Bên cạnh đó là những nhược điểm.
- Về trang thiết bị máy móc chưa đồng bộ, ngoài những dây truyền sản xuất được đầu tư mấy năm gần đây, còn lại thiết bị đều đã quá cũ, lạc hậu về kỹ thuật gây không ít ảnh hưởng đến việc nâng cao dạng sản phẩm kẹo khó cho việc đổi mới sản phẩm, ảnh hưởng đến năng xuất, sử dụng vật tư kém hiệu quả.
- Trình độ tay nghề của công nhân không đồng đều, đặc biệt là ý thức trách nhiệm trước sản phẩm do chính họ làm ra. Trong công ty đã có những biện pháp nâng cao tay nghề cho công nhân nhưng chưa được tổ chức thực hiện đồng bộ, liên tục nên kết quả đem lại còn hạn chế.
- Chất lượng nguyên vật liệu đầu vào tuy đã được kiểm tra nhưng vẫn không tránh khỏi những sai sót, có khi khâu cung ứng nguyên vật liệu còn chậm không kịp thời làm cho bộ phận sản xuất bị động lúc nhanh, lúc chậm ảnh hưởng đến tiến trình sản xuất.
39 trang |
Chia sẻ: oanh_nt | Lượt xem: 1390 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Báo cáo Tổng hợp tình hình kinh doanh tại công ty bánh kẹo Hải Hà, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tổ chức Đảng, tổ chức công đoàn, nâng cao tay nghề công nhân và cải thiện đời sống của người lao động trong xí nghiệp.
Năm 1966 nhiệm vụ của nhà máy đã có sự chuyển hướng để phù hợp với tình hình mới. Thực hiện chủ trương của Bộ công nghiệp nhẹ, Bộ thực phẩm đã lấy nơi đây làm công tác các đề tài thực phẩm. Từ đây nhà máy mang tên gọi mới: Nhà máy thực nghiệm thực phẩm Hải Hà.
Giai đoạn từ 1961-1991
Tháng 6-1970 thực hiện chủ trương của Bộ lương thực thực phẩm, nhà máy đã chính thức tiếp nhận phân xưởng kẹo của nhà máy bánh kẹo Hải Châu bàn giao sang với công suất 900 tấn/ năm vơí nhiệm vụ chính là sản xuất kẹo nha, giấy tinh bột.
Đến tháng 12-1976 nhà máy phê chuẩn thiết kế mở rộng nhà máy với công suất 6000 tấn/năm.
Đến 1980 nhà máy chính thức có hai tầng với tổng diện tích sử dụng 2500 m2.
Năm 1981-1985 là thời gian ghi nhận bước chuyển biến của nhà máy từ giai đoạn sản xuất thủ công sang cơ giới hoá. Bắt đầu từ năm 1981, nhà máy lại được chuyển sang Bộ công nghiệp thực phẩm quản lý nhưng vẫn với tên gọi: Nhà máy thực phẩm Hải Hà.
Năm 1988, do việc sát nhập các nhà máy trực thuộc Bộ nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm quản lý. Thời kì này nhà máy mở rộng và phát triển thêm nhiều dây chuyền sản xuất mới, dần thực hiện luận chứng kinh tế. Sản phẩm của nhà máy được tiêu thụ rộng rãi trong cả nước và xuất khẩu sang các nước Đông Âu. Một lần nữa nhà máy đổi tên thành Nhà máy xuất kẹo Hải Hà. Tốc độ tăng sản lưọng hàng năm từ 1%-15%, sản xuất từ chỗ thủ công đã dần tiến tới cơ giới hoá 70%-80% với số vốn Nhà nước giao từ 1-1-1992 là 5454 triệu đồng.
Giai đoạn từ 1992 đến nay
Tháng 1-1992, nhà máy chuyển về trực thuộc Bộ công nghiệp nhẹ quản lý. Trước tình hình biến động của thị trường nhiều doanh nghiệp đã phá sản nhưng Hải Hà vẫn đứng vững và vươn lên.
Tháng 7-1992 Nhà máy xuất khẩu kẹo Hải Hà được quyết định đổi tên thành Công ty bánh kẹo Hải Hà, với tên giao dịch là HAIHACO trực thuộc Bộ công nghiệp quản lý. Mặt hàng sản xuất chính là bánh kẹo như: kẹo sữa dừa, kẹo hoa quả, kẹo sôcôla, bánh biscuit, bánh kem..
Tháng 5-1992 Hải Hà chính thức liên doanh với Nhật Bản và Hàn Quốc thành lập công ty liên doanh HaiHa- Kotubuki và Haiha- Kameda, HaiHa- Miwon nhưng đến nay chỉ còn Haiha-kotubuki và Haiha-Miwon.
Trải qua hơn một phần tư thế kỉ, Hải Hà mang nhiều tên gọi khác nhau, qua nhiều bộ phận quản lý, đánh dấu sự thay đổi từng loại hình sản xuất và phản ánh xu thế phát triển của Nhà máy. Công ty bánh kẹo Haỉ Hà bằng tiềm lực sẵn có với nỗ lực không ngừng vươn lên đã tự khẳng định mình và tiếp tục thực hiện chức năng sản xuất kinh doanh phục vụ nhu cầu xã hội ngày càng tốt hơn. Tính đến nay, Công ty đã có 5 xí nghiệp thành viên và 2 công ty liên doanh.
2. Chức năng và nhiệm vụ của Công ty
Nhiệm vụ của công ty bánh kẹo Hải Hà được qui định như sau:
- Sản xuất và kinh doanh các loại bánh kẹo để cung cấp cho thị trường.
- Xuất khẩu các sản phẩm của công ty và công ty liên doanh, nhập khẩu thiết bị, nguyên liệu phục vụ cho nhu cầu sản xuất của công ty và thị trường.
- Ngoài sản xuất bánh kẹo là chính công ty còn kinh doanh các mặt hàng khác để không ngừng nâng cao đời sống và thúc đẩy sự phát triển của công ty ngày càng lớn mạnh.
Ngoài ra, công ty còn có nhiệm vụ sau:
+ Bảo toàn và phát triển nguồn vốn được giao.
+ Thực hiện các nhiệm vụ và nghĩa vụ đối với Nhà nước.
+ Thực hiện phân phối theo lao động: chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho CBCNVC, nâng cao trình độ chuyên môn.
Như vậy, mục tiêu chung của công ty là đảm bảo thực hiện tốt các nghĩa vụ đối với nhà nước, đồng thời không ngừng phát triển qui mô doanh nghiệp, nâng cao đời sống của cán bộ công nhân trong công ty.
3. Một số đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của Công ty Bánh kẹo Hải Hà
3.1. Đặc điểm bộ máy tổ chức của công ty
Qua sơ đồ ta thấy bộ máy tổ chức của Công ty được bố trí theo cơ cấu trực tuyến – chức năng. Cơ cấu tổ chức quản lý và cơ cấu sản xuất của công ty có mối quan hệ chặt chẽ, hữu cơ với nhau tạo động lực phát huy hiệu quả trong công việc. Thông tin của lãnh đạo cấp cao nhanh chóng được truyền đạt cho cán bộ cấp dưới và có được nhanh thông tin phản hồi, thông tin có tính nhất quán và tính chính xác cao.
* Cơ cấu quản trị:
Đứng đầu bộ máy quản trị là tổng giám đốc, người quản trị công ty theo chế độ 1 thủ trưởng, có quyết định điều hành hoạt động sản xuất của công ty theo đúng kế hoạch, chính sách pháp luật của nhà nước và chịu trách nhiệm trước tập thể lao động về kết quả sản xuất, kinh doanh của Công ty. Tổng giám đốc là người đại diện cho công ty trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.
Phó tổng giám đốc tài chính có chức năng tham mưu cho tổng giám đốc về công tác quản trị tài chính.
Trực thuộc Phó tổng giám đốc tài chính gồm 2 phòng: Tài vụ và Kế toán.
Phòng Tài vụ có chức năng huy động vốn cho sản xuất, thanh toán các khoản nợ, vay và trả (nội bộ và đối ngoại)
Phòng Kế toán có chức năng tính giá thành sản phẩm, xác định kết quả sản xuất kinh doanh (lãi hay lỗ).
Phó tổng giám đốc kỹ thuật có chức năng chỉ đạo, kiểm tra chất lượng sản phẩm, tham mưu cho tổng giám đốc về kỹ thuật khi công ty có nhu cầu đầu tư dây chuyền sản xuất.
Trực thuộc phó tổng giám đốc kỹ thuật gồm 2 phòng: Kỹ thuật và KCS có chức năng theo dõi việc thực hiện các quá trình công nghệ, đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm, nghiên cứu và chế thử sản phẩm mới.
Phó tổng giám đốc kinh doanh chịu trách nhiệm về quản trị nguyên vật liệu và tiêu th sản phẩm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của công ty luôn nhịp nhàng đều đặn.
Phó tổng giám đốc kinh doanh giám sát hoạt động của phòng Kinh doanh.
Phòng Kinh doanh có chức năng lập kế hoạch sản xuất kinh doanh (ngắn hạn và dài hạn), cân đối kế hoạch, điều độ sản suất và chỉ đạo kế hoạch cung ứng vật tư sản xuất, ký hợp đồng và theo dõi tiến độ thực hiện hợp đồng, thu mua vật tư thiết bị tiêu thụ sản phẩm, tổ chức hoạt động Marketing từ qúa trình sản xuất đến tiêu thụ, thăm dò và mở rộng thị trường, lập ra các chiến lược tiếp thị quảng cáo, lập phương án phát triển cho Công ty.
Các nhóm thuộc phòng kinh doanh là hệ thuộc các cửa hàng, nhóm Marketing, nhóm cung ứng vật tư, nhóm xây dựng cơ bản, nhóm điều hành sản xuất, nhóm vận tải, nhóm bốc vác, kho tàng.
Văn phòng có chức năng lập định mức thời gian cho các loại sản phẩm, xác định mức tiền lương, tiền thưởng cho toàn bộ công nhân viên của công ty, tuyển dụng lao động, phụ trách vấn đề bảo hiểm an toàn lao động vệ sinh công nghiệp, phục vụ và tiếp khách.
* Cơ cấu sản xuất:
Cơ cấu sản xuất của công ty được chuyên môn hoá tới từng xí nghiệp, mỗi xí nghiệp được phân công chế biến những sản phẩm nhất định và tổ chức sản xuất theo phương pháp dây chuyền liên tục. Sự mạnh dạn đổi mới mô hình cơ cấu tổ chức sản xuất được công ty thực hiện năm 1995:
-Tập trung 3 phân xưởng sản xuất kẹo thành xí nghiệp kẹo.
-Tập trung 2 phân xưởng sản xuất bánh thành xí nghiệp bánh.
-Tập trung các bộ phận in hộp, cắt giấy, nề mộc, cơ điện ... thành xí nghiệp phụ trợ.
-Sát nhập Nhà máy thực phẩm Việt Trì vào công ty.
-Sát nhập Nhà máy bột dinh dưỡng vào công ty.
3.2. Đặc điểm về lao động.
Đặc điểm sản xuất của Công ty là lao động nhẹ nhàng, đòi hỏi sự khéo léo của người lao động nên lao động nữ chiếm tỷ trọng lớn khoảng 80%.
Trong những năm qua lực lượng lao động của Công ty không ngừng lớn mạnh cả về số lượng cũng như chất lượng. Từ một Công ty chỉ có 1000 lao động đến nay con số này lên tới gần 2000 lao động. Điều này cho thấy trong những năm qua Công ty hoạt động rất có hiệu quả, từ đó dẫn tới mở rộng hoạt động sản xuất. Số lượng cán bộ công nhân viên được bố trí như sau:
Bảng 1: Số lượng và cơ cấu lao động của Công ty
Stt
Nội dung
Tổng số
Hành chính
XN Kủo
XN Bánh
XN Phụ trợ
XN Việt Trì
XN Nam Định
1
Lao động
dài hạn
1048
109
365
90
41
387
56
2
Lao động
1-3 năm
608
43
170
172
5
203
15
3
Lao động
thời vụ
314
5
47
51
0
211
0
4
Tổng số
1970
157
582
313
46
801
71
5
Lao động gián tiếp
259
157
14
13
7
40
28
-Nghiệp vụ kinh tế
189
132
8
8
1
25
15
-Nghiệp vụ kỹ thuật
56
25
5
5
5
9
7
-Phục vụ,
vệ sinh
20
3
2
2
1
6
66
6
Lao động
trực tiếp
1711
0
568
300
39
761
43
(Nguồn :Phòng tổ chức)
Với tổng số công nhân viên là 1970 người (năm 2000), trong đó 1656 người làm việc thường xuyên tại Công ty, còn 314 người làm theo thời vụ (ví dụ vào những dịp lễ, tết..) đã tác động không nhỏ tới hiệu quả kinh doanh của Công ty. Ban giám đốc không chỉ quan tâm đến số lượng lao động mà còn chú trọng đến chất lượng lao động. Công ty thường xuyên mở các lớp đào tạo tại doanh nghiệp, cử người đi học nước ngoài về quản lý kinh tế và tổ chức các cuộc thi tay nghề lên bậc thợ cho công nhân.
Hiện nay, Công ty có 164 người có trình độ đại học, 37 người đạt trình độ cao đẳng và 44 người đạt trình độ trung cấp, bậc thợ bình quân toàn Công ty là 4/7. Nếu đem so sánh các Công ty sản xuất bánh kẹo nói chung thì Công ty Bánh kẹo Hải Hà có trình độ đại học và trình độ chuyên môn vào loại khá, điều này, góp phần nâng cao vị thế cạnh tranh của Công ty trên thị trường.
Bảng 2: Cơ cấu lao động theo trình độ.
ĐVT: người
Chỉ tiêu lao động
Đại học
Cao đẳng
Trung cấp
Công nhân
kỹ thuật
1.Cán bộ kỹ thuật
35
15
6
2.Cán bộ quản lý
129
22
38
3.Công nhân bậc 6-7
305
4.Công nhân bậc 4-5
507
5.Công nhân bậc 3
722
Tổng số
164
37
44
1534
Số lượng cán bộ làm công tác lãnh đạo quản lý, làm công tác khoa học kỹ thuật là 245 người, chiếm 15% trong tổng số lao động. Trong đó, trình độ đại học chiếm 9,9%, cao đẳng chiếm 2,23% và trình độ trung cấp chiếm 2,87%. Đối với đặc điểm của ngành sản xuất bánh kẹo thì đây là một tỷ lệ khá cao, thể hiện số cán bộ có trình độ quản lý có trình độ cao, tạo điều kiện tốt cho Công ty trong việc điều hành sản xuất kinh doanh, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty.
3.3. Đặc điểm về công nghệ, thiết bị sản xuất.
3.3.1 Đặc điểm về trang thiết bị.
Trước đây máy móc thiết bị của Công ty phần lớn là lạc hậu cũ kỹ, năng suất thấp. Nhưng từ năm 1990 trở lại đây, Công ty đã nhập các thiết bị của các nước công nghiệp tiên tiến như: Đức, Italia, Đan Mạch, Nhật Bản. Tuy nhiên, các thiết bị có công suất nhỏ và vừa, đây là chiến lược dài hạn đúng đắn của Công ty do nhận định về thị trường Việt Nam tương đối bình ổn về nhu cầu bánh kẹo trong tương lai, môi trường cạnh tranh khốc liệt và tỷ lệ hao mòn vô hình về tài sản tăng nhanh.
Bảng 3: Thiết bị công nghệ sản xuất của Công ty
Tên thiết bị sản xuất
Nước sản xuất
Năm sử dụng
Công suất (Kg/giờ)
Thiết bị sản xuất kẹo
Nồi nấu kẹo chân không.
Máy gói kẹo cứng.
Máy gói kẹo mềm, kiểu gấp xoắn.
Máy gói kẹo mềm kiểu gói gối.
Dây chuyền kẹo Jelly đổ khuôn.
Dây chuyền kẹo Jelly cốc.
Dây chuyền kẹo Carmen béo.
Đài loan
Italia
Đức
Hà Lan
Australia
Inđônêxia
Đan Mạch
1990
1993
1995
1996
1996
1997
1998
300
500
600
1000
2000
120
200
2.Thiết bị sản xuất bánh.
-Dây chuyền sản xuất bánh qui.
-Dây chuyền phủ sôcôla.
-Dây chuyền sản xuất đóng gói bánh.
Đan Mạch
Đan Mạch
Nhật Bản
1993
1993
1995
300
200
300
Như vậy, trình độ trang thiết bị sản xuất bánh kẹo của Công ty Bánh kẹo Hải Hà đã có sự đầu tư hợp lý. Bên cạnh các trang thiết bị hiện đại tự động hoá Công ty còn kết hợp sử dụng kỹ thuật thủ công truyền thống. Việc đầu tư thêm máy móc thiết bị không chỉ làm tăng qui mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn góp phần đa dạng hoá sản phẩm, hoàn thiện sản phẩm và phát triển sản phẩm của Công ty
3.3.2 Đặc điểm về qui trình công nghệ
Hầu hết các qui trình công nghệ sản ở Công ty rất đơn giản, chu kỳ ngắn, qúa trình chế biến sản phẩm nằm gọn trong một phân xưởng nên công tác tổ chức và quản lý chất lượng sản phẩm tương đối thuận tiện. Các dây chuyền sản xuất nửa tự động, nửa thủ công hoặc một vài khâu trong dây chuyền là tự động, một vài khâu thủ công. Sau đây là các sơ đồ qui trình công nghệ sản xuất của ba chủng loại sản phẩm chính là kẹo mềm, kẹo cứng và bánh các loại.
Shortening, Magarin
Đánh trộn bông xốp
Bổ xung glucô, lecithin
Đường xay, bột mì, hương liệu
Đánh trộn
Máy dập hình
Nướng bánh
Băng tải nguội
Đóng túi
Xếp hộp thành phẩm
Sơ đồ 1:Qui trình công nghệ sản xuất bánh Biscuit
Đường kính, mật, tinh bột
Hoà tan
Lọc
Đánh trộn
Làm nguội
Nấu kẹo
Quật keo
Phụ liệu hương liệu
Cán kẹo
Sắt kẹo
Sàng kẹo
Gói tay
Chặt miếng
Lăn côn
Vuốt kẹo
Gói máy
Sơ đồ 2: Qui trình sản xuất kẹo mềm
Đường kính, glucô
Hoà, lọc đường
Thùng chứa
Nấu tại nồi nấu liên tục
Phòng làm lạnh
Thành hình
Sàng, làm nguội
Hương liệu Bơm dịch nhân
Tạo dịch nhân
Lựa chọn
Bao gói
Đóng thành phẩm
Nhập kho
(Nếu kẹo có nhân)
Sơ đồ 3: Qui trình sản xuất kẹo cứng
Cả ba qui trình công nghệ trên tuy không phức tạp nhưng mỗi bước đều phải tuân theo các chỉ tiêu kỹ thuật. Nếu một trong các chỉ tiêu kỹ thuật bị vi phạm như vệ sinh, thừa thiếu nguyên vật liệu, già lửa, non lửa…sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng sản phẩm. Chẳng hạn nhiệt độ quá cao hoặc áp suất quá cao sẽ gây ra hiện tượng già lửa, kẹo cứng, ăn khó nhai. Nếu nấu ở áp suất thấp gây ra non lửa, kẹo thường hay bị chảy nước, khó bảo quản.
Biện pháp để tránh sai sót trong quá trình sản xuất là Công ty phải luôn nâng cao tay nghề cho công nhân và phổ biến thường xuyên về các chỉ tiêu kỹ thuật cần đạt được. Đồng thời, kết hợp hài hoà giữa máy móc và thủ công, đưa nguyên vật liệu vào sản xuất phải kịp thời phù hợp với qui trình công nghệ cả về số lượng và chất lượng.
3.4. Đặc điểm về vốn
Vốn là một trong những yếu tố đầu vào không thể thiếu được trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Trong thực tế, có rất nhiều Công ty phải ngừng hoạt động vì thiếu vốn nhưng Công ty bánh kẹo Hải Hà lại có năng lực khá mạnh về vốn so vơí các doanh nghiệp Nhà nước khác. Do hoạt động kinh doanh của Công ty trong nhiều năm qua có hiệu quả, kết hợp với khả năng huy động từ nhiều nguồn khác. Với tiềm lực đó Công ty có rất nhiều thuận lợi trong quá trình sản xuất kinh doanh cũng như khả năng mở rộng thị phần được khẳng định là có triển vọng.
Bảng 4: Cơ cấu vốn của Công ty
Chỉ tiêu
1998
1999
2000
Giá trị
%
Giá trị
%
Giá trị
%
I. Cơ cấu vốn
1. Vốn lưu động
47,22
37,28
46,89
38,31
47,1
38
2. Vốn cố định
79,44
62,77
75,5
61,69
76,65
62
Tổng số
126,66
100
122,39
100
123,75
100
II. Nguồn vốn
1. Vốn chủ sở hữu
45,6
36
48,05
39,29
50,738
41,00
2.Vay ngắn hạn
74,95
59,1
64,68
52,84
56,75
45,85
3. Vay từ nguồn khác
6,11
4,9
9,66
7,9
16,262
13,15
Tổng số
126,66
100
122,39
100
123,75
100
3.5. Đặc điểm sản phẩm
Công ty Bánh kẹo Hải Hà qua nhiều năm hoạt động, sản phẩm cùng với tên gọi của Công ty đã khẳng định được thế mạnh trên thị trường. Ngày nay, với thiết bị hiện đại như Italia, Đức, Đan mạch, Australia, Nhật Bản… sản phẩm của Hải Hà đã được người tiêu dùng ưa thích, xứng đáng với danh hiệu Hàng Việt Nam chất lưọng cao.
Thành phần chủ yếu của bánh kẹo bao gồm: đường, nha, bột mì, sữa, hương liệu… với tỷ lệ nhất định cho mỗi loại sản phẩm. Bánh kẹo là những sản phẩm thuộc đồ ăn ngọt phục vụ chủ yếu cho các dịp lễ, tết do đó tình hình sản xuất của Công ty mang tính thời vụ. Thành phần chủ yếu là các nguyên liệu hữu cơ, dễ bị vi sinh phá huỷ, nên thời hạn bảo hành ngắn, thông thường là 60 ngày, riêng kẹo càphê là 180 ngày, tỷ lệ hao hụt tương đối lớn và yêu cầu vệ sinh cao. Khác với sản phẩm thông thường, quá trình để hoàn thành sản phẩm bánh kẹo ngắn chỉ trong ba giờ, vì vậy không có sản phẩm dở dang.
Sản phẩm của Công ty được chia thành các loại chính như sau:
Tên sản phẩm
Công suất sản xuất
Bánh
Ngọt
7 Tấn/ ngày
Mặn
5 Tấn/ ngày
Kẹo
Cứng
10 Tấn/ ngày
Mềm
8 Tấn/ ngày
Dẻo
12 Tấn/ ngày
Kẹo cứng là mặt hàng truyền thống của Công ty, bao gồm: Kẹo Caramen béo, hoa quả, Wandisney, kẹo tây du ký…Mỗi loại sản phẩm kẹo cứng có hương vị khác nhau như dứa, Socola, Ô mai, dừa, Cốm, Me. Kẹo cứng có nhân lần đầu tiên sản xuất ở Việt Nam tại Công ty bánh kẹo Hải Hà với dây truyền sản xuất nhập từ Ba Lan. Nó có đặc trưng về mùi thơm, dòn, dễ ăn, hương vị hài hoà. Tuy nhiên, trong Công ty thì sản kẹo mềm và kẹo dẻo chiếm ưu thế hơn cả về số lượng và chất lượng do nhu cầu hiện nay trên thị trường về kẹo thì kẹo mềm và kẹo dẻo vẫn được nhiều người yêu thích hơn. Kẹo dẻo của Công ty gồm: Jelly chíp chíp, Gôm, mè xửng, Jelly đổ khuôn. Kẹo mềm gồm: kẹo bắp bắp, mơ, sữa dừa, cốm…
Về sản phẩm bánh, Công ty đã kịp thời nắm bắt nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng, đổi mới thiết bị công nghệ hiện đại tiên tiến của Italia, Đan Mạch… để cho ra xưởng các loại bánh Biscuit, bánh Craker, bánh kem xốp… phục vụ cho nhu cầu sở thích của từng đối tượng tiêu dùng.
3.6. Đặc điểm thị trường bánh kẹo ở nước ta hiện nay và các đối thủ cạnh tranh của Công ty bánh kẹo Hải Hà.
Ngay sau khi chuyển đổi sang cơ chế thị trường, thị trường bánh kẹo ở nước ta trở nên hết sức sôi động. Nó có sự góp mặt của hàng trăm đơn vị cung cấp bánh kẹo trong nước như Công ty đường Biên Hoà, Công ty đường Quảng Ngãi, Công ty Vinabico, Tràng An, Hải Châu, Kinh Đô…Bên cạnh đó, còn có các cơ sở tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề truyền thống như: Kẹo dừa bến tre, Bánh đậu xanh Rồng Vàng, Bánh Cốm, Bánh kẹo nhập khẩu từ biên giới Việt Nam – Campuchia, Việt Nam - Trung Quốc, rồi bánh kẹo nhập lậu, nguồn sản xuất bất hợp pháp, hàng nhái nhãn hiệu, không bảo đảm vệ sinh thực phẩm. Do đó, trong những năm gần đây sản phẩm trên thị trường nước ta tăng về số lượng, đa dạng về chủng loại, ta có thể thấy rõ qua bảng dưới đây:
Bảng 5: Tình hình sản xuất bánh kẹo trong toàn quốc.
Khu vực
cung cấp
1998
1999
2000
Sản lượng(tấn)
%
Sản lượng(tấn)
%
Sản lượng(tấn)
%
DN Nhà nước
60.606.08
42,72
61.500
41,55
63.720
42,29
Công ty
Liên doanh
20.345
14,34
22.000
14,86
19.865
13,18
Các thành phần
kinh tế khác
47.620
33,57
49.500
33,46
50.100
33,25
Nhập Khẩu
13.286
9,37
15.000
10,13
17.000
11,28
Tổng cộng
141.849
100
148.000
100
150.685
100
So với năm trước
104,33
101,81
Qua bảng trên ta thấy sản xuất kinh doanh trong một môi trường cạnh tranh như vậy Công ty bánh kẹo Hải Hà phải chịu một sức ép rất lớn của các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
* Đối thủ cạnh tranh trong nước
Sản phẩm cuả Hải Hà có mặt ở cả ba vùng Bắc, Trung, Nam. Trong đó, thị trường miền Bắc là thị trường chính của Công ty và chiếm tỷ trọng tiêu thụ lớn nhất. Miền Trung cũng đã tiêu thụ một phần nhưng ở miền Nam lượng tiêu thụ rất ít so với Miền Bắc và miền Trung mặc dù dân cư rất đông. Nguyên nhân chủ yếu của sự khác biệt về khả năng tiêu thụ là thị hiếu tiêu dùng của từng vùng là khác nhau.
Ở thị trường miền Bắc mà cụ thể là tại Hà Nội, Hải Hà có một đối thủ cạnh tranh lớn là Công ty bánh kẹo Hải Châu. Hải Châu cũng sản xuất một số sản phẩm tương tự như của Hải Hà nhưng giá cả lại thấp hơn. Đây là một khó khăn lớn của Hải Hà. Ngoài ra cũng ngay tại thị trường Hà Nội, Hải Hà còn chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ của các Công ty khác như Công ty bánh kẹo Tràng An , đặc biệt kẹo cốm Tràng An chất lượng cao, mùi vị đặc trưng của cốm đã có uy tín với người tiêu dùng, bánh kẹo của Công ty sữa Vinamilk như bánh Petibeur, sản phẩm của nhà máy 19-5, bánh kẹo Thiên Hương, Hữu Nghị…
Thị trường miền Trung và miền Nam thì các đối thủ chủ yếu của Hải Hà là các Công ty đường như: Quảng Ngãi, Lam Sơn, Biên Hoà. Các đối thủ cạnh tranh này có một lợi thế rất lớn đó là nguyên liệu đường tự sản xuất được, một nguyên liệu chủ yếu của bánh kẹo nên chi phí đầu vào thấp hơn hẳn so với Hải Hà. Mặt khác, họ lại không phải chịu thuế với các sản phẩm đường nên gía thành thấp hơn hẳn so với Hải Hà và trạng thái đó là cạnh tranh không cùng trên một mặt bằng.
Ngoài ra, Hải Hà còn chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ của Công ty liên doanh Perfetti , kẹo cao su có nhân Bloop, kẹo sữa Apenliebe và Công ty chế biến thực phẩm Kinh Đô với sản phẩm bánh các loại đặc biệt là Snack Bim Bim.
* Các đối thủ cạnh tranh nước ngoài.
Bên cạnh các đối thủ cạnh tranh trong nước. Hải Hà còn phải chịu sự cạnh tranh của các đối thủ nước ngôài như các nước ASEAN và Trung Quốc . Các sản phẩm bánh kẹo của các nước ASEAN có chất lượng cao nhưng giá lại đắt , nó đáp ứng được nhu cầu của khách hàng có thu nhập cao, đây là các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng của Doanh nghiệp. Còn đối với bánh kẹo của Trung quốc có giá rất rẻ, chất lượng đa dạng, phong phú và thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của nhóm khách hàng có thu nhập thấp. Đây là đối thủ trực tiếp nguy hiểm của Công ty. Từ những đánh giá và nhận định thực tiễn ở trên về các đối thủ cạnh tranh công ty cần đề ra những sách lược và đối lược phù hợp, thích ứng với từng đối thủ.
4. Tình hình kinh doanh và khả năng chiếm lĩnh thị trường của Công ty.
4.1. Kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty một số năm gần đây.
Trước năm 1986, Công ty bánh kẹo Hải Hà sản xuất và kinh doanh theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp của nhà nước. Mọi chỉ thị, chỉ tiêu kế hoạch do nhà nước giao Công ty đều cố gắng hoàn thành và vượt mức kế hoạch được giao. Sau năm 1986, với chính sách đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà Nước ta , Hải Hà nói riêng và các doanh nghiệp trong cả nước nói chung như được thổi luồng sinh khí mới. Đó là việc nhà Nước ta xoá bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý và điều tiết của nhà nước. Chính tại thời điểm này, Công ty đã khẳng định mình hơn bao giờ hết trong sự nghiệp xây dựng và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh. Tốc độ tăng sản lượng hàng năm từ 10-15%. Từ sản xuất thủ công là chính Công ty đã chuyển sang cơ giới và bán tự động hoá và lợi nhuận không ngừng tăng từ số vốn của Nhà nước giao cho.
Cùng với sự hội nhập và phát triển của nền kinh tế thế giới, với tư duy nhạy bén và tầm nhìn chiến lược của thời đại. Tháng 5 năm 1992 Công ty đã liên doanh với Nhật Bản tạo ra hình thức hợp tác đầu tư 2 bên cùng có lợi. Cũng trong giai đoạn này, Hải Hà có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ nhất từ 30-35%/ năm. Sản phẩm của Công ty được xuất khẩu sang một số thị trường nước ngoài như Đông Âu , ASEAN… Đối với thị trường trong nước, sản phẩm của Công ty có mặt hầu hết 61 tỉnh thành trong cả nước. Sinh ra trong chiến tranh, trưởng thành và phát triển trong sản xuất và xây dựng. Công ty bánh kẹo Hải Hà đã không ngừng phát triển, sản phẩm của Công ty ngày càng thoả mãn nhu cầu người tiêu dùng, đáp ứng lòng mến mộ và tin yêu của nhân dân, xứng đáng một trong những doanh nghiệp hàng đầu sản xuất bánh kẹo trong cả nước.
Với gần 40 năm xây dựng và phát triển trong hoạt động sản xuất kinh doanh, Hải Hà đã không ngừng đổi mơí và phát triển. Cùng với việc nâng cao chất lượng sản phẩm và đầu tư thiết bị máy móc hiện đại để cho ra đời nhưng sản phẩm mới có chất lượng cao, đa dạng, phong phú về chủng loại, màu sắc, giá cả đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
Do vậy mà trong một số năm qua Công ty dẫn đầu về doanh số bán và năm 1999 được bình chọn vào “Top Ten” – Hàng Việt Nam chất lượng cao. Hiện nay với công suất hơn 11.000 tấn/ năm, doanh số bán trung bình đạt 164 tỷ đồng/ năm, Công ty được coi là một trong những doanh nghiệp Nhà nước làm ăn có hiệu quả. Kết quả kinh doanh của Công ty trong những năm gầm đây được phản ánh như sau: ( xem bảng 6).
Bảng 6: Kết quả kinh doanh của Công ty bánh kẹo Hải Hà
từ năm 1997-2000.
Stt
Chỉ tiêu
Đ. vị tính
1997
1998
1999
2000
1
Giá trị tổng sản phẩm
Tỷ đồng
133,35
135,5
132,8
138
2
Doanh thu
Tỷ đồng
153,38
161,5
162,5
168
3
Chi phí bán hàng
Tỷ đồng
2,01
1,953
1,987
2,125
4
Chi phí quản lý
Tỷ đồng
12,795
13,144
15,058
15,732
5
Nộp ngân sách
Tỷ đồng
16,017
16,17
18,2
20,45
6
Lợi nhuận
Tỷ đồng
0,325
0,2
0,3
0,38
7
Sản Lượng
Tấn
10.694
10700
9.840
10.850
8
Thu nhập bình quân
Ng.đồng
700
730
750
900
9
Tổng vốn
Tỷ đồng
110,750
126,66
122,39
123,75
-Vốn lưu động
Tỷ đồng
40,350
47,22
46,89
47,1
- Vốn cố định
Tỷ đồng
70,4
79,44
75,5
76,65
10
Số công nhân viên
Người
1921
1832
1962
1970
( Nguồn: Phòng tài vụ và phòng hành chính)
4.2. Tình hình kinh doanh các mặt hàng:
Hiện nay, Công ty sản xuất gần 100 chủng loại bánh kẹo. Do đặc tính của sản phẩm không phải đầu tư theo chiều sâu mà chủ yếu bằng đa dạng hoá sản phẩm, nên Công ty luôn cố gắng, nghiên cứu, tìm kiếm các sản phẩm mới. Việc nhập thêm một số dây chuyền sản xuất kẹo Jelly, Caramen đã giúp cho Công ty có những sản phẩm đặc trưng. Tình hình tiêu thụ của các nhóm mặt hàng trong một số năm gần dây được thể hiện qua bảng7.
Bảng 7: Cơ cấu kinh doanh các nhóm hàng chính của Công ty
Đơn vị tính: Tấn
Tên
1998
1999
2000
99/98
20/99
Bánh
Ngọt
Kem xốp các loại, qui kem, xốp dừa, cẩm chướng, bông hồng vàng…
2100
1890
2137
90
113,06
Mặn
Violét, dạ lan hương,
thuỷ tiên, phomát…
1020
1090
1270
106,86
116,5
Kủo
Cứng
Dưa xoài, dâu, Socola,
hoa quả, tây du ky
2900
2150
2820
74,13
131,16
Mềm
Cốm, sữa dừa, càphê, bắp bắp, mơ
3700
3520
3423
95,13
97,24
Dẻo
Jelly chip chip, gôm, mè xửng
980
1080
1200
110,2
111,11
Tổng số
10.700
9.840
10.850
91,96
110,26
Qua số liệu ở bảng trên ta thấy năm 1999 sản lượng tiêu thụ giảm 860 tấn (9.840 - 10.700) ứng với tỷ lệ giảm 8,04% (91,96 - 100). Năm 2000 so với năm 1999 sản lượng tiêu thụ tăng 1.010 tấn (10.850 - 9.840) tăng 10,26% (110,26 -100). Như vậy năm 1999 Công ty đã không hoàn thành kế hoạch tiêu thụ, còn năm 2000 Công ty đã hoàn thành vượt mức kế hoạch.
Năm 1999, hầu hết các mặt hàng duy chỉ có bánh mặn tăng 6,86%, kẹo dẻo tăng 110,2 % còn bánh ngọt giảm 10% , kẹo cứng giảm 25,87% , kẹo mềm giảm 4,87%. Điều này là do ảnh hưởng của các nhân tố:
Mặc dù Công ty đã mở rộng gần 100 chủng loại sản phẩm nhưng chịu sự ảnh hưởng của bão lụt miền Trung, chịu sự cạnh tranh khốc liệt của các Công ty Bánh Kẹo trong nước và nước ngoài. Do vậy, thị phần của Công ty có xu hướng giảm xuống. Một số sản phẩm mới đưa ra chưa có chỗ đứng trên thị trường, hơn nữa giá còn cao so với chủng loại của các Công ty khác dẫn tới sản lượng tiêu thụ giảm.
Một số chính sách thuế quan, bảo hộ hàng trong nước đã gây khó khăn cho Công ty.
Sang năm 2000 sản lượng tiêu thụ của Công ty tăng lên do Công ty mở rộng hệ thống đại lý trên toàn quốc, các sản phẩm của Công ty đã được người tiêu dùng ưa thích. Hơn nữa, trong năm 2000 Công ty đã tăng chi phí cho các hoạt động hỗ trợ bán hàng như dành 4% doanh thu quảng cáo, khuyến mại, hàng quí thưởng cho 20 đại lý có sản phẩm tiêu thụ cao nhất.
Tình hình các mặt hàng tiêu thụ còn được thể hiện qua bảng số 8
Bảng 8: Tình hình tiêu thụ một số mặt hàng.
(ĐVT: tấn)
stt
Mặt hàng
1999
2000
Sản xuất
Tiêu thụ
Tỷ trọng %
Sản xuất
Tiêu thụ
Tỷ trọng %
1
Kẹo Jelly các loại
835
800
95,8
1050
989
94,2
2
Kẹo cứng nhân
681,2
684,95
100,55
760,64
720
94,65
3
Kẹo tây du ký
375,8
509,1
135,47
525,8
530
100,8
4
Kẹo bắp bắp
97,83
90,62
92,63
96,8
97,5
100,7
5
Kẹo cốm
512,4
528,9
133,22
530,5
503,67
94,94
6
Kẹo socola
563,8
627,5
95,98
630
625,8
99,33
7
Bánh kem xốp
700
689,25
98,46
725,3
730,6
100,7
8
Bánh qui các loại
1300
1486
114,30
1568
1538
98,08
9
Bánh cẩm chướng
746,8
768,9
102,96
795,2
786,4
98,9
10
Bánh Layơn
3,834
3,026
78,92
3,65
3,45
94,52
Bảng trên phản ánh tình hình tiêu thụ các mặt hàng chủ yếu đại diện cho gần 100 chủng loại sản phẩm. Hầu hết khối lượng các mặt hàng tiêu thụ đều sát với khối lượng sản suất của Công ty. Điều này chứng tỏ công tác điều hành sản xuất của Công ty là rất tốt, đáp ứng kịp thời nhu cầu của người tiêu dùng, không xảy ra tình trạng thiếu sản phẩm cung cấp cho thị trường.
Mặt khác, trong năm 2000 hầu hết các mặt hàng trên đều tăng khối lượng tiêu thụ. Cụ thể, kẹo Jelly tăng 89 tấn ( 898 - 800) , kẹo cứng nhân tăng 35,05 tấn (720 - 684,95), kẹo tây du ký tăng 20,9 tấn ( 530 - 509,1), kẹo bắp bắp tăng 6,88 tấn (97,5 - 90,62), bánh kem xốp tăng 41,35 tấn (730,6 - 689,25), bánh qui tăng 52 tấn (1538 - 1468), bánh cẩm chướng tăng 17,5 tấn (768,4 - 786,9), bánh Lay ơn tăng 0,424 tấn (3,45 - 3,026). Duy chỉ có kẹo cốm và kẹo Socola giảm với một lượng không lớn, đối với kẹo cốm giảm 25,23 tấn (503,67 - 528,9), kẹo Socola giảm 1,7 tấn.
Sở dĩ có sự thay đổi về tinh hình tiêu thụ là do:
Lượng tiêu thụ kẹo Socola, kẹo Cốm giảm là do trong năm 1998, 1999 Công ty chưa đưa ra sản phẩm mới, có chất lượng cao có thể thay thế được kẹo Socola, kẹo Cốm là sản phẩm truyền thống được nhiều Công ty bánh kẹo khác sản xuất.
Trong tương lai, Công ty có kế hoạch sản xuất một số loại sản phẩm và thúc đẩy tiêu thụ. Bánh cẩm chướng có hiệu quả kinh doanh thấp nhưng lại có sản lượng tiêu thụ mạnh do đó Công ty chưa có ý định tìm sản phẩm thay thế mà trước mắt cố gắng giảm giá thành. Đối với loại bánh Lay ơn có hiệu quả cao nhưng khối lượng tiêu thụ là rất thấp do giá thành cao kéo theo gía bán cao tương ứng 58.000 đ/kg. Hiện nay, Công ty vẫn duy trì sản xuất loại bánh này vào các dịp lễ, tết . Nói chung, tỷ lệ lãi của bánh kẹo là rất thấp do trênh lệch giữa giá thành và giá bán là rất nhỏ. Do vậy, để nâng cao hiệu quả, Công ty cố gắng tìm những biện pháp để hạ giá thành sản phẩm.
4.3. Khả năng chiếm lĩnh thị trường của Công ty.
Tình hình khai thác thị trường của Công ty trong cả nước được thể hiện ở sản lượng tiêu thụ. Do giá của sản phẩm còn cao và thu nhập của mỗi vùng là khác nhau. Do vậy sức tiêu thụ ở mỗi vùng cũng khác nhau. Điều này được thể hiện ở trong bảng 11.
Tình hình chiếm lĩnh thị trường từng tỉnh thành thể hiện tình hình tiêu thụ ở thị trường đó. Theo số liệu của bảng, sản phẩm của Công ty bánh kẹo Hải Hà tiêu thụ ở Hà Nội là lớn nhất chiếm khoảng 30% tổng sản lượng tiêu thụ. So với các Công ty bánh kẹo khác tiêu thụ tại thị trường Hà Nội như: Hải Châu, Tràng An, Hữu Nghị, 19-5, thì sản phẩm tiêu thụ của Hải Hà nhiều hơn cả chiếm 40 % thị phần. Tuy nhiên, việc chiếm lĩnh thị trường Hà Nội đang giảm dần ưu thế do quá nhiều đối thủ cạnh tranh đặc biệt là hàng ngoại nhập. Trước tình trạng cạnh tranh gay gắt trên thị trường, việc tiến triển của Công ty bánh kẹo Hải Hà được tiến hành theo hai phương hướng :
-Khai thác mở rộng thị trường ngay trên thị trường truyền thống ( thị trường Miền Bắc) . Đây là hướng chủ yếu của Công ty.
-Phát triển các thị trường mới vào các vùng sâu, vùng xa và các tỉnh phía Nam có khả năng phát triển.
Tốc độ phát triển thị trường của Công ty rất mạnh và có chiều hướng tăng liên tục ở hầu hết các thị trường. Hiện nay, Công ty đang từng bước xây dựng cả thị trường trong nước và ngoài nước ( xem bảng 9)
Bảng 9: Tình hình tiêu thụ kẹo tại các thị trường địa phương của Công ty bánh kẹo Hải Hà từ năm 1997-2000
ĐVT: tấn
Thị trường
Sản lượng(tấn)
Mức chênh lệch(%)
1998
1999
2000
99/98
2000/99
Hà Nội
3011
2902
3032
96,38
104,48
Hà Tây
289
291
320
100,69
110
Hải Phòng
338
338
412
100
121,9
Thái Bình
301
341
358
113,29
105
Nam Hà
330
346
383
104,85
110,7
Hà Bắc
277
277
285
100
102,89
Vĩnh Phú
275
281
313
102,18
111,38
Hoà Bình
178
181
196
101,69
108,29
Hải Hưng
148
145
158
97,97
109
Thái Nguyên
106
105
109
99,06
103,8
Yên Bái
269
284
287
105,57
101,05
Phú Yên
20
5
20
25
400
Thanh Hoá
985
801
998
81,32
124,6
Nghệ An
993
910
1050
96,38
114,29
Hà Tĩnh
260
191
268
73,46
140,3
Sơn la
128
133
139
103,9
104,5
Cần Thơ
10
8
12
80
150
Lai Châu
80
77
89
96,25
115,58
Lâm Đồng
32
15
38
46,875
253,33
Sơn la
27
25
34
92,59
136
Gia Lai
20
10
15
50
150
Đắc lắc
491
400
483
81,47
120,75
Đà Nẵng
175
125
205
71,43
164
T.P. HCM
425
355
437
83,53
123
T.T. Huế
93
55
95
59,14
172,7
Qui nhơn
180
131
181
70,05
138,16
Tuyên quang
106
110
136
103,77
123,6
Quảng ninh
277
298
311
107,58
104,36
Ninh bình
213
217
231
101,88
106,45
Quảng Ngãi
184
104
176
56,52
169,23
Khánh Hoà
69
37
69
53,62
186,48
Xuất khẩu
410
350
0
85,36
Tổng số
10.700
9.840
10.850
4.4. Chỉ tiêu doanh thu
Thực trạng doanh thu của Công ty bánh kẹo Hải Hà từ năm 1997 đến nay được thể hiện qua bảng 12 sau:
Bảng 10: Tình hình doanh thu của Công ty từ năm 1997- 2000
Năm
å doanh thu
Tốc độ tăng doanh thu
Chênh lệch(tỷ đồng)
% so với năm trước
1997
153,38
1998
161,5
8,12
105,29
1999
162,5
1
100,62
2000
168
5,5
103,38
Nguồn : Phòng kinh doanh
Qua số liệu trên ta thấy, từ năm 1997 đến năm 2000 doanh thu liên tục tăng. Năm 1998 so với năm 1997 tăng 8,12 tỷ đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 5,29%. Nhưng đến năm 1999 doanh thu có tăng hơn so với năm 1998 là 1 tỷ đồng nên tốc độ tăng là 0,62 %. Đến năm 2000 doanh thu so với năm 1999 tăng vọt lên 5,5 tỷ đồng , đạt 103,38%. Nguyên nhân của việc tăng doanh thu này là do:
-Cuối năm 1997 đầu năm 1998 Công ty đưa vào sản xuất kẹo Jelly và kẹo Caramen béo- một loại kẹo có chất lượng cao. Đồng thời, Công ty sản xuất tăng thêm gần 20 chủng loại bánh kẹo khác .
-Năm 1999 do ảnh hưởng của cơn bão lụt Miền Trung và sự giải thể của Công ty liên doanh Cameda làm cho doanh thu tăng chậm lại. Mặc dù tổng sản lượng tiêu thụ giảm nhưng một số hàng có giá bán cao có sản lượng tiêu thu tăng lên, nên doanh thu năm 1999 vẫn tăng.
-Sang năm 2000, danh mục sản phẩm của Công ty mở ra gần 100 chủng loại. Các sản phẩm ra đời đã dần khẳng định trên thị trường cả về chất lượng và giá cả, thị phần tăng lên kéo theo doanh thu tăng 5,5 tỷ đồng so với năm 1999.
Để so sánh doanh thu giữa các năm với nhau ta có thể biểu hiện qua biểu đồ sau:
4.5. Chỉ tiêu lợi nhuận và nộp ngân sách
4.5.1 Lợi nhuận
Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của kết quả kinh doanh đó là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí.
Tình hình thể hiện lợi nhuận của được thể hiện qua bảng số liệu dưới đây:
Bảng 11: Kết quả kinh doanh của Công ty từ 1998- 2000
Đơn vị tính: Tỷ đồng
STT
Chỉ tiêu
1998
1999
2000
1
Tổng doanh thu
161,5
162,5
168
2
Các khoản giảm trừ
10,703
12,355
15,5
3
Doanh thu thuần
150,797
150,145
152,5
4
Giá vốn hàng bán
135,5
132,8
134,263
5
Lợi tức gộp
15,297
17,345
18,237
6
Chi phí bán hàng
1,953
1,987
2,125
7
Chi phí quản lý doanh nghiệp
13,144
15,058
15,732
8
Lợi nhuận
0,2
0,3
0,38
Bảng 12: Sự tăng giảm các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận.
STT
Chỉ tiêu
1999/1998
2000/1999
1
Tổng doanh thu
1
5,5
2
Các khoản giảm trừ
1,625
3,145
3
Doanh thu thuần
-0,652
2,355
4
Giá vốn hàng bán
-2,7
1,463
5
Lợi tức gộp
2,048
0,829
6
Chi phí bán hàng
0,034
0,138
7
Chi phí quản lý
1,914
0,674
8
Lợi nhuận
0,1
0,08
Lợi nhuận phụ thuộc vào các khoản làm tăng lợi nhuận như doanh thu và các khoản làm giảm lợi nhuận như giá vốn hàng bán, chi phí.
Qua bảng phân tích trên cho thấy, lợi nhuận của Công ty từ năm 1997 - 2000 đều tăng. So với năm 1998, lợi nhuận năm 1999 tăng 100 triệu đồng và lợi nhuận năm 2000 so với năm 1999 tăng 80 triệu đồng. Tốc độ tăng lợi nhuận của năm 1999/1998 lớn hơn tốc độ tăng của năm 2000/1999 là 23,33%. Điều này là do ảnh hưởng của các nhân tố sau:
-Tổng doanh thu bán hàng thay đổi: Doanh thu thường có mối quan hệ cùng chiều với lợi nhuận, khi doanh thu tăng thì lợi nhuận cũng tăng và ngược lại.
Doanh thu năm 1999 so với năm 1998 tăng 1tỷ đồng kéo theo lợi nhuận tăng tương ứng 1tỷ đồng vào năm 1999.
Doanh thu năm 2000 so với năm 1999 tăng 5,5 tỷ đồng làm cho lợi nhuận tăng tương ứng 5,5 tỷ đồng.
-Do các khoản giảm trừ bao gồm: chiết khấu bán hàng, giảm giá hàng bán, thuế tiêu thụ thay đổi. Năm 1999 so với năm 1998 tăng 1,625 tỷ đồng làm cho lợi nhuận năm 1999 giảm tương ứng 1,625 tỷ đồng. Năm 2000 so với năm 1999 tăng 3,145 tỷ đồng làm cho lợi nhuận giảm tương ứng 3,145 tỷ đồng.
-Do giá vốn hàng bán thay đổi: đây là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới lợi nhuận.
Năm 1999 so với năm 1998 giá vốn hàng bán giảm 2,7 tỷ đồng, tương ứng với tỷ lệ giảm là 0,44% ( 99,56 - 100) đây là một nhân tố tốt phản ánh sự nỗ lực của bản thân Công ty dẫn tới lợi nhuận tăng tương ứng 2,7 tỷ đồng. Nguyên nhân giá vốn giảm do giá nguyên vật liệu đường giảm - nguyên vật liệu chủ yếu để sản xuất bánh kẹo, hơn nữa tỷ giá hối đoái ổn định rất thuận lợi cho Công ty trong việc nhập khẩu nguyên vật liệu hơn năm 1998 - năm diễn ra khủng hoảng tiền tệ ở khu vực Châu á.
Đến năm 2000, giá vốn hàng bán so với năm 1999 tăng 1,463 tỷ đồng làm cho lợi nhuận của Công ty giảm 1,463 tỷ đồng.
- Do chi phí bán hàng thay đổi: chi phí bán hàng là toàn bộ các chi phí có liên quan đến hoạt động tiêu thụ. Chi phí bán hàng càng tăng thì lợi nhuận càng giảm. Năm 1999 so với năm 1998 giảm tương ứng 0,034 tỷ đồng, tương tự lợi nhuận năm 2000 so với năm 1999 giảm tương ứng 0,138 tỷ đồng. Nguyên nhân của việc tăng chi phí bán hàng là do Công ty mở thêm một số đại lý, các cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm để tiếp tục củng cố và phát triển thị phần. Hiện nay, Công ty có gần 200 đại lý ở 35 tỉnh thành trong cả nước.
- Do ảnh hưởng của chi phí quản lý: Năm 1999 và năm 2000 Công ty tiếp tục tuyển thêm lao động hơn nữa, tiền lương, tiền thưởng cho cán bộ công nhân viên được cải thiện rõ rệt do vậy chi phí quản lý ngày càng tăng, làm cho lợi nhuận giảm. Năm 1999 so với năm 1998, lợi nhuận giảm tương ứng 1,914 tỷ đồng, năm 2000 lợi nhuận giảm so với năm 1999 là 0,674 tỷ đồng.
Tổng hợp các yếu tố trên ta có lợi nhuận tăng giảm qua các năm:
Năm 1999 so với năm 1998:
1 - 1,652 + 2,7 - 0,034 - 1,914 = 0,1 tỷ đồng
Năm 2000 so với năm 1999:
5,5 - 3,145 - 1,463 - 0,138 - 0,674 = 0,08 tỷ đồng
Trong ba năm 1998, 1999, 2000 công ty đều làm ăn có hiệu quả, tuy nhiên hiệu quả đạt được còn chưa cao.
4.5.2 Nộp ngân sách
Trong bảng 13 thể hiện tình hình nộp ngân sách của Công ty từ 1997 –2000
bảng 13: Tình hình nộp ngân sách của công ty từ 1997-2000
Năm
Nộp ngân sách
Tốc độ tăng
Chênh lệch( tỷ đồng)
1997
16,017
1998
16,17
0,153
100,96
1999
18,2
2,03
112,55
2000
20,45
2,25
112,36
Công ty bánh kẹo Hải Hà nộp ngân sách thông qua thuế doanh thu 6% đến cuối năm 1998, và nộp thuế VAT 10% thay cho thuế doanh thu bắt đầu từ năm 1999 và thuế thu nhập doanh nghiệp 32% của phần lợi nhuận còn lại sau khi trừ tất cả các loại chi phí. Mức nộp ngân sách của Công ty ngày càng tăng từ năm 1997 đến năm 2000 do doanh thu của các năm tăng lên. Các khoản nộp ngân sách năm 1998 so với năm 1997 tăng 0,157 tỷ đồng, tỷ lệ tăng tương ứng 0,96%. Năm 1999 so với năm 1998 tăng 2,03 tỷ đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 12,55%. Tuy nhiên, sang năm 2000 mức độ nộp ngân sách so với năm 1999 vẫn tăng nhưng tốc độ tăng vẫn nhỏ hơn năm 1999 so với năm 1998 là 0,19%.
Nguyên nhân của sự tăng giảm không đồng đều này là do:
-Doanh thu của năm 1998 so vớinăm 1997 tăng 8,12 tỷ đồng tuy nhiên lợi nhuận giảm 0,125 tỷ đồng nên các khoản nộp ngân sách tăng không nhiều.
-Năm 1999 và năm 2000, do áp dụng thuế VAT thay cho thuế doanh thu 6% nên mặc dù doanh thu của năm 1999 so với năm 1998 tăng 1 tỷ đồng nhưng nộp ngân sách tăng 2,03 tỷ đồng do doanh thu tăng 5,5 tỷ.
Qua các chỉ tiêu phân tích ở trên ta thấy trong các năm qua, Công ty luôn cố gắng hoành thành nghĩa vụ đối với Nhà Nước về các khoản nộp ngân sách năm sau cao hơn năm trước.
4.6. Chỉ tiêu chi phí
Thực trạng chi phí của Công ty được biểu hiện qua các biểu sau đây:
bảng 14: Tình hình chi phí của công ty từ năm 1997-2000
Năm
Tổng chi phí
Mức thay đổi chi phí
Chênh lệch
Tỷ lệ % so với năm trước
1997
153,055
1998
161,3
8,245
105,39
1999
162,2
0,9
100,56
2000
167,62
5,24
103,34
Qua bảng số liệu trên ta thấy từ năm 1997 đến năm 2000 tổng chi phí đều tăng lên. Năm 1999 tốc độ tăng chi phí là 105,39 % so với năm 1997, lớn hơn tốc độ tăng doanh thu 0,1%(105,39 - 105,29) mặc dù doanh thu năm 1998so với năm 1997 tăng lên 8,12 tỷ đồng nên năm 1998 Công ty vẫn chưa nâng cao được hiệu quả knh doanh.
Đến năm 1999 tốc độ tăng chi phí so với năm 1998 nhỏ hơn tốc độ tăng chi phí của năm 1998/ 1997 là 4,83% (105,39 - 100,56), trong khi đó tốc độ tăng doanh thu lớn hơn tốc độ tăng chi phí là 0,04%(103,38 - 103,34) dẫn đến lợi nhuận tăng 0,1 tỷ đồng.
Như vậy, trong năm 1999 và năm 2000 hiệu quả kinh doanh của Công ty bánh kẹo Hải Hà đã được nâng lên.
Thực trạng doanh thu và chi phí bỏ ra của Công ty bánh kẹo Hải Hà được phản ánh thông biểu đồ 2 dưới đây:
Biểu đồ 2: Mối quan hệ giữa doanh thu và tổng chi phí từ 1997-2000
Qua biểu đồ 2 ta thấy doanh thu tăng thì chi phí cũng tăng. Tốc độ tăng doanh thu chỉ lớn hơn tốc độ tăng chi phí không đáng kể. Duy chỉ có năm 1998 so với năm 1997 tốc độ tăng chi phí của nhỏ hơn tốc độ tăng doanh thu. Đây là mối quan tâm của Công ty, bởi vì mục tiêu của Công ty là tăng tỷ suất lợi nhuận và tỷ suất này phải so sánh một cách tương đối với tổng chi phí bỏ ra.
5. Tình hình quản trị chất lượng sản phẩm
5.1Tình hình quản trị chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là một trong những yếu tố giúp doanh nghiệp đứng vững trong cạnh tranh. Nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm Công ty luôn đề cao công tác quản lý chất lượng sản phẩm trong mọi hoạt động của mình
Công tác kiểm tra chất lượng thuộc phòng KCS . Bộ phận chịu trách nhiệm kiểm tra , giám sát các quy trình công nghệ ,quy trình kỹ thuật của công ty về chất lượng ,số lượng sản phẩm được sản phẩm sản xuất ra , kiểm tra , giám sát đầu vào của quá trình sản xuất ,kiểm tra từng công đoạn tạo thành bán thành phẩm và thành phẩm nhập kho . Đồng thời có kế hoạch phòng ngừa , ngăn chặn những sai sót có thể sảy ra . Mặt khác bộ phận KCS còn thực hiện công tác nghiên cứu thử nghiệm các sản phẩm mới và nghiên cứu cải tiến sản phẩm đang sản xuất
Những năm qua do Hệ thống quản lý chất lượng trong phòng thí nghiệm của công ty còn ở quy mô nhỏ với số lượng nhân viên là 6 người , máy móc lớn và lạc hậu. Trong những năm gần đây , công ty đã có nhiều cải tiến như nâng cao trình độ cho nhân viên , mua thêm trang thiết bị hiện đại để có thể nâng cao chất lượng công tác quản trị chất lượng sản phẩm của mình
Bảng
Tên thiết bị
Số lượng
Nước sản xuất
Năm sử dụng
Cân phân tích
Tủ sấy thường
Tủ sấy chân không
Bơm chân không
Máy bơm nước
Lò nung
Cân điện tử
2
1
1
1
1
1
1
Đức
Ba Lan
Ba Lan
Đài Loan
Liên Xô Cũ
Đức
Đức
1983
1986
1991
1991
1991
1995
1995
Công tác quản trị chất lượng được thực hiện theo nguyên tắc: Mỗi dây truyền sản xuất, ngoài công nhân phân xưởng còn được bố trí kỹ sư phụ trách về kỹ thuật thực hiện công tác kiểm tra nhằm đảm bảo dây truyền hoạt động liên tục, khắc phục kịp thời sự cố kỹ thuật ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
Mặt khác công tác quản lý chất lượng sản phẩm không thể thiếu được biện pháp thưởng phạt nghiêm minh. Đây là một biện pháp tốt nhằm nhắc nhở mọi người làm ra sản phẩm có chất lượng đảm bảo nhu cầu . Cán bộ kiểm tra chất lượng hàng tiến hành kiểm tra xác xuất từng lô hàng trước khi nhập kho, nếu phát hiện sản phẩm không đủ tiêu chuẩn sẽ lập tức loại bỏ và phát hiện sản phẩm của ca nào, người nào thông qua Etikét, bản thân người công nhân đó sẽ bị phạt trừ vào thu nhập hàng tháng .
Việc công ty ghi ngày sản xuất vào bao bì sản phẩm để khách hàng nắm được đồng thời công ty kiểm tra được chất lượng thường xuyên ngay ở khi nó lưu thông trên thị trường .
Tuy vậy đó mới chỉ là các giải pháp trước mắt để đảm bảo chất lượng hướng phát triển trong thời gian tới của công ty là đưa mô hình Quản lý chất lượng đồng bộ TQM vào áp dụng trong Công ty . Để chuẩn bị tiền đề cho sự thay đổi này , ban lãnh đạo công hết sức lưu tâm đến việc giáo dục ý thức về chất lượng cho cán bộ, công nhân của Công ty . Với việc nhận thức đúng đắn về quản lý chất lượng này sẽ tạo điều kiện cho việc xây dựng và thực thi chiến lược sản phẩm của Công ty
Tình hình nâng cao chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm được quyết định bởi nhiều yếu tố kết hợp như nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, trình độ tay nghề của công nhân, trình độ tổ chức quản lý sản xuất.
Chất lượng sản phẩm của công ty không ngừng được nâng cao. Nhận thấy rằng cùng với xu hướng phát triển của nền kinh tế thị trường thì đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao, chính vì vậy hướng chiến lược của Công ty là tăng tỷ trọng các sản phẩm cao cấp trong cơ cấu sản phẩm.
Bảng: chi phí chất lượng
Năm
Chi phí sản xuất sản phẩm (tỷ đồng)
Chi phí sản xuất sản phẩm hỏng (tỷ đồng)
1996
120.9
3.022
1997
131.99
2.5
1998
139
2.35
1999
153
2.3
2000
160
1.9
Qua biểu trên ta thấy, tỷ lệ sai hỏng của Công ty ngày càng giảm, chứng tỏ chất lượng sản phẩm của Công ty ngày càng tăng.
Để đánh giá chất lượng sản phẩm, Công ty sử dụng một số chỉ tiêu sau.
1. Tính năng, tác dụng của sản phẩm
2. Các tính chất cơ, lý, hoá
3. Các chỉ tiêu thẩm mỹ của sản phẩm
4. Tuổi thọ của sản phẩm
5. Độ tin cậy
6. Chỉ an toàn mức độ ô nhiễm môi trường
7. Chỉ tiêu mức độ ô nhiễm môi trường
8. Tính để sử dụng và bảo quản
9. Dễ vận chuyển
10. Dễ phân phối
11. Dễ sửa chữa
12. Tiết kiệm tiêu hao nguyên vật liệu
13. Chi phí giá cả
Bánh cân mặn của Công ty còn thấp nên trong thời gian tới Công ty sẽ cho ra một số sản phẩm mới như bánh nặm, bánh ngọt hình con giống.
Hiện nay các loại kẹo của Công ty nói chung khá đa dạng nhưng các sản phẩm cao cấp hầu như chưa có. Vì vậy hướng chiến lược trong thời gian tới Công ty sẽ sản xuất thử loại kẹo socola bọc nhân phucj vụ đoạn thị trường cao cấp.
6. Phương hướng phát triển của Công ty Bánh kẹo Hải Hà từ đây đến năm 2005
Với 40 năm tồn tại và phát triển, Công ty bánh kẹo Hải Hà đã từng bước trưởng thành và mở rộng hơn về qui mô. Mục tiêu của Công ty là đến năm 2005, Công ty Bánh Kẹo Hải Hà thực sự trở thành doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo lớn nhất Việt Nam, Với trang thiết bị hiện đại, công nghệ sản xuất tiên tiến và có đủ khả năng cạnh tranh với bánh kẹo của cả nước và trên thế giới. Đây là mục tiêu to lớn phản ánh quyết tâm của toàn cán bộ công nhân viên toàn Công ty. Để đạt được mục tiêu trên Công ty đã đề ra một số phương hướng sau:
-Năng lực sản xuất của Công ty theo thiết kế đạt 20.000 tấn /năm. Hiện nay, Công ty mới chỉ khai thác được 60%. Vì vậy, một trong những biện pháp quan trọng là nâng cao hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị đã đầu tư.
-Thường xuyên thay đổi mặt hàng, cải tiến mẫu mã , bao bì, nâng cao chất lượng sản phẩm để nâng cao giá trị và hiệu quả sản xuất.
-Nghiên cứu, sử dụng nguyên vật liệu trong nước, thay thế hàng nhập khẩu nhằm hạ giá thành sản phẩm, hạn chế được sự biến động của ngoại tệ.
-ổn định và nâng cao hiệu quả kinh doanh tại thị trường cũ, mở rộng thị trường mới, nhất là thị trường phía Nam và thị trường xuất khẩu, ưu tiên khôi phục lại thị trường Đông Âu từng bước thâm nhập thị trường ASEAN và hướng tới thị trường Châu Mĩ và Bắc Mỹ.
-Nghiên cứu, mở rộng phạm vi khoán cho các đơn vị xí nghiệp thành viên từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ sao cho sâu sát, hợp lý và chặt chẽ.
-Nâng cao chất lượng và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm của sản phẩm bánh kẹo do Công ty sản xuất. Phấn đấu đạt qui trình quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9002.
Ý KIẾN NHẬN ĐỊNH CỦA SINH VIÊN
Trên cơ sở phân tích tình hình ở Công ty Bánh kẹo Hải Hà trong thời gian qua chúng ta thấy Công ty đã từng bước khẳng định vị trí chủ lực trong ngành bánh kẹo trong nước. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu của Công ty vẫn còn tồn tại một số vấn đề chưa được hợp lý.
- Về thiết bị công nghệ
- Những năm gần đây, Công ty đã đầu tư mua sẵm máy móc thiết bị hiện đại phù hợp với khả năng tài chính và trình độ tay nghề của công nhân. Công ty còn tự chế tạo được những bộ phận trong dây truyền công nghệ tự phát minh do mục tiêu đa dạng hoá sản phẩm và nâng cao dạng sản phẩm, tăng năng suất lao động.
- Trình độ cũng như tay nghề của đội ngũ công nhân trực tiếp sản xuất ngày càng được nâng cao qua các khoá đào tạo và các cuộc thi thợ giỏi của toàn Công ty. ý thức trách nhiệm của từng công nhân với phần công việc của họ được rõ ràng, được giáo dục đề cao.
-Thị trường tiêu thụ của Công ty đã mở rộng qua các năm, năm 1995 mới chỉ có 98 đại lý trong cả nước và hiện nay Công ty đã thiết lập được một mạng lưới rộng khắp:150 đại lý trên cả nước.
- Tốc độ tăng doanh thu hàng năm là 40%
Bên cạnh đó là những nhược điểm.
- Về trang thiết bị máy móc chưa đồng bộ, ngoài những dây truyền sản xuất được đầu tư mấy năm gần đây, còn lại thiết bị đều đã quá cũ, lạc hậu về kỹ thuật gây không ít ảnh hưởng đến việc nâng cao dạng sản phẩm kẹo khó cho việc đổi mới sản phẩm, ảnh hưởng đến năng xuất, sử dụng vật tư kém hiệu quả.
- Trình độ tay nghề của công nhân không đồng đều, đặc biệt là ý thức trách nhiệm trước sản phẩm do chính họ làm ra. Trong công ty đã có những biện pháp nâng cao tay nghề cho công nhân nhưng chưa được tổ chức thực hiện đồng bộ, liên tục nên kết quả đem lại còn hạn chế.
- Chất lượng nguyên vật liệu đầu vào tuy đã được kiểm tra nhưng vẫn không tránh khỏi những sai sót, có khi khâu cung ứng nguyên vật liệu còn chậm không kịp thời làm cho bộ phận sản xuất bị động lúc nhanh, lúc chậm ảnh hưởng đến tiến trình sản xuất.
- Ban lãnh đạo Công ty nhiều lúc không kiên quyết trong một số quyết định gây ra những sai lầm không đáng có.
- Thị trường tiêu thụ phát triển khá mạnh nhưng tràn lan số lượng đại lý qúa nhiều gây khó khăn cho việc kiểm soát, giữa các đại lý có sự cạnh tranh gay gắt về giá, lợi nhuận đem lại cho đại lý thấp ảnh hưởng đến mức tiêu thụ của Công ty.
Những tồn tại trên làm cho kết quả sản xuất kinh doanh bị hạn chế, sức cạnh tranh trên thị trường của sản phẩm chưa thực sự có ưu thế.
KẾT LUẬN
Hoạt động kinh doanh của Công ty trong những năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn phục vụ cho nhu cầu sản xuất đem lại lợi nhuận cho xã hội và thu lợi nhuận cho Công ty.
Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh của Công ty còn có những nhược điểm nhất định nhưng Công ty đã không ngừng tìm tòi, đề ra những giải pháp hợp lý sau mỗi tháng, quí, năm để khắc phục những nhược điểm trên.
Qua thời gian kiến tập một tháng tại Công ty Bánh kẹo Hải Hà. Tuy thời gian ngắn em không thể đi sâu vào từng chi tiết nhỏ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty nhưng thông qua sự hướng dẫn chỉ bảo của các cô, chú cán bộ CNV và Ban lãnh đạo của Công ty và đặc biệt là sự giúp đỡ của Thầy giáo hướng dẫn nên em đã hoàn thành xong bản báo cáo này.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
- BC010.doc