Quy định tại khoản 5 Điều 96 Bộ luật
TTDS 2015 về nghĩa vụ chuyển giao tài liệu,
chứng cứ giữa các đương sự luôn là hình thức
khi mà Bộ luật TTDS 2015 không quy định về
thời hạn các đương sự có nghĩa vụ chuyển giao
tài liệu, chứng cứ cho nhau và hậu quả pháp lý
khi các bên đương sự không thực hiện nghĩa vụ
chuyển giao. Thực tế hiện nay ở tại các Tòa án,
do không có quy định về hậu quả pháp lý nên
gần như các đương sự không thực hiện nghĩa vụ
chuyển giao tài liệu, chứng cứ cho nhau. Tham
khảo pháp luật TTDS nước ngoài cho thấy, pháp
luật TTDS của nhiều nước trên thế giới đều quy
định thời hạn thực hiện nghĩa vụ chuyển giao
và hậu quả pháp lý khi các bên không thực hiện
nghĩa vụ. Chẳng hạn từ các Điều 132 đến Điều
137 Bộ luật TTDS Pháp quy định các bên đương
sự phải thực hiện ngay nghĩa vụ chuyển giao tài
liệu, chứng cứ. Các bên có thể yêu cầu thẩm phán
buộc bên kia phải thực hiện nghĩa vụ chuyển
giao tài liệu, chứng cứ mà đương sự chưa thực
hiện trong thời hạn nhất định. Nếu không thực
hiện thì có thể bị phạt tiền để cưỡng chế thực
hiện, không xem xét tài liệu, chứng cứ không
được trao đổi trong thời hạn đã ấn định6. Do đó,
để phát huy vai trò của đương sự trong hoạt động
tố tụng, đảm bảo quyền được biết thông tin của
đương sự để có thể tổ chức việc bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình cũng như phù hợp
pháp luật TTDS của các nước trên thế giới, cần
thiết bổ sung vào Bộ luật TTDS 2015 quy định
về thời hạn thực hiện nghĩa vụ trao đổi chứng
cứ, tài liệu của các bên đương sự cho nhau trước
khi mở phiên toà và các biện pháp bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ đó. Theo đó, khoản 5 Điều 96 Bộ
luật TTDS 2015 nên bổ sung theo hướng: “Khi
đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án
thì họ phải thực hiện ngay việc sao gửi tài liệu,
chứng cứ đó cho đương sự khác hoặc người đại
diện hợp pháp của đương sự khác; đối với tài
liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109
của Bộ luật này hoặc tài liệu, chứng cứ không
thể sao gửi được thì phải thông báo ngay bằng
văn bản cho đương sự khác hoặc người đại diện
hợp pháp của đương sự khác.
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Ngày: 20/01/2022 | Lượt xem: 269 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Bình luận về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tóm tắt:
Chứng minh là hoạt động tố tụng cơ bản trong tố tụng dân sự, mang
tính chất quyết định đến kết quả giải quyết vụ việc dân sự, làm cơ
sở cho Tòa án giải quyết vụ việc dân sự được chính xác và đúng
pháp luật. Chứng minh trong tố tụng dân sự không chỉ có ý nghĩa
đối với Tòa án trong việc giải quyết vụ việc dân sự mà còn có ý
nghĩa đối với các đương sự trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình.
Nguyễn Thị Thu Hà*
* TS. Trường Đại học Luật Hà Nội
Abstract
Proof is one of the basic procedural activities in civil procedure,
which is a decisive matter to the results of settling civil cases, as
a basis for the court to handle civil cases accurately and lawfully.
Proof in civil procedure is not only meaningful to the court in
settling civil cases but also makes sense to the involved parties in
protecting their legitimate rights and interests.
Thông tin bài viết:
Từ khóa: nguyên tắc; tố tụng dân sự;
cung cấp chứng cứ và chứng minh
Lịch sử bài viết:
Nhận bài : 14/4/2018
Biên tập : 03/05/2018
Duyệt bài : 08/05/2018
Article Infomation:
Keywords: the priciples; civil
procedure; provision of evidence and
proof
Article History:
Received : 14 Apr. 2018
Edited : 03 May 2018
Approved : 08 May 2018
BÌNH LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC CUNG CẤP CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH
TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015
Trong tố tụng dân sự (TTDS), quan
hệ lợi ích cần được giải quyết trong các vụ
việc dân sự là quan hệ giữa các đương sự,
do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình trước Tòa án thì các đương sự có
quyền và nghĩa vụ chứng minh cho Tòa án và
những người tham gia tố tụng khác thấy được
sự đúng đắn trong yêu cầu của mình, đồng
thời chứng minh rằng bị đơn phải có nghĩa vụ
đối với yêu cầu của mình. Ngược lại, bị đơn
cũng có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng
cứ và chứng minh sự phản đối yêu cầu của
mình đối với đương sự phía bên kia là có
căn cứ và hợp pháp. Ngoài ra, với quyền và
nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh
của các đương sự thì Tòa án có đầy đủ chứng
cứ để giải quyết vụ việc dân sự khách quan,
chính xác và đúng pháp luật. Vì vậy, cung
cấp chứng cứ và chứng minh được coi là một
trong các nguyên tắc cơ bản của TTDS được
quy định tại Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015 (Bộ luật TTDS 2015).
THÛÅC TIÏÎN PHAÁP LUÊÅT
42 Số 10(362) T5/2018
1. Nội dung của nguyên tắc cung cấp
chứng cứ và chứng minh theo quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
1.1 Đương sự có quyền và nghĩa vụ
chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho
Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình
là có căn cứ và hợp pháp.
- Đương sự đưa ra yêu cầu hay phản
đối yêu cầu của người khác đối với mình
có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ
và chứng minh cho yêu cầu, phản đối yêu
cầu đó là có căn cứ và hợp pháp. Trước tiên,
nguyên đơn là người khởi kiện nên nguyên
đơn có quyền và nghĩa vụ chứng minh cho
việc thực hiện quyền yêu cầu của mình là
có căn cứ và hợp pháp (theo châm ngôn La
tinh thì đó là nguyên tắc actori incumbit
probatio1). Ngược lại, bị đơn nếu không
chấp nhận toàn bộ hay một phần yêu cầu
của nguyên đơn thì bị đơn phải đưa ra các
chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối
đó. Đó là nguyên tắc reus in exceptione fit
actor2. Ngoài ra, khi bị đơn đưa ra yêu cầu
phản tố hoặc người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan đưa ra yêu cầu độc lập thì cũng
có trách nhiệm chứng minh cho yêu cầu của
mình là đúng và đương sự phải trả lời đối
với yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu
độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan có trách nhiệm chứng minh cho sự
phản đối đó. Tuy nhiên, “có những trường
hợp các đương - tụng không phải dẫn chứng
(không phải chứng minh), đây là những
trường hợp có sự suy đoán được dữ liệu sẵn
ở trong luật để bênh vực một vài đương sự”3
hoặc “đương sự được miễn trừ sự dẫn chứng
do trách nhiệm dẫn chứng chuyển qua đối
phương - người này phải đưa ra bằng chứng
rằng sự suy đoán không đúng với sự thật”4.
Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của những người yếu thế hoặc các trường
hợp do pháp luật quy định thì Bộ luật TTDS
2015 quy định đương sự khi khởi kiện, họ
không có nghĩa vụ phải chứng minh trong
1 Trần Văn Liêm (1974), Dân luật nhập môn thể nhân (Quyển 1), tr. 195.
2 Trần Văn Liêm (1974), Tlđd, tr. 196.
3 Vũ Văn Mẫu (1961), Dân luật khái luận, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, tr. 370.
4 Trần Văn Liêm (1974), Tlđd, tr. 198.
các trường hợp quy định tại các khoản 1
Điều 90 Bộ luật TTDS 2015. Đó là, (i)
Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa
vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tổ chức, cá
nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bị kiện
có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi
gây ra thiệt hại theo quy định của Luật Bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng; (ii) Đương sự
là người lao động trong vụ án lao động mà
không cung cấp, giao nộp được cho Tòa án
tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ
đó đang do người sử dụng lao động quản lý,
lưu giữ thì người sử dụng lao động có trách
nhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ
đó cho Tòa án. Người lao động khởi kiện vụ
án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
thuộc trường hợp người sử dụng lao động
không được thực hiện quyền đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường
hợp không được xử lý kỷ luật lao động đối
với người lao động theo quy định của pháp
luật về lao động thì nghĩa vụ chứng minh
thuộc về người sử dụng lao động; (iii) Các
trường hợp pháp luật có quy định khác về
nghĩa vụ chứng minh như khoản 4 Điều
203 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (được
sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định bị đơn
phải chứng minh sản phẩm của mình được
sản xuất theo một quy trình khác với quy
trình được bảo hộ trong một số trường hợp
nhất định, khoản 3 Điều 295 Luật Thương
mại năm 2005 quy định, bên vi phạm có
nghĩa vụ chứng minh với bên bị vi phạm
về trường hợp miễn trách nhiệm của mình,
khoản 3 Điều 351 Bộ luật Dân sự (BLDS)
năm 2015 quy định, bên có nghĩa vụ dân
sự không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu
chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện
được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền,
Điều 584 BLDS năm 2015 quy định, người
khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của
người gây thiệt hại.
THÛÅC TIÏÎN PHAÁP LUÊÅT
43Số 10(362) T5/2018
- So với Bộ luật TTDS năm 2004 đã
được sửa đổi, bổ sung năm 2011 (sau đây gọi
là Bộ luật TTDS 2011) thì Bộ luật TTDS
2015 nhấn mạnh thêm quyền và nghĩa vụ chủ
động thu thập chứng cứ của đương sự, bởi
để giao nộp được chứng cứ cho Tòa án thì
các đương sự phải thu thập được chứng cứ.
Do đó, để đương sự thực hiện được quyền và
nghĩa vụ thu thập chứng cứ thì khoản 1 Điều
97 Bộ luật TTDS 2015 quy định các biện pháp
thu thập chứng cứ mà đương sự được thực
hiện nhằm đảm bảo các chứng cứ có được
mang tính hợp pháp. Đó là, thu thập tài liệu
đọc được, nghe được, nhìn được; thông điệp
dữ liệu điện tử; thu thập vật chứng; xác định
người làm chứng và lấy xác nhận của người
làm chứng; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân
cho sao chép hoặc cung cấp những tài liệu có
liên quan đến việc giải quyết vụ việc mà cơ
quan, tổ chức, cá nhân đó đang lưu giữ, quản
lý; yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã chứng
thực chữ ký của người làm chứng; yêu cầu
Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ nếu đương
sự không thể thu thập tài liệu, chứng cứ; yêu
cầu Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định,
định giá tài sản; yêu cầu cơ quan, tổ chức,
cá nhân thực hiện công việc khác theo quy
định của pháp luật. Ngoài ra, các đương sự
có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho
Tòa án nhằm buộc đương sự phải giao nộp tất
cả các chứng cứ mà họ có cho Tòa án, tránh
tình trạng họ giữ lại các chứng cứ để tại phiên
tòa sơ thẩm hoặc phúc thẩm họ mới giao nộp
nhằm gây khó khăn cho Tòa án và các đương
sự khác.
- Nếu như Bộ luật TTDS 2011 quy
định quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ
và chứng minh có thể được thực hiện ở bất kỳ
thời điểm nào của quá trình tố tụng thì Bộ luật
TTDS năm 2015 đã bổ sung quy định thời
hạn giao nộp chứng cứ nhằm hạn chế sự thiếu
trung thực của một bên đương sự khi cung
cấp chứng cứ, "đề cao trách nhiệm chứng
minh của đương sự trong việc bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình, bảo đảm việc
giải quyết vụ án nhanh chóng, đồng thời bảo
đảm Tòa án căn cứ vào sự thật khách quan
5 Nguyễn Thị Thu Hà (2011), Phúc thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận án TS Luật học, Hà Nội, tr. 178.
để giải quyết vụ án" 5. Tuy nhiên, nếu vì lý
do chính đáng quy định tại khoản 4 Điều 96,
Điều 287 và Điều 330 Bộ luật TTDS năm
2015 thì chứng cứ được cung cấp khi đã hết
thời hạn cung cấp chứng cứ hoặc đáp ứng các
điều kiện do pháp luật quy định vẫn có thể
được chấp nhận nhằm đảm bảo vụ việc có đầy
đủ chứng cứ để giải quyết vụ việc cũng như
bảo vệ quyền lợi của các đương sự. Ngoài ra,
cùng với việc giao nộp chứng cứ, tài liệu cho
Tòa án thì họ phải sao gửi tài liệu, chứng cứ
đó cho đương sự khác hoặc người đại diện
hợp pháp của đương sự khác; đối với tài liệu,
chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 Bộ
luật TTDS hoặc tài liệu, chứng cứ không thể
sao gửi được thì phải thông báo bằng văn bản
cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp
pháp của đương sự khác (khoản 5 Điều 96).
Quy định này nhằm đảm bảo các đương sự
được biết đầy đủ chứng cứ của nhau để chuẩn
bị cho việc tranh tụng công khai, bình đẳng
và công bằng.
1.2 Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi
kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người khác, bảo vệ lợi ích Nhà
nước, lợi ích công cộng có quyền và nghĩa vụ
cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu
cầu của họ là có căn cứ và hợp pháp. Mặc dù
các cơ quan, tổ chức, cá nhân không có quyền
và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc tranh
chấp nhưng các cơ quan, tổ chức, cá nhân đó
là chủ thể đưa ra yêu cầu nên họ cũng phải
chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và
hợp pháp. Tuy nhiên, đối với trường hợp khi
mà cơ quan, tổ chức, cá nhân này không có
khả năng để thực hiện nghĩa vụ chứng minh
cho yêu cầu của mình thì họ cũng được loại
trừ nghĩa vụ chứng minh. Đó là, tổ chức xã
hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của
tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng (khoản 3 Điều 91 Bộ luật
TTDS 2015).
1.3 Hậu quả của việc đương sự không
cung cấp, giao nộp chứng cứ cho Tòa án
THÛÅC TIÏÎN PHAÁP LUÊÅT
44 Số 10(362) T5/2018
Về nguyên tắc, khi quy định về nghĩa
vụ cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự
thì đồng thời phải quy định về hậu quả pháp
lý khi đương sự không thực hiện nghĩa vụ đó
nhằm đảm bảo cho nghĩa vụ của đương sự
được thực hiện trên thực tế. Do đó, Bộ luật
TTDS 2015 quy định rõ hậu quả pháp lý khi
đương sự không cung cấp, giao nộp chứng cứ
cho Tòa án. Đó là, đương sự có nghĩa vụ đưa
ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra
được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng
cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo
những chứng cứ đã thu thập được có trong
hồ sơ vụ việc (khoản 4 Điều 91). Nếu đương
sự không giao nộp hoặc giao nộp không đầy
đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu mà
không có lý do chính đáng thì Tòa án căn cứ
vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao
nộp và Tòa án đã thu thập theo quy định tại
Điều 97 Bộ luật TTDS để giải quyết vụ việc
dân sự (khoản 1 Điều 96).
1.4 Khoản 2 Điều 6 Bộ luật TTDS
2015 quy định rõ về trách nhiệm của Tòa án
trong việc hỗ trợ đương sự thu thập chứng
cứ nhằm đảm bảo đương sự có đủ chứng cứ
để họ bảo vệ quyền và lợi ích hợp của mình
cũng như khắc phục tình trạng các cá nhân,
cơ quan tổ chức gây khó khăn cho đương
sự trong việc thu thập chứng cứ. Ngoài ra,
để đảm bảo đủ cơ sở để giải quyết vụ việc
dân sự thì Tòa án đã được bổ sung các biện
pháp thu thập chứng cứ mà không cần phải
có yêu cầu đương sự. Đó là, biện pháp trưng
cầu giám định khi xét thấy cần thiết (khoản 2
Điều 102); yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân
đang quản lý, lưu giữ cung cấp tài liệu, chứng
cứ cho Tòa án khi xét thấy cần thiết (khoản
3 Điều 106). Như vậy, khi không có yêu cầu
của đương sự, Tòa án được tiến hành một
hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ sau:
Lấy lời khai của đương sự (khoản 1 Điều 98),
lấy lời khai người làm chứng (khoản 1 Điều
99); Đối chất giữa các đương sự với nhau,
giữa đương sự với người làm chứng (khoản 1
Điều 100); Xem xét, thẩm định tại chỗ (khoản
1 Điều 101); Trưng cầu giám định (khoản 2
Điều 102); Định giá tài sản (điểm b, c khoản
3 Điều 104); Ủy thác thu thập, xác minh tài
liệu, chứng cứ (Điều 105); Yêu cầu cơ quan,
tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ
(khoản 3 Điều 106).
2. Thực trạng các quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015 về nguyên tắc cung cấp
chứng cứ và chứng minh và một số kiến nghị
- Lần đầu tiên, Bộ luật TTDS 2015 quy
định về các biện pháp thu thập chứng cứ của
cá nhân, cơ quan, tổ chức nhằm đảm bảo các
đương sự có đầy đủ các chứng cứ để cung cấp
cho Tòa án cũng như đảm bảo các chứng cứ đó
có tính hợp pháp. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 97
Bộ luật TTDS 2015 mới chỉ quy định các biện
pháp thu thập chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ
chức nhưng lại chưa quy định cụ thể về trình tự,
thủ tục thực hiện các biện pháp đó, trong khi các
biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án được
quy định tại khoản 2 Điều 97 Bộ luật TTDS
2015 lại được quy định rất cụ thể về trình tự, thủ
tục thu thập. Thiết nghĩ, để các chứng cứ do cá
nhân, cơ quan, tổ chức thu thập có giá trị chứng
minh và được Tòa án sử dụng làm căn cứ cho
việc giải quyết vụ việc dân sự thì các nhà làm
luật cần bổ sung trình tự, thủ tục thu thập chứng
cứ đối với các biện pháp thu thập chứng cứ do cá
nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện.
- Bộ luật TTDS năm 2015 bổ sung các
quy định về thời hạn cung cấp chứng cứ nhằm
nâng cao trách nhiệm chứng minh của đương sự.
Theo đó, các đương sự phải cung cấp chứng cứ
trong thời hạn do thẩm phán được phân công giải
quyết vụ việc dân sự ấn định, nhưng không được
vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, thời
hạn chuẩn bị giải quyết việc dân sự, trừ trường
hợp quy định tại khoản 4 Điều 96, Điều 287 và
Điều 330 Bộ luật TTDS năm 2015.
Tuy nhiên, chứng cứ không được chấp
nhận do đương sự cung cấp đã quá thời hạn
cung cấp mà thẩm phán ấn định có thể lại được
thẩm phán thu thập theo khoản 2 Điều 97 Bộ
luật TTDS 2015 không? Vấn đề này cũng có
những ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng,
do đã hết thời hạn cung cấp chứng cứ mà không
có lý do chính đáng nên chứng cứ này sẽ không
được thẩm phán thu thập kể cả trong trường hợp
chứng cứ đó có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ
việc. Ý kiến khác lại cho rằng, với các biện pháp
thu thập chứng của Tòa án được quy định tại
khoản 2 Điều 97 Bộ luật TTDS 2015 thì thẩm
phán hoàn toàn có quyền thu thập chứng cứ này
nhằm đảm bảo Tòa án có đầy đủ chứng cứ để
giải quyết vụ việc dân sự chính xác.
Về nguyên tắc, tất cả các chứng cứ mà
THÛÅC TIÏÎN PHAÁP LUÊÅT
45Số 10(362) T5/2018
đương sự cung cấp khi đã quá thời hạn cung cấp
do thẩm phán ấn định mà không có lý do chính
đáng đều không được chấp nhận nhằm nâng cao
trách nhiệm chứng minh của đương sự, tránh
tình trạng các đương sự thiếu trung thực trong
việc cung cấp chứng cứ. Tuy nhiên, với trách
nhiệm hỗ trợ thu thập chứng cứ của Tòa án quy
định trong Bộ luật TTDS 2015 thì Tòa án có thể
thu thập các chứng cứ này để làm căn cứ cho
việc giải quyết vụ việc dân sự. Điều này đã tự
nhiên làm cho các quy định về thời hạn cung
cấp chứng cứ trở thành không có ý nghĩa cũng
như dẫn đến tình trạng Tòa án có thể thiếu công
bằng, khách quan trong việc thu thập chứng cứ
khi cố ý thiên vị cho một bên đương sự. Do đó,
Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn cụ thể
về vấn đề này theo hướng: Tòa án không được
thu thập các chứng cứ mà đương sự đã cung cấp
quá thời hạn cung cấp chứng cứ nhằm nâng cao
trách nhiệm chứng minh của đương sự cũng như
đảm bảo sự công bằng, khách quan trong việc
thu thập chứng cứ của Tòa án.
- Quy định tại khoản 5 Điều 96 Bộ luật
TTDS 2015 về nghĩa vụ chuyển giao tài liệu,
chứng cứ giữa các đương sự luôn là hình thức
khi mà Bộ luật TTDS 2015 không quy định về
thời hạn các đương sự có nghĩa vụ chuyển giao
tài liệu, chứng cứ cho nhau và hậu quả pháp lý
khi các bên đương sự không thực hiện nghĩa vụ
chuyển giao. Thực tế hiện nay ở tại các Tòa án,
do không có quy định về hậu quả pháp lý nên
gần như các đương sự không thực hiện nghĩa vụ
chuyển giao tài liệu, chứng cứ cho nhau. Tham
khảo pháp luật TTDS nước ngoài cho thấy, pháp
luật TTDS của nhiều nước trên thế giới đều quy
định thời hạn thực hiện nghĩa vụ chuyển giao
và hậu quả pháp lý khi các bên không thực hiện
nghĩa vụ. Chẳng hạn từ các Điều 132 đến Điều
137 Bộ luật TTDS Pháp quy định các bên đương
sự phải thực hiện ngay nghĩa vụ chuyển giao tài
liệu, chứng cứ. Các bên có thể yêu cầu thẩm phán
buộc bên kia phải thực hiện nghĩa vụ chuyển
giao tài liệu, chứng cứ mà đương sự chưa thực
hiện trong thời hạn nhất định. Nếu không thực
hiện thì có thể bị phạt tiền để cưỡng chế thực
hiện, không xem xét tài liệu, chứng cứ không
được trao đổi trong thời hạn đã ấn định6. Do đó,
6 Đề nghị tác giả bổ sung footnote
để phát huy vai trò của đương sự trong hoạt động
tố tụng, đảm bảo quyền được biết thông tin của
đương sự để có thể tổ chức việc bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình cũng như phù hợp
pháp luật TTDS của các nước trên thế giới, cần
thiết bổ sung vào Bộ luật TTDS 2015 quy định
về thời hạn thực hiện nghĩa vụ trao đổi chứng
cứ, tài liệu của các bên đương sự cho nhau trước
khi mở phiên toà và các biện pháp bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ đó. Theo đó, khoản 5 Điều 96 Bộ
luật TTDS 2015 nên bổ sung theo hướng: “Khi
đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án
thì họ phải thực hiện ngay việc sao gửi tài liệu,
chứng cứ đó cho đương sự khác hoặc người đại
diện hợp pháp của đương sự khác; đối với tài
liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109
của Bộ luật này hoặc tài liệu, chứng cứ không
thể sao gửi được thì phải thông báo ngay bằng
văn bản cho đương sự khác hoặc người đại diện
hợp pháp của đương sự khác.
Trong trường hợp đương sự cố tình không
cung cấp tài liệu, chứng cứ cho bên kia thì theo
yêu cầu của đương sự, Tòa án buộc bên đương
sự đang lưu giữ tài liệu, chứng cứ phải cung
cấp tài liệu, chứng cứ đó trong thời hạn do thẩm
phán ấn định, nhưng không vượt quá thời hạn
chuẩn bị xét xử vụ án dân sự, thời hạn chuẩn
bị giải quyết việc dân sự. Nếu hết thời hạn này,
đương sự vẫn không thực hiện nghĩa vụ chuyển
giao tài liệu, chứng cứ thì bị phạt tiền và thẩm
phán sẽ không chấp nhận những tài liệu, chứng
cứ không được các bên đương sự trao đổi trong
thời hạn đã được thẩm phán ấn định”.
- Theo khoản 2 Điều 97 Bộ luật TTDS
2015, ngoài các biện pháp được quy định trong
Bộ luật TTDS 2011, Bộ luật TTDS 2015 còn bổ
sung biện pháp thu thập chứng cứ là xác minh
sự có mặt hoặc vắng mặt của đương sự tại nơi
cư trú. Điều đáng tiếc là Bộ luật TTDS 2015 lại
không quy định rõ biện pháp này Tòa án tiến
hành khi có yêu cầu của đương sự hay Tòa án
được tự thực hiện khi xét thấy cần thiết cũng như
trình tự, thủ tục thực hiện biện pháp này. Thiết
nghĩ, Tòa án nhân dân tối cao cần có hướng dẫn
cụ thể về vấn đề này để các Tòa án thống nhất
trong việc thực hiện biện pháp thu thập chứng
cứ này■
THÛÅC TIÏÎN PHAÁP LUÊÅT
46 Số 10(362) T5/2018
Các file đính kèm theo tài liệu này:
- binh_luan_ve_nguyen_tac_cung_cap_chung_cu_va_chung_minh_tron.pdf