai thác của tháng trƣớc, số
ngày hoạt động trong chuyến biển và ngƣ
trƣờng khai thác đồng thời loại bỏ những thông
tin không cần thiết. Sơ đồ ngƣ trƣờng khai thác
ở biển Việt Nam đƣợc mã hóa thành các ô biển
1,0 × 1,0 độ kinh, vĩ và đƣợc bổ sung vào trang
cuối của sổ nhật ký giúp các thuyền trƣởng dễ
dàng tra cứu thông tin về ngƣ trƣờng đã đƣợc
chuẩn hóa.
Hình 2. Mã hóa các ô biển sử dụng trong hoạt động ghi sổ nhật ký khai thác theo Thông tƣ
25/2013/TT-BNNPTNT ngày 10/5/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Việc ghi sổ nhật ký khai thác đƣợc thực
hiện bằng sự phối hợp ba bên giữa Tổng cục
Thủy sản, các chi cục khai thác và bảo vệ
nguồn lợi thủy sản tại địa phƣơng và Viện
Nghiên cứu Hải sản. Trong đó, Viện Nghiên
cứu Hải sản là đơn vị tƣ vấn đồng thời quản
lý, phân tích toàn bộ số liệu đã thu thập. Tổng
cục Thủy sản là chủ đầu tƣ và các chi cục chủ
trì thực hiện việc thu mẫu.
Hình 3. Mô phỏng thiết kế thu mẫu theo không
gian và thời gian [4]
Bàn về điều tra nghề cá thương phẩm ở biển
57
Số liệu nghề cá thƣơng phẩm đƣợc thu thập
theo phƣơng pháp thu mẫu theo không gian và
thời gian [4]. Hàng tháng, các tàu đƣợc lựa
chọn để thực hiện việc ghi sổ nhật ký khai thác
sẽ ghi lại thông tin về hoạt động khai thác ở
một chuyến biển bất kỳ trong tháng đó. Các
thông tin về hoạt động khai thác gồm: Thông
tin về tàu thuyền, ngƣ lƣới cụ, các thông tin về
hoạt động khai thác nhƣ vị trí khai thác, độ sâu
khai thác, thời gian khai thác, sản lƣợng mẻ
lƣới, thành phần nhóm thƣơng phẩm của
chuyến biển. Mô phỏng phƣơng pháp thu mẫu
đƣợc trình bày ở hình 3. Toàn vùng biển Việt
Nam đƣợc chia thành 4 vùng thu mẫu là vịnh
Bắc Bộ, Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nam
Bộ. Ở mỗi vùng, tiến hành phân bổ các đội tàu
cần thu mẫu đến từng tỉnh đảm bảo mẫu thu
đƣợc sẽ đại diện cho vùng biển đó.
Cơ cấu nghề khai thác đƣợc phân nhóm
thành từng họ nghề nhƣ sau:
Họ nghề lƣới kéo: Lƣới kéo đôi, lƣới kéo
đơn;
Họ nghề lƣới vây: Vây ánh sáng, vây ngời;
Họ nghề lƣới rê: Lƣới rê nổi, lƣới rê đáy;
Họ nghề câu: Câu tay, câu tay cá ngừ, câu
vàng cá ngừ, câu vàng đáy;
Nghề chụp;
Nghề mành.
Trong mỗi nghề, dựa trên đặc điểm hoạt
động khai thác các tàu cá đƣợc nhóm lại thành
đội tàu dựa trên công suất máy. Theo kết quả
nghiên cứu của dự án ALMRV II, các đội tàu
đƣợc phân nhóm nhƣ sau:
Đối với các nghề khai thác chủ động, nhƣ
lƣới kéo đáy, lƣới vây và chụp: Gồm các đội
tàu: <20 CV; 20-50 CV; 50-90 CV; 90-250
CV; 250-400 CV và >400 CV.
Đối với nghề khai thác thụ động, nhƣ các
họ nghề lƣới rê, câu, mành, gồm các đội tàu:
90 CV.
Để đảm bảo độ tin cậy 90% theo tiêu chuẩn
của FAO [4], ở một điểm thu mẫu mỗi đội tàu
sẽ thu thập 32 sổ nhật ký khai thác.
Kết thúc tháng, sổ nhật ký khai thác đƣợc
cán bộ điều phối ở địa phƣơng tập hợp và gửi
cho Viện Nghiên cứu Hải sản để quản lý
chung, nhập vào cơ sở dữ liệu phục vụ việc
phân tích, đánh giá.
Từ tháng 7/2014 đến nay, công tác thu thập
số liệu nghề cá thƣơng phẩm bằng tiếp cận ghi
sổ nhật ký khai thác đã đƣợc thực hiện và đã
thu đƣợc khối lƣợng lớn thông tin về hoạt động
nghề cá trong toàn quốc. Trong một năm (từ
tháng 7/2014 đến hết tháng 6/2015) đã thu thập
đƣợc 70.210 sổ nhật ký khai thác trên toàn
vùng biển Việt Nam.
Kết quả phân tích số liệu thu đƣợc từ sổ
nhật ký khai thác mặc dù còn những hạn chế,
sai sót, tuy nhiên về cơ bản đã đáp ứng đƣợc
yêu cầu tối thiểu cho việc đánh giá cƣờng lực
và sản lƣợng khai thác của nghề cá nƣớc ta, tập
trung vào các đối tƣợng gồm cá, giáp xác (tôm,
cua, ghẹ) và động vật chân đầu (mực, bạch
tuộc). Sản lƣợng và cƣờng lực khai thác đối với
từng loài chƣa đánh giá đƣợc từ tiếp cận này.
NHỮNG HẠN CHẾ TỒN TẠI
Bên cạnh những kết quả đã đạt đƣợc của
việc thu thập số liệu nghề cá thƣơng phẩm bằng
hình thức ghi sổ nhật ký khai thác, thì phƣơng
pháp này còn tồn tại một số hạn chế nhƣ sau:
Cách thức triển khai việc thu mẫu. Việc thực
hiện nội dung ghi sổ nhật ký khai thác trong
thời gian vừa qua đƣợc thực hiện trong khuôn
khổ dự án ”Điều tra tổng thể hiện trạng và biến
động nguồn lợi hải sản biển Việt Nam” với sự
phối hợp thực hiện của ba bên là Tổng cục
Thủy sản, các Chi cục Khai thác và Bảo vệ
nguồn lợi thủy sản và Viện Nghiên cứu Hải
sản. Hoạt động này không phải nhiệm vụ
thƣờng xuyên của các chi cục và Viện, do đó,
trong quá trình triển khai, nhiều địa phƣơng đã
không thực hiện hoặc thực hiện với trách nhiệm
không cao. Các địa phƣơng không thấy đƣợc
tầm quan trọng và ý nghĩa của việc thu thập số
liệu nghề cá thƣơng phẩm do đó hiệu quả của
việc thu mẫu còn rất hạn chế.
Theo thiết kế hệ thống thì việc ghi sổ nhật
ký khai thác phải trực tiếp do chủ tàu khai thác
ghi trong quá trình khai thác trên biển. Tuy
nhiên, trong quá trình triển khai, việc ghi sổ
nhật ký khai thác đã không đƣợc thực hiện
đúng với thiết kế ban đầu. Nhiều địa phƣơng đã
chuyển sang hình thức phỏng vấn. Biểu ghi
nhật ký khai thác đƣợc cán bộ điều phối hoạt
động thu mẫu sử dụng để phỏng vấn chủ tàu và
ghi lại thông tin về hoạt động khai thác. Với
hình thức này, thông tin về hoạt động khai thác
có thể không phản ánh đúng thực tế.
Vũ Việt Hà
58
Khi triển khai thu thập số liệu, chƣa có tập
huấn cho cán bộ đảm nhiệm nhiệm vụ điều
phối thu mẫu ở các địa phƣơng nên khi triển
khai thì rất lúng túng đặc biệt là việc hƣớng dẫn
thuyền trƣởng tàu cá ghi nhƣ thế nào cho đúng,
đạt yêu cầu.
Ghi sổ nhật ký dạng chuyến ký không phản
ánh đƣợc thực tế ngƣ trƣờng khai thác của
các tàu cá. Do mỗi chuyến biển chỉ ghi thông
tin một lần duy nhất. Trƣớc khi thông tƣ
25/2013/TT-BNNPTNT ban hành, việc ghi
nhật ký khai thác đƣợc thực hiện theo thông tƣ
48/2010/TT-BNNPTNT, ngày 11 tháng 8 năm
2010 của Bộ trƣởng Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn. Theo thông tƣ này thì việc ghi
sổ nhật ký khai thác đƣợc thực hiện hàng ngày,
đối với từng mẻ lƣới đã thực hiện. Nhƣ vậy,
hàng tháng sẽ có toàn bộ thông tin về hoạt động
của tàu cá trong tháng đó. Đối với những ngày
không khai thác thì trang nhật ký đƣợc để
trống. Với cách triển khai nhƣ vậy, thông tin về
hoạt động của tàu cá sẽ đƣợc đánh giá đầy đủ,
bao gồm các thông tin sự thay đổi ngƣ trƣờng
và thành phần sản lƣợng hàng ngày.
Việc thu thập thông tin còn chƣa đƣợc thực
hiện đầy đủ. Trong biểu nhật ký khai thác, mỗi
trƣờng thông tin cần thu đều đƣợc sử dụng để
tính toán các chỉ số cụ thể, phục vụ việc đánh
giá sản lƣợng và cƣờng lực khai thác. Tuy
nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, rất
nhiều trƣờng thông tin bị bỏ trống, không ghi
thông tin, do đó không sử dụng đƣợc. Một số
trƣờng thông tin thƣờng bị bỏ trống là: Thông
tin về ngƣ cụ, thông tin về số ngày hoạt động
trong tháng trƣớc và thông tin về số ngày hoạt
động trong chuyến khai thác.
Trong quá trình thực hiện việc ghi sổ nhật
ký khai thác, một số địa phƣơng đã không
triển khai theo kế hoạch. Thông tin đƣợc thu
thập theo dạng hồi cứu hoặc tự ghi thông tin
vào biểu nhật ký khai thác. Những biểu nhật ký
khai thác này không sử dụng đƣợc và đƣợc loại
bỏ sau khi Viện Nghiên cứu Hải sản kiểm tra.
Sử dụng tên địa phƣơng. Trong thành phần
sản lƣợng khai thác, có rất nhiều nhóm thƣơng
phẩm khác nhau và mỗi địa phƣơng có cách gọi
tên nhóm thƣơng phẩm khác nhau dẫn đến việc
không thống nhất thậm chí nhầm lẫn khi phân
tích số liệu.
Việc phát sổ nhật ký cho chủ tàu và thu lại
nhật ký hàng tháng đƣợc thực hiện nhƣng
chƣa bám sát kế hoạch đã đề ra. Viện Nghiên
cứu Hải sản nhận đƣợc số liệu rất muộn so với
quy định, do đó ảnh hƣởng chung đến tiến độ
kiểm ra, nhập và xử lý thông tin trong quá trình
thực hiện.
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Để thiết lập và vận hành thống nhất hệ
thống thống kê nghề cá từ trung ƣơng đến địa
phƣơng thì việc bổ sung chức năng, nhiệm vụ
thống kê nghề cá cho các chi cục khai thác và
bảo vệ nguồn lợi thủy sản là cần thiết. Khi hệ
thống đƣợc thiết lập, việc thu thập thông tin
nghề cá sẽ đƣợc đảm bảo và đƣợc thực hiện
thống nhất, đồng bộ.
Cần thực hiện đồng bộ, thống nhất và đúng
quy định đối với việc ghi nhật ký khai thác.
Chủ tàu cá là ngƣời ghi sổ nhật ký khai thác và
cán bộ điều phối ở địa phƣơng là ngƣời phát và
thu lại sổ sau đó kiểm tra sơ bộ rồi gửi cho
Viện Nghiên cứu Hải sản quản lý thống nhất.
Sổ nhật ký nên thiết kế lại theo hƣớng ghi
nhật ký hàng ngày, không nên áp dụng dạng
chuyến ký.
Cần tập huấn cho mạng lƣới cộng tác viên
về phƣơng pháp thu mẫu nghề cá thƣơng phẩm,
từ đó sẽ nâng cao đƣợc chất lƣợng của các số
liệu thu thập. Cần có đánh giá hàng năm về
công tác thu thập số liệu và các kết quả đã đạt
đƣợc trong đó đối tƣợng tham gia bao gồm các
cơ quan quản lý, đơn vị tƣ vấn, đơn vị thực
hiện và mạng lƣới cộng tác viên tham gia vào
việc thu mẫu thống kê nghề cá.
Cần bố trí kinh phí thực hiện việc thu mẫu
kịp thời, đúng tiến độ để hoạt động của các
đơn vị thực hiện nhiệm vụ thu mẫu không bị
gián đoạn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Gunderson, D. R., 1993. Surveys of fisheries
resources. John Wiley & Sons. 248 p.
2. Jennings, S., Kaiser, M. J., and Reynolds, J.
D., 2001. Marine fisheries ecology. Oxford,
UK: Blackwell Publishing. 402 p.
3. Sparre, P., and Venema, S. C., 1995.
Introduction to tropical fish stock
assessment-Part 1: Manual. Fisheries
Technical Paper, 306, Rome: FAO.
Bàn về điều tra nghề cá thương phẩm ở biển
59
4. Stamatopoulos, C., 2002. Sample-based
fishery surveys: A technical handbook.
Food and Agriculture Organization of the
United Nations.
5. Raakjær, J., Son, D. M., Stæhr, K. J.,
Hovgård, H., Thuy, N. T. D., Ellegaard, K.,
... and Hai, P. G., 2007. Adaptive fisheries
management in Vietnam: The use of
indicators and the introduction of a multi-
disciplinary Marine Fisheries Specialist
Team to support implementation. Marine
Policy, 31(2), 143-152.
6. Đào Mạnh Sơn, 2005. Nghiên cứu, thăm dò
nguồn lợi hải sản và lựa chọn công nghệ
khai thác phù hợp phục vụ phát triển nghề
cá xa bờ Việt Nam. Tuyển tập các công
trình nghiên cứu nghề cá biển. Tập 3, trang
133-188. Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.
7. Đặng Văn Thi and Nguyễn Bá Thông,
2008. Nguồn lợi và nghề khai thác cá cơm
vùng biển Tây Nam Bộ, Việt Nam. Tạp chí
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,
tháng 11/2008.
8. Vũ Việt Hà và Phạm Huy Sơn, 2011. Đánh
giá sản lƣợng và cƣờng lực khai thác ở
vùng đánh cá chung vịnh Bắc Bộ. Tạp chí
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,
tháng 11/2011), trang 106-113
9. Vũ Việt Hà, Phạm Huy Sơn và Nguyễn Khắc
Bát, 2014. Sản lƣợng và cƣờng lực khai
thác bền vững tối đa ở Vùng đánh cá chung
vịnh Bắc Bộ, giai đoạn 2011-2013. Tạp chí
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,
tháng 9/2014. Chuyên đề: Nghiên cứu
Nghề cá biển.
DISCUSSION ON MARINE CAPTURE FISHERIES SURVEY
IN VIETNAM
Vu Viet Ha
Research Institute for Marine Fisheries, Ministry of Agriculture and Rural Development
ABSTRACT: In fish stock assessment, two approaches have been used to collect data:
Fisheries independent survey and fisheries survey. Fisheries independent survey provides scientific
information on species composition, catch rate, density, distribution, standing stock biomass and
biological information of certain species while fisheries survey supplies primary data for a wide
variety of statistical analysis of fisheries performance. In Vietnam, fisheries survey was first
developed by project “Assessment of the Living Marine Resources in Vietnam” with the support of
DANIA since 1998 as the pilot study in 11 coastal provinces with the purpose of establishing the
fisheries statistical system in Vietnam. After the pilot stage, it has been extended to all of 28 coastal
provinces and worked effectively since 2000. In 2006, when the project ended, the fisheries
statistical system collapsed due to no finance support to continue. Since July 2014, the fisheries data
collection network has been recovered with the collaboration of Directorate of Fisheries, Research
Institute for Marine Fisheries and Provincial Departments of Capture Fisheries and Marine
Resources Protection. The survey design was the logbook base with applying the sampling in space
and in time method. This is an overview of the capture fisheries survey in Vietnam with its
limitations and challenges.
Keywords: Fisheries, survey, logbook, statistics, interview.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
ban_ve_dieu_tra_nghe_ca_thuong_pham_o_bien_viet_nam.pdf