NHẬN XÉT VÀ THẢO LUẬN
Kết quả phân tích trường nhiệt độ trung
bình năm trong giai đoạn 38 năm từ 1979 đến
8/2016 cho thấy nhiệt độ bề mặt biển có ba giai
đoạn nhiệt độ trung bình năm toàn vùng nghiên
cứu đạt giá trị cao là 1998, 2010 và 1987. Tuy
nhiên, nếu xét đồng thời trường nhiệt độ (bao
gồm nhiệt độ gần bề mặt và nhiệt độ bề mặt
biển) thì chỉ có 2 năm có giá trị nhiệt độ cao
khác biệt so với các năm còn lại, đó là giai
đoạn chịu tác động của ENSO như năm 1998
(giai đoạn chuyển tiếp từ El Niño rất mạnh
sang giai đoạn La Niña vừa), 2010 (giai đoạn
chuyển tiếp El Niño vừa sang La Niña vừa).
Trong giai đoạn 2010-2011 có một điểm đặc
trưng khá nổi bật, trong khi năm 2010 đạt giá
trị nhiệt độ cao (đứng thứ 2 trong vòng 38 năm)
thì năm 2011 (giai đoạn La Niña yếu) thì nhiệt
độ đạt thấp nhất trong chu kỳ 38 năm. Với cơ
chế ảnh hưởng của ENSO gây nhiệt độ cao bất
thường trong các năm 1998, 2010, có thể là
nguyên nhân dẫn đến hiện tượng tẩy trắng san
hô tại vùng biển Nam Việt Nam.
Từ phân tích trường nhiệt độ theo chế độ
gió mùa, các ảnh hưởng của sự kiện ENSO đã
thể hiện như sau:
Mùa gió Đông Bắc, các năm có nhiệt độ
cao bất thường xảy ra là các năm chuyển tiếp từ
El Niño sang La Niña, điển hình là các năm
1988, 2010 và 1998. Trong khi đó, nhiệt độ đạt
giá trị thấp bất thường là 1996 và 2014 xảy ra ở
trước thời kỳ El Niño cường độ mạnh.
Mùa gió Tây Nam, có điểm khác biệt so
với gió mùa Đông Bắc là quy luật của tác động
ENSO đến nhiệt độ không theo quy luật cụ thể,
thông thường nhiệt độ cao bất thường là các
năm trước thời kỳ El Niño cường độ vừa trở lên
và giai đoạn chuyển tiếp từ El Niño sang La
Niña. Còn nhiệt độ thấp bất thường chịu tác
động ENSO cường yếu. Các biến đổi này có
thể sẽ tác động đáng kể đến hiện tượng nước
trồi mạnh khu vực Nam Trung Bộ.
Sự biến đổi nhiệt độ gần bề mặt, nhiệt độ
bề mặt nước biển khu vực nghiên cứu chịu sự
tác động của biến đổi khí hậu song không chỉ
liên quan đến các pha ENSO (ấm, lạnh) mà còn
liên quan đến các quá trình khác có chu kỳ
mùa, liên mùa, năm, nhiều năm, thập kỷ,
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Biến động của trường nhiệt độ và mối quan hệ của nó với Enso trong vùng biển Ninh Thuận - Bình Thuận, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
79
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 18, Số 1; 2018: 79-87
DOI: 10.15625/1859-3097/18/1/8765
BIẾN ĐỘNG CỦA TRƯỜNG NHIỆT ĐỘ VÀ MỐI QUAN HỆ CỦA NÓ
VỚI ENSO TRONG VÙNG BIỂN NINH THUẬN - BÌNH THUẬN
Trần Văn Chung*, Nguyễn Hữu Huân, Bùi Hồng Long,
Nguyễn Trƣơng Thanh Hội, Phan Thành Bắc
Viện Hải dương học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
*
E-mail: tvanchung@gmail.com
Ngày nhận bài: 6-10-2016 / Ngày chấp nhận đăng: 21-7-2017
TÓM TẮT: Các kết quả phân tích trường nhiệt độ trong 38 năm (1/1979 - 8/2016) đã cho thấy
vùng biển Ninh Thuận - Bình Thuận chịu sự tác động không nhỏ của các pha ENSO (ấm, lạnh) mà
còn có liên quan đến các quá trình khác có chu kỳ mùa, liên mùa, năm, nhiều năm thể hiện tại các
giai đoạn 1986-1989; 1996-2000 và 2009-2011. Để góp phần làm sáng tỏ vấn đề trên, chúng tôi đã
tiến hành phân tích sự thay đổi nền nhiệt độ của nhiệt độ không khí, nhiệt độ nước bề mặt biển. Các
số liệu nhiệt độ sử dụng trong nghiên cứu này được khai thác từ Hệ thống Dự đoán Khí hậu Phân
tích lại (CFSR) theo bước thời gian 1 giờ với độ phân giải ngang 0,3° (1979-2010) và 0,2o (2011-
8/2016) của Trung tâm Dự báo Môi trường Quốc gia Hoa Kỳ (NCEP). Kết quả phân tích cho thấy
năm 2016 có nét khá tương đồng với năm 1998 và 2010, các năm được phát hiện đã xảy ra hiện
tượng tẩy trắng san hô tại khu vực nghiên cứu.
Từ khóa: Thay đổi khí hậu, nhiệt độ bề mặt biển (SST), NCEP CFSR, ENSO, vùng biển Ninh
Thuận - Bình Thuận.
MỞ ĐẦU
Các nghiên cứu của Fang và nnk., (2014)
[1] cho rằng các bất thường của chỉ số dao
động Thái Bình Dương mang đặc trưng thập kỷ
PDO (Pacific Decadal Oscillation index) của
vùng trung tâm Tây Thái Bình Dương (dị
thường nhiệt độ nước biển trên bề mặt từ vĩ độ
20
o
N trở lên phía cực bắc so với trung bình
nhiều năm) có thể tác động vào sự tăng cao của
mực nước biển và làm mất đi hệ thống dòng có
cấu trúc lưỡng cực trong mùa hè ở khu vực bên
ngoài bờ biển miền Trung Việt Nam. Chúng ta
biết rằng cho đến nay còn rất ít các nghiên cứu
tập trung vào sự thay đổi ở quy mô thập kỷ của
trường nhiệt độ tại vùng nước trồi Nam Trung
Bộ. Để làm cơ sở đối chiếu khẳng định mức độ
ảnh hưởng của ENSO (El Niño Southern
Oscillation) lên khu vực Ninh Thuận - Bình
Thuận. Chúng tôi đã tiến hành phân tích chính
chuỗi số liệu nhiệt độ gần bề mặt (nhiệt độ
không khí cách 2 m trên bề mặt biển), nhiệt độ
bề mặt nước biển để đánh giá khả năng ảnh
hưởng của nhiệt độ đến biến động dị thường
của mực nước như đã nói ở phần trên. Với
chuỗi số liệu tương đối tốt được cung cấp bởi
NCEP CFSR với khoảng 1 giờ/số liệu với độ
phân giải theo phương ngang khoảng 0,3o cho
chuỗi số liệu dài 32 năm (1979-2010) và độ
phân giải 0,2o cho chuỗi thời gian từ (2011-
8/2016). Như chúng ta đã biết, hiện nay phiên
bản thứ hai phân tích lại của hệ thống dự báo
khí hậu NCEP (CFSv2) đã được đưa vào hoạt
động từ tháng 3/2011. Phiên bản này được nâng
cấp để tăng cường khả năng không chỉ cho
đồng hóa dữ liệu mà còn cho mô hình dự báo
các thành phần trong hệ thống. Việc phân tích
lại (reanalysis) cũng đã được thực hiện trong
khoảng thời gian 30 năm (1979-2009), để cung
Trần Văn Chung, Nguyễn Hữu Huân,
80
cấp các điều kiện ban đầu cho việc dự báo nâng
cao hơn cho 29 năm (1982-2010). Mục đích
của công việc này là để có được các hiệu chuẩn
phù hợp và ổn định hơn, cũng như ước lượng
cho các dự đoán cận mùa và theo mùa CFSv2
tại NCEP. Từ các đánh giá dự báo lại cho thấy
rằng CFSv2 làm tăng độ dài của các dự báo
MJO (Madden Julian Ocilation) lên từ 6-17
ngày tăng cường khả năng dự báo cận mùa),
nâng cao gần gấp đôi mức độ dự báo theo mùa
của nhiệt độ không khí tại độ cao 2 m trên bề
mặt biển của Hoa Kỳ, cải thiện đáng kể khả
năng dự báo nhiệt độ bề mặt biển trên phạm vi
toàn cầu so với phiên bản trước đây. Ngoài ra
CFSv2 không chỉ cải thiện việc điều khiển quy
mô thời gian mà còn tạo ra nhiều sản phẩm mới
phục vụ cho dự báo cận mùa và theo mùa (các
dự báo hồi cố) để người sử dụng có thể tham
khảo để hiệu chỉnh các sản phẩm dự báo của
mình. Những dự báo hồi cố và dự báo thời gian
thực sẽ được các nhà quản lý sử dụng khi
chuẩn bị đưa ra các quyết định trong các lĩnh
vực như quản lý nước của các lưu vực sông,
nông nghiệp, giao thông vận tải, năng lượng,
việc khai thác nguồn năng lượng sạch (gió),
các nguồn năng lượng bền vững khác, cũng
như dự báo tai biến thiên nhiên như dự báo
mùa mưa, bão [2].
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây
(2013-2016), khu vực Biển Đông đang trong
thời kỳ ENSO mạnh, các tác động của chúng đã
và đang tác động rõ rệt đến Việt Nam như hạn
hán khu vực Nam Trung Bộ, xâm nhập mặn ở
đồng bằng sông Cửu Long, mà cụ thể các
nghiên cứu trong nhiệm vụ hợp tác quốc tế về
khoa học và công nghệ biển theo nghị định thư:
Việt Nam - Hoa Kỳ “Những thay đổi theo chu
kỳ mùa, chu kỳ năm, chu kỳ nhiều năm về các
quá trình vật lý và sinh địa hóa của Biển Đông,
Việt Nam, bao gồm cả những thay đổi từ thời
kỳ khảo sát chương trình NAGA tới nay” (chủ
nhiệm PGS. TS. Bùi Hồng Long) (2014-2016)
đã có các nhận định về sự biến đổi bất thường
của nhiệt độ [3], cơ chế nước trồi [4] có liên
quan đến những năm chịu ảnh hưởng của hiện
tượng ENSO. Riêng tại Viện Hải dương học
các công trình và đề tài liên quan đến vùng biển
Ninh Thuận - Bình Thuận được tập trung
nghiên cứu khá nhiều, điển hình là nhiệm vụ
nghị định thư hợp tác CHLB Đức - Việt Nam:
“Nghiên cứu hiện tượng nước trồi và các quá
trình liên quan trên khu vực thềm lục địa Nam -
Việt Nam” trong giai đoạn 2003-2006. Trong
giai đoạn 2006-2010, trong khuôn khổ đề tài
KC.09.24/06-10, đã thực hiện điều tra, nghiên
cứu về các thủy vực Nam Trung Bộ với tên
“Luận chứng khoa học kỹ thuật phục vụ cho
quản lý tổng hợp và phát triển bền vững dải ven
bờ biển Nam Trung Bộ đáp ứng mục tiêu chiến
lược phát triển kinh tế biển” và đề tài KC
09.03/06-10: “Nghiên cứu quá trình phát sinh
thủy triều đỏ và sinh thái phát triển của các loài
tảo độc hại ở một số vùng ven bờ đặc trưng và
ảnh hưởng của chúng tới nguồn lợi hải sản”.
Khó khăn chính trong thực hiện đề tài, dự án
thường do những hạn chế nguồn số liệu thực
đo, thiếu các chuỗi số liệu nhiều năm để thực
hiện các đồng hóa dữ liệu cho mô phỏng hiện
tượng cũng như các đánh giá tính thích ứng của
mô hình nghiên cứu. Gần đây nhất là chương
trình khoa học và công nghệ độc lập cấp nhà
nước về công nghệ vũ trụ (VT/UD-07/14-15)
“Xây dựng cơ sở dữ liệu số các yếu tố hải
dương từ nguồn ảnh VNREDSat-1 và các ảnh
viễn thám khác cho khu vực ven biển Ninh
Thuận - Bình Thuận phục vụ phát triển kinh tế
biển bền vững”. Tuy nhiên, các vấn đề nghiên
cứu về ảnh hưởng của ENSO chưa được đặt ra
hoặc còn hạn chế trong các nghiên cứu này. Để
đi tìm câu trả lời cho vấn đề này và kế thừa các
kết quả nghiên cứu trước đây, trong bài báo
này, chúng tôi đã tập trung phân tích nhiệt độ
gần bề mặt biển (nhiệt độ không khí cách 2 m
trên bề mặt biển) và nhiệt độ nước biển tầng
mặt để đánh giá mức ảnh hưởng đến các yếu tố
trong các năm ENSO.
TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP
Như trình bày ở phần trên phân tích lại hệ
thống dự báo khí hậu (CFSR) của trung tâm dự
báo môi trường (NCEP) đã có phiên bản mới từ
tháng 3/2011. CFSR được thiết kế và thực hiện
cho phạm vi toàn cầu, độ phân giải cao, kết hợp
hệ thống khí quyển-đại dương-bề mặt đất-băng
biển sẽ được mở rộng để có thể sử dụng như
sản phẩm thời gian thực trong tương lai. Các
phân tích trước đó bao gồm (1) sự liên kết của
khí quyển và đại dương qua thời gian tạo ra các
trường phỏng đoán 6 giờ, (2) mô hình tương tác
băng-biển và (3) sự đồng hóa của độ bức xạ
Biến động của trường nhiệt độ và mối quan hệ
81
bằng sơ đồ nội suy thống kê điểm lưới qua toàn
bộ thời kỳ. Độ phân giải khí quyển toàn cầu
CFSR là ~ 38 km (T382) với 64 mức kéo dài từ
bề mặt tới 0,26 hPa. Độ phân giải các đại
dương trên toàn cầu là 0,25o tại đường xích
đạo, kéo dài đến toàn cầu 0,5o vượt ra ngoài
vùng nhiệt đới, với 40 mức tới độ sâu 4.737 m.
Các sản phẩm đầu ra của CFSR gồm khí quyển,
hải dương và bề mặt đất có sẵn tại độ phân giải
thời gian theo giờ và độ phân giải theo phương
ngang 0,5
o
. Phân tích lại (reanalysis) này sẽ xác
định các trạng thái trung bình của khí quyển,
đại dương, bề mặt đất và băng biển tiếp theo
qua khí hậu chuẩn 30 năm (1981-2010); cung
cấp các điều kiện ban đầu có thể dự đoán được
quá trình cần thiết cho việc hiệu chỉnh dự báo
khí hậu NCEP (từ 2 tuần đến 9 tháng); cũng
như cung cấp các ước tính và chẩn đoán các
trạng thái khí hậu của Trái đất, qua chu kỳ theo
dữ liệu vệ tinh, cho nghiên cứu khí hậu. Nguồn
dữ liệu được chúng tôi lựa chọn 32 năm cho
giai đoạn 1979-2010 là NCEP CFSR (NCEP:
Climate Forecast System Reanalysis; CFSR:
Selected Hourly Time-Series Products),
January 1979 to December 2010 (ds093.1).
Ngoài ra, để mở rộng phân tích thêm tính biến
động nhiệt độ sau năm 2010, chúng tôi đã dữ
dụng chuỗi số liệu từ 2011-2014 từ sản phẩm
CFSv2. Nguồn gốc sản phẩm này như sau: Bắt
đầu từ ngày 1/1/2011, CFSR đã được mở rộng
bởi Hệ thống Dự báo Khí hậu phiên bản 2
(CFSv2) trong NCEP. Hiện tại mô hình đồng
nhất theo phương thức CFSR vẫn được sử dụng
như trước đây. Vì vậy các dữ liệu xuất ra bởi
CFSv2 có thể được coi như một phần mở rộng
liên tục của CFSR, ngoại trừ độ phân giải của
các trường bề mặt và thông lượng đã tăng từ độ
phân giải 0,3o trong CFSR đến khoảng 0,2o ở
CFSv2. Tên sản phẩm được chúng tôi lựa chọn
cho giai đoạn 4 năm tiếp theo (2011-2014):
ds094.1: NCEP CFSv2 Selected Hourly Time-
Series Products.
Các số liệu nhiệt độ bề mặt và nhiệt độ gần
bề mặt được trung bình hóa trên toàn vùng
nghiên cứu theo trung bình tháng, trung bình
mùa, trung bình năm nhằm tìm ra các tác động
có thể có của ENSO lên biến đổi trường nhiệt
độ tại khu vực nghiên cứu. Để đánh giá mức độ
ảnh hưởng của sự kiện ENSO theo năm được
trích tham khảo từ trang web:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Khu vực nghiên cứu được chúng tôi chọn
để phân tích các biến trình nhiệt độ (nhiệt độ
không khí 2 m trên mặt biển và nhiệt độ bề mặt
biển), có phạm vi kinh độ từ 107,95oE đến
109,57
oE và vĩ độ từ 10,4oN đến 11,8oN
(hình 1). Như đã trình bày ở phần phương pháp
các giá trị nhiệt độ tại các điểm trong vùng tính
được tính trung bình trên toàn vùng theo các
biến trình trung bình tháng, trung bình mùa và
trung bình năm từ các giá trị nhiệt độ theo từng
giờ với chuỗi số liệu từ giai đoạn 1979-2010 có
độ phân giải lưới theo phương ngang 0,3o và
giai đoạn từ 2011-8/2016 với độ phân giải lưới
theo phương ngang 0,2o. Các giá trị nhiệt độ
trung bình tháng điển hình cho khu vực nghiên
cứu trong 38 năm (1979-8/2016) được thể hiện
trên bảng 1 (cho nhiệt độ không khí), bảng 2
(cho nhiệt độ nước biển bề mặt).
Từ các kết quả phân tích nhiệt độ (nhiệt độ
không khí 2 m trên mực nước biển và nhiệt độ
bề mặt nước biển) trung bình năm, xét trên giai
đoạn 18 năm từ năm 1993-2010 thì hiện tượng
nhiệt độ trung bình năm đạt giá trị cao nhất là
năm 2010. Nhưng xét giai đoạn 38 năm từ 1979
đến 8/2016 thì nhiệt độ bề mặt biển có ba giai
đoạn nhiệt độ trung bình năm cao bất thường so
với các năm khác (hình 2) là những năm 1998,
2010 và 1987. Tuy nhiên, nếu xét đồng thời
nhiệt độ không khí và nhiệt độ bề mặt biển thì
chỉ có 2 năm đáng chú ý có giá trị nhiệt độ cao
bất thường. Tính bất thường của hai năm đạt
giá trị nhiệt độ cao tính từ cao tới thấp là năm
1998 (giai đoạn chuyển tiếp từ El Niño rất
mạnh sang giai đoạn La Niña vừa) và 2010
(giai đoạn chuyển tiếp El Niño vừa sang La
Niña vừa) còn năm 1987 tuy nhiệt độ bề mặt
biển cao đứng thứ ba trong vòng 38 năm nhưng
nhiệt độ gần bề mặt biển (cách mực nước biển
2 m) trung bình năm đứng thứ 8 (kết quả thể
hiện trên hình 2). Như vậy năm 1998, 2010 là
năm khá đặc biệt khi chịu tác động rõ ràng của
giai đoạn ENSO, với sự chuyển tiếp từ El Niño
sang La Niña). Trong 2 năm 2010-2011 có một
điểm đặc trưng khá nổi bật, là năm 2010 đạt
nhiệt độ cao bất thường thì năm sau đó (năm
2011 (giai đoạn La Niña yếu) thì nhiệt độ suy
Trần Văn Chung, Nguyễn Hữu Huân,
82
giảm đi khá nhanh xuống thấp nhất (bất thường
nhiệt độ thấp trong 38 năm). Hơn nữa, nếu nhìn
ở góc độ khác, thì thấy rằng trong giai đoạn 38
năm từ 1979-2016 thì nhiệt độ trung bình năm
2010 gần như tương đương cơ chế ENSO với
nhiệt độ trung bình năm 1998, ảnh hưởng của
nhiệt độ nước biển dẫn đến sự tẩy trắng san hô
vào các thời gian này tại vùng biển Phú Quốc,
Côn Đảo có thể tham khảo tài liệu Võ Sĩ
Tuấn, (2011) [5]. Đây là một điểm rất đặc
trưng, cần đặc biệt lưu ý khi đánh giá tác động
của ENSO đến hiện tượng tẩy trắng san hô do
biến đổi khí hậu.
Hình 1. Khu vực nghiên cứu biến động nhiệt độ theo giai đoạn 1979-8/2016
Bảng 1. Giá trị nhiệt độ không khí trong vùng nghiên cứu
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Cả năm
Cao nhất 31,90 32,44 32,98 33,86 34,94 34,41 33,87 34,06 33,52 32,40 32,00 31,59 34,94
Thấp nhất 20,30 20,91 21,63 23,91 26,22 25,83 25,28 25,94 25,62 23,88 22,33 20,71 20,30
Trung bình 25,99 26,60 27,70 28,97 29,67 29,28 28,88 28,80 28,68 28,17 27,50 26,45 28,06
Bảng 2. Giá trị nhiệt độ bề mặt biển trung bình tháng trong vùng nghiên cứu
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Cả năm
Cao nhất 32,35 33,32 33,87 34,36 35,4 34,64 34,41 34,1 34,60 33,37 32,89 31,94 35,40
Thấp nhất 21,30 21,25 21,89 23,95 26,69 25,79 25,30 25,93 25,90 25,13 23,73 22,5 21,25
Trung bình 26,20 26,72 27,89 29,33 30,09 29,53 29,04 28,90 29,03 28,70 27,84 26,71 28,33
Biến động của trường nhiệt độ và mối quan hệ
83
Hình 2. Biến trình nhiệt độ theo trung bình năm (T2m: nhiệt độ
không khí 2 m trên mặt biển, Tsuf: nhiệt độ bề mặt biển)
Bảng 3. Các giá trị cực trị của nhiệt độ không khí theo năm
STT Năm
Nhiệt độ không khí cao nhất (
o
C) Nhiệt độ không khí thấp nhất (
o
C) Trung bình (
o
C)
Tháng Ngày Giờ T2m Tháng Ngày Giờ T2m T2m
1 1979 5 31 12 33,33 12 26 4 22,37 27,99
2 1980 5 16 10 33,05 12 24 2 23,20 28,05
3 1981 5 16 12 33,42 12 25 5 22,45 28,09
4 1982 6 2 11 34,13 12 28 3 21,98 27,80
5 1983 5 21 11 33,39 1 25 5 22,04 27,87
6 1984 5 2 11 32,81 1 9 5 22,09 27,67
7 1985 6 8 11 33,13 12 16 4 22,39 27,79
8 1986 5 14 13 34,50 3 3 23 21,63 27,60
9 1987 6 13 12 33,57 2 4 5 22,87 28,24
10 1988 5 23 10 33,74 12 14 5 21,82 28,17
11 1989 5 18 10 33,69 2 14 5 21,82 27,84
12 1990 5 13 11 33,76 1 29 5 23,58 28,07
13 1991 5 20 12 33,15 3 6 5 23,11 27,92
14 1992 5 18 11 33,80 1 19 2 21,87 27,83
15 1993 6 2 12 34,41 1 30 5 20,74 27,80
16 1994 5 4 11 33,70 1 15 5 22,86 27,87
17 1995 6 8 12 33,49 12 31 5 20,71 28,04
18 1996 5 7 10 33,34 12 27 5 21,34 27,79
19 1997 5 22 11 33,36 1 12 5 22,33 28,07
20 1998 5 24 12 34,48 12 14 7 22,23 28,81
21 1999 4 13 11 32,80 12 25 5 21,08 27,96
22 2000 5 10 11 33,36 12 24 5 23,53 28,05
23 2001 5 9 10 34,94 12 31 5 22,46 28,43
24 2002 5 20 12 34,26 2 4 5 23,48 28,49
25 2003 5 18 11 34,52 1 12 5 23,02 28,37
26 2004 5 13 12 33,19 2 15 5 22,32 28,14
27 2005 6 13 12 34,09 3 7 4 22,42 28,30
28 2006 5 13 11 33,65 12 22 5 23,60 28,51
29 2007 5 24 12 33,73 2 1 3 22,11 28,30
30 2008 4 16 11 33,26 3 3 5 23,24 28,09
31 2009 4 20 12 33,86 2 1 5 22,43 28,24
32 2010 5 24 11 34,39 12 10 5 24,11 28,74
33 2011 5 9 11 32,74 2 9 5 22,00 27,47
34 2012 5 20 11 32,39 2 20 3 22,96 27,89
35 2013 5 14 10 33,67 12 30 4 21,76 27,95
36 2014 6 7 12 33,81 1 23 5 20,30 27,88
37 2015 7 4 13 33,44 1 15 5 21,23 28,09
38 2016 5 16 11 34,46 2 8 5 20,91 27,86
Ghi chú: Năm 2016 chỉ phân tích tới hết tháng 8/2016.
Trần Văn Chung, Nguyễn Hữu Huân,
84
Bảng 4. Các giá trị cực trị của nhiệt độ bề mặt biển theo năm
STT Năm
Nhiệt độ không khí cao nhất (
o
C) Nhiệt độ không khí thấp nhất (
o
C) Trung bình (
o
C)
Tháng Ngày Giờ T2m Tháng Ngày Giờ T2m T2m
1 1979 5 12 12 33,71 1 30 5 23,71 28,46
2 1980 5 2 12 33,90 1 22 4 24,14 28,63
3 1981 5 15 10 33,95 1 20 4 23,41 28,59
4 1982 6 2 11 34,53 1 22 5 23,32 28,10
5 1983 5 12 12 33,99 1 25 5 23,31 28,18
6 1984 4 18 11 33,40 1 15 5 23,36 27,93
7 1985 6 1 11 33,30 1 19 5 24,19 28,05
8 1986 5 14 13 34,01 1 12 5 23,30 27,85
9 1987 5 25 12 34,57 1 18 5 23,50 28,73
10 1988 5 19 11 34,68 12 14 5 23,16 28,45
11 1989 5 18 9 34,59 2 14 5 22,92 28,13
12 1990 5 13 11 34,94 1 2 2 23,94 28,29
13 1991 5 23 11 34,05 3 6 5 23,35 28,26
14 1992 6 7 11 34,44 1 19 4 23,07 28,14
15 1993 6 2 12 34,64 1 30 5 22,77 28,14
16 1994 4 30 11 33,79 1 15 5 23,46 27,99
17 1995 6 13 11 33,74 12 31 5 22,50 28,38
18 1996 7 14 12 33,69 3 5 5 22,75 28,09
19 1997 5 8 12 34,23 1 2 5 23,68 28,40
20 1998 5 24 12 34,43 12 14 7 24,63 29,22
21 1999 4 22 9 33,69 12 25 5 23,31 28,19
22 2000 5 7 8 34,35 2 10 5 24,40 28,22
23 2001 5 9 9 35,40 31 12 5 23,89 28,62
24 2002 5 20 12 34,18 2 8 5 23,85 28,73
25 2003 5 18 11 34,59 12 25 3 23,95 28,64
26 2004 5 9 8 34,33 2 15 4 23,23 28,26
27 2005 5 2 10 34,22 1 27 5 22,69 28,41
28 2006 5 13 11 34,65 1 13 5 24,33 28,69
29 2007 6 17 9 34,22 2 1 3 23,35 28,53
30 2008 4 16 11 33,97 3 3 5 23,70 28,27
31 2009 8 20 9 34,05 2 1 5 23,26 28,34
32 2010 5 9 11 35,10 1 31 4 25,06 29,18
33 2011 5 9 10 32,72 2 9 5 22,16 27,58
34 2012 4 21 10 32,84 1 22 5 23,29 27,93
35 2013 5 14 10 34,17 12 30 3 22,74 28,28
36 2014 5 11 11 34,43 2 2 4 21,25 28,15
37 2015 6 9 11 33,75 2 11 5 22,17 28,37
38 2016 5 16 11 35,39 2 8 5 22,50 28,69
Ghi chú: Năm 2016 chỉ phân tích tới hết tháng 8/2016.
Nếu xét riêng rẻ theo trung bình từng tháng
trong nhiều năm, nhiệt độ trung bình tháng
(nhiệt độ không khí và nhiệt độ bề mặt biển)
trên toàn vùng nghiên cứu có quan hệ khá chặt
chẽ (hình 2), bất thường nhiệt độ thấp nhất xảy
ra cùng vào tháng 12/1995 (giai đoạn La Niña
yếu) (T2m = 23,35
o
C (nhiệt độ không khí 2 m
trên bề mặt biển), Tsuf = 24,46
o
C (nhiệt độ bề
mặt biển)). Điểm cần lưu ý là năm 1995 là năm
chuyển tiếp từ chuyển tiếp El Niño yếu sang La
Niña yếu. Trong khi bất thường nhiệt độ cao
nhất vào tháng 5/2010 với nhiệt độ không khí
T2m = 31,38
o
C (nhiệt độ không khí trung bình
nhiều năm thể hiện trên bảng 1) và nhiệt độ bề
mặt nước biển cao nhất Tsuf = 31,37
o
C (nhiệt độ
bề mặt biển trung bình nhiều năm thể hiện trên
bảng 2), đây là năm đã xảy ra hiện tượng mực
nước cao bất thường vào mùa hè (6-9) theo
nghiên cứu của Fang và nnk., (2014) [1]. Các
chi tiết về nhiệt độ trung bình tháng cực trị của
năm trong 38 năm thể hiện chi tiết trên bảng 3
(cho nhiệt độ không khí) và bảng 4 (cho nhiệt
độ bề mặt nước biển).
Xét trên phương diện biến trình trường
nhiệt độ theo mùa:
Mùa gió Đông Bắc (tính trung bình từ
tháng 12 năm trước đến tháng 2 năm sau), có 3
giai đoạn nhiệt độ đạt giá trị cao là năm 1988
Biến động của trường nhiệt độ và mối quan hệ
85
(giai đoạn chuyển tiếp từ chuyển tiếp El Niño
cường độ vừa sang La Niña cường độ mạnh) và
các nhiệt độ cao bất thường trong năm 2010 và
1998 đã được thể hiện rõ trong trung bình năm
Ba năm này có nét tương đồng điều là năm
chuyển tiếp từ El Niño sang La Niña. Trong khi
đó, tại thời điểm nhiệt độ đạt giá trị thấp nhất
trong 38 năm có 2 năm nổi bật là 2014 và 1996
có nhiệt độ trung bình năm đạt giá trị thấp nhất
điều là thời điểm chuẩn bị bước vào thời kỳ El
Niño cường độ rất mạnh (hình 3).
Hình 3. Biến trình nhiệt độ trung bình mùa cho mùa gió Đông Bắc (tháng 12-2)
Mùa gió Tây Nam (từ tháng 6-8), trên
hình xuất hiện 6 năm trường nhiệt độ đạt giá
trị cao nhất trong 38 năm, thể hiện theo sự
tăng dần của sự cao bất thường nhiệt độ nước
biển bề mặt với năm 1981 (chuẩn bị bước vào
thời kỳ El Niño cường độ rất mạnh), 2002
(chuẩn bị bước vào thời kỳ El Niño cường độ
vừa), 1995 (giai đoạn chuyển tiếp El Niño yếu
sang La Niña yếu), 2010 (giai đoạn chuyển
tiếp El Niño vừa sang La Niña vừa), 1988
(giai đoạn chuyển tiếp El Niño vừa sang La
Niña mạnh), 1998 (giai đoạn chuyển tiếp El
Niño rất mạnh sang La Niña vừa). Theo đó,
nhiệt độ thấp bất thường thể hiện đặc trưng
trong 3 năm với các năm 1984 (giai đoạn La
Niña cường độ yếu), 2012 (giai đoạn kết thúc
La Niña cường độ yếu) và năm 1994 (chuẩn bị
bước vào thời kỳ El Niño cường độ yếu).
Điểm khác biệt khác so với gió mùa Đông Bắc
là quy luật của tác động ENSO đến nhiệt độ
không theo quy luật cụ thể, nhưng thông
thường đối với trường nhiệt độ biến động theo
nhiệt độ cao bất thường thông thường là các
năm chuẩn bị bước vào thời kỳ El Niño cường
độ vừa trở lên và giai đoạn chuyển tiếp từ El
Niño sang La Niña. Còn nhiệt độ thấp bất
thường trong giai đoạn chịu ảnh hưởng của tác
động ENSO yếu. Các biến đổi này có thể sẽ
tác động đáng kể đến hiện tượng nước trồi
mạnh khu vực Nam Trung Bộ [4, 6, 7].
Hình 4. Biến trình nhiệt độ trung bình mùa theo mùa gió Tây Nam (tháng 6-8)
Trần Văn Chung, Nguyễn Hữu Huân,
86
NHẬN XÉT VÀ THẢO LUẬN
Kết quả phân tích trường nhiệt độ trung
bình năm trong giai đoạn 38 năm từ 1979 đến
8/2016 cho thấy nhiệt độ bề mặt biển có ba giai
đoạn nhiệt độ trung bình năm toàn vùng nghiên
cứu đạt giá trị cao là 1998, 2010 và 1987. Tuy
nhiên, nếu xét đồng thời trường nhiệt độ (bao
gồm nhiệt độ gần bề mặt và nhiệt độ bề mặt
biển) thì chỉ có 2 năm có giá trị nhiệt độ cao
khác biệt so với các năm còn lại, đó là giai
đoạn chịu tác động của ENSO như năm 1998
(giai đoạn chuyển tiếp từ El Niño rất mạnh
sang giai đoạn La Niña vừa), 2010 (giai đoạn
chuyển tiếp El Niño vừa sang La Niña vừa).
Trong giai đoạn 2010-2011 có một điểm đặc
trưng khá nổi bật, trong khi năm 2010 đạt giá
trị nhiệt độ cao (đứng thứ 2 trong vòng 38 năm)
thì năm 2011 (giai đoạn La Niña yếu) thì nhiệt
độ đạt thấp nhất trong chu kỳ 38 năm. Với cơ
chế ảnh hưởng của ENSO gây nhiệt độ cao bất
thường trong các năm 1998, 2010, có thể là
nguyên nhân dẫn đến hiện tượng tẩy trắng san
hô tại vùng biển Nam Việt Nam.
Từ phân tích trường nhiệt độ theo chế độ
gió mùa, các ảnh hưởng của sự kiện ENSO đã
thể hiện như sau:
Mùa gió Đông Bắc, các năm có nhiệt độ
cao bất thường xảy ra là các năm chuyển tiếp từ
El Niño sang La Niña, điển hình là các năm
1988, 2010 và 1998. Trong khi đó, nhiệt độ đạt
giá trị thấp bất thường là 1996 và 2014 xảy ra ở
trước thời kỳ El Niño cường độ mạnh.
Mùa gió Tây Nam, có điểm khác biệt so
với gió mùa Đông Bắc là quy luật của tác động
ENSO đến nhiệt độ không theo quy luật cụ thể,
thông thường nhiệt độ cao bất thường là các
năm trước thời kỳ El Niño cường độ vừa trở lên
và giai đoạn chuyển tiếp từ El Niño sang La
Niña. Còn nhiệt độ thấp bất thường chịu tác
động ENSO cường yếu. Các biến đổi này có
thể sẽ tác động đáng kể đến hiện tượng nước
trồi mạnh khu vực Nam Trung Bộ.
Sự biến đổi nhiệt độ gần bề mặt, nhiệt độ
bề mặt nước biển khu vực nghiên cứu chịu sự
tác động của biến đổi khí hậu song không chỉ
liên quan đến các pha ENSO (ấm, lạnh) mà còn
liên quan đến các quá trình khác có chu kỳ
mùa, liên mùa, năm, nhiều năm, thập kỷ,
Lời cảm ơn: Đề tài đã sử dụng nguồn tài liệu từ
nhiệm vụ NVNĐT Hợp tác Quốc tế Việt Nam-
Hoa Kỳ (2013-2015) và đề tài cấp nhà nước:
“Xây dựng cơ sở dữ liệu số các yếu tố hải
dương từ nguồn ảnh VNREDSat-1 và các ảnh
viễn thám khác cho khu vực ven biển Ninh
Thuận - Bình Thuận phục vụ phát triển kinh tế
biển bền vững, mã số: VT/UD-07/14-15” và
một phần sản phẩm của đề tài cơ sở phòng Vật
lý biển năm 2016, Viện Hải dương học. Xin gởi
lời cảm ơn chân thành đến Ban chủ nhiệm các
đề tài và đồng nghiệp trong nhóm nghiên cứu
đã góp ý và hỗ trợ giúp chúng tôi hoàn thành
bài báo này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Fang, W., Qiu, F., and Guo, P., 2014.
Summer circulation variability in the South
China Sea (Vietnam East Sea) during 2006-
2010. Journal of Marine Systems, 137, 47-54.
2. Saha, S., Moorthi, S., Wu, X., Wang, J.,
Nadiga, S., Tripp, P., ... and Ek, M., 2014.
The NCEP climate forecast system version
2. Journal of Climate, 27(6), 2185-2208.
3. Trần Văn Chung, Bùi Hồng Long, 2016. Ảnh
hưởng của trường nhiệt độ và biến đổi bất
thường của mực nước trong Biển Đông liên
quan đến biến đổi khí hậu. Tạp chí Khoa học
và Công nghệ biển, 16(3), 255-266.
4. Bùi Hồng Long, Trần Văn Chung, 2015.
Bước đầu nghiên cứu ảnh hưởng biến đổi
khí hậu lên hiện tượng nước trồi Nam
Trung Bộ vào mùa hè. Hội thảo khoa học
kỷ niệm 40 năm Viện Hàn lâm Khoa học và
Công nghệ Việt Nam (1975-2015).
5. Võ Sĩ Tuấn, 2011. Biến động đa dạng sinh
học rạn san hô vịnh Nha Trang và các giải
pháp quản lý. Tuyển tập Báo cáo Hội nghị
Khoa học và Công nghệ biển toàn quốc lần
V. Tiểu ban Sinh học và nguồn lợi sinh vật
biển. Tr. 29-39.
6. Bùi Hồng Long, Trần Văn Chung, 2009.
Tính toán dòng chảy trong khu vực nước
trồi Nam Trung Bộ bằng mô hình dòng
chảy ba chiều (3-D) phi tuyến. Tạp chí
Khoa học và Công nghệ biển, 9(2), 1-25.
7. Bui Hong Long, Tran Van Chung, 2010.
Some experimental calculation for 3D
currents in the strong upwelling region of
southern central Vietnam using finite
element method. Proceedings of the
International Conference Marine
Biến động của trường nhiệt độ và mối quan hệ
87
Biodiversity of East Asian Seas: Status,
Challenges and Sustainable Development.
Nha Trang, Vietnam, 165-177.
ANOMALY VARIATIONS OF TEMPERATURE FIELDS AND ITS
RELATIONSHIP WITH ENSO PHENONMENON IN NINH THUAN -
BINH THUAN WATERS
Tran Van Chung, Nguyen Huu Huan, Bui Hong Long,
Nguyen Truong Thanh Hoi, Phan Thanh Bac
Institute of Oceanography, VAST
ABSTRACT: In this paper, our aim was to examine the role of ENSO in the recent climate
variations. Analyzed results on temporal variability of thermal fields in period of 38 years (Jan.
1979-Aug. 2016) showed that Ninh Thuan - Binh Thuan waters were subjected to the significant
impact of the ENSO phases (warming and cooling) as well as other processes related to seasonal,
inter-seasonal, yearly and mutlti-yearly variations such as in the periods 1986-1989, 1996-2000 and
2009-2011. In order to clarify above issues, authors carried out the analysis of the temporal -spatial
changes of temperature fields (include air temperature and sea surface temperature) in Ninh Thuan -
Binh Thuan region. The temperature data were exploited from The National Centers for
Environmental Prediction (NCEP) and Climate Forecast System Reanalysis (CFSR) in the form of
hourly time-series products with spatial resolution of 0.3
o
(1979-2010) and 0.20
o
(2011-8/2016).
The results showed that 2016 was quite similar to 1998 and 2010 when the coral bleaching occurred
in the study area.
Keywords: Climate change, sea surface temperature (SST), NCEP-CFSR, El Niño-Southern
Oscillation (ENSO), Ninh Thuan - Binh Thuan waters.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
bien_dong_cua_truong_nhiet_do_va_moi_quan_he_cua_no_voi_enso.pdf