Bước đầu đánh giá điều kiện sinh trưởng của một số chủng vi sinh vật có khả năng phân hủy sinh học cao su thiên nhiên
Kết quả khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ
nuôi cấy đến sự phát triển của chủng E2
Nhìn vào đồ thị nhận thấy nhiệt độ 50 oC
là nhiệt độ không phù hợp cho sự sinh trưởng của
chủng E2. Dải nhiệt độ từ 20 oC – 42 oC phù hợp với
sự sinh trưởng phát triển của chủng E2. Tuy nhiên
tại nhiệt độ 30 oC lượng sinh khối tạo ra lớn nhất
sau thời gian ngắn nhất với OD = 4,61±0,21 sau 12h
tương đương mật độ vi sinh vật 109. Như vậy dải
nhiệt độ từ 30 oC – 42 oC là nhiệt độ nuôi cấy phù
hợp với E2 khi nghiên cứu ở những phần tiếp theo.
3. Kết luận
Với các chủng có khả năng phân hủy cao su
đã phân lập được thì nhóm nghiên cứu đã tiến hành
khảo sát các điều kiện sinh trưởng và phát triển của
2 chủng này trong điều kiện nghiên cứu của phòng
thí nghiệm với mong muốn tìm ra được điều kiện
nuôi cấy để tạo ra nhiều sinh khối nhất nhằm phục
vụ cho các nghiên cứu tiếp theo.
Bước đầu đã khảo sát được điều kiện sinh
trưởng của các chủng lựa chọn:
Chủng E1 phát triển tạo sinh khối lớn nhất
trong môi trường LB, pH = 6 - 8, nhiệt độ 30 - 42 oC.
Chủng E2 phát triển tạo sinh khối lớn nhất
trong môi trường LB, pH = 6 - 8, nhiệt độ 30 - 42 oC.
Với các kết quả bước đầu này sẽ là tiền đề
để tiếp tục tiến hành nuôi cấy thu sinh khối và sử
dụng sinh khối này phục vụ cho quá trình nghiên
cứu quá trình phân hủy cao su của chúng hướng tới
một tương lai có thể đưa các chủng vào ứng dụng
trong xử lý môi trường.
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Bước đầu đánh giá điều kiện sinh trưởng của một số chủng vi sinh vật có khả năng phân hủy sinh học cao su thiên nhiên, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ISSN 2354-0575
Khoa học & Công nghệ - Số 20/Tháng 12 - 2018 Journal of Science and Technology 37
BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN SINH TRƯỞNG
CỦA MỘT SỐ CHỦNG VI SINH VẬT
CÓ KHẢ NĂNG PHÂN HỦY SINH HỌC CAO SU THIÊN NHIÊN
Nguyễn Việt Thùy, Trần Thị Ưng
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên
Ngày tòa soạn nhận được bài báo: 15/10/2018
Ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 16/11/2018
Ngày bài báo được duyệt đăng: 07/12/2018
Tóm tắt:
Cao su thiên nhiên là một polymer có khả năng chống mài mòn và rách. Vì vậy nó được ứng dụng
rộng rãi trong quá trình làm vật liệu cơ bản để sản xuất lốp xe, găng tay cao su, sản phẩm xốp, Cùng
với việc mở rộng sản xuất thì chất thải và cao su phế thải cần phải có biện pháp xử lý. Tuy nhiên, các biện
pháp xử lý như chon lấp, đốt và tái chế cao su rất khó khăn và ít thân thiện với môi trường. Do vậy hướng
theo con đường xử lý sinh học là một trong những hướng đi mang lại tính hiệu quả và thân thiện với môi
trường. Tuy nhiên để xử lý sinh học thì việc lựa chọn chủng vi sinh vật là điều vô cùng quan trọng và việc
sử dụng được những giống bản địa sẽ giải quyết được vấn đề thích nghi của vi sinh vật với môi trường sống
mới và có thể ứng dụng ngay vào thực tiễn giảm bớt quá trình khảo sát điều kiện sinh trưởng và phát triển.
Với nguồn phân lập từ bể làm giàu và các thành phần là nước thải, mủ thải, bùn thải từ nhà má cao
su Cẩm Thủy – Thanh Hóa thì nhóm nghiên cứu đã phân lập được 2 chủng E1 và E2 từ bể làm giàu. Đồng
thời từ 2 chủng phân lập được chúng tôi đi vào nghiên cứu để khảo sát điều kiện sinh trưởng để thu sinh
khối tốt nhất của từng chủng trong môi trường nuôi cấy.
Từ khoá: Cao su thiên nhiên, phân hủy sinh học, vi sinh vật,mẫu làm giàu, điều kiện sinh trưởng.
1. Đặt vấn đề
Cao su hiện nay là một vật liệu được sử dụng
rộng rãi trên toàn cầu bởi các tính năng vượt trội
của nó bao gồm như độ đàn hồi, chống rách, chống
mài mòn [1,5]. Cùng với những lợi ích từ ngành
công nghiệp này mang lại thì chất thải cao su cũng
đang là một trong những vấn đề đáng lo ngại. Các
biện pháp xử lý cao su thải hiện nay đang được sử
dụng rộng rãi là chon lấp, nhiệt phân và chất đống.
Tuy nhiên các biện pháp này còn nhiều bất cập, việc
chôn lấp gây tốn diện tích còn đốt phếp liệu để làm
nhiên liệu trong các nhà máy lại gây ô nhiễm môi
trường và hiệu quả kinh tế thì không cao. Chính vì
vậy mà việc tìm ra các chủng vi sinh vật có khả năng
phân hủy mạnh cao su và phù hợp với điều kiện thời
tiết khí hậu, môi trường ở từng khu vực là một điều
thực sự cần thiết.
Các nghiên cứu về phân hủy cao su đã tìm ra
nhiều loài vi khuẩn, xạ khuẩn và nấm có khả năng
phân hủy cao su tuy nhiên với mỗi nhóm vi sinh
vật thì khả năng sinh trưởng và đặc tính của chúng
lại có sự khác biệt đồng thời nó chỉ có thể phát huy
được vai trò phân hủy khi được sinh trưởng trong
môi trường phù hợp với sinh lý của chúng [4, 6]. Vì
vậy với cơ sở đã phân lập được 2 chủng E1 và E2 từ
nước thải, mủ thải, bùn thải từ nhà máy cao su Cẩm
Thủy – Thanh Hóa chúng tôi tiến hành nghiên cứu
về điều kiện sinh trưởng của chủng với mong muốn
tìm được điều kiện để nuôi cấy tạo được nhiều sinh
khối nhất nhằm phục vụ việc đưa các chủng ứng
dụng xử lý trong thực tiễn tại Việt Nam.
2. Nội dung
2.1. Vật liệu và phương pháp
2.1.1. Nguồn vi sinh vật:
Các chủng E
1
, E
2
trong bộ sưu tập giống của
bộ môn Công nghệ sinh học – Viện Công nghệ sinh
học – Đại học Bách Khoa Hà Nội [2,3].
2.1.2. Môi trường nuôi cấy:
Môi trường nghiên cứu sử dụng chủ yếu là
môi trường LB, PAB [2,3].
Bảng 1. Môi trường hoạt hóa LB
Thành Phần g/l
Pepton 10
Cao nấm men 5
NaCl 25
Bảng 2. Môi trường hoạt hóa PAB
Thành Phần g/l
Pepton 10
Cao nấm men 1.5
Cao thịt 1.5
NaCl 3.5
Glucoza 1
KH2PO
4
1.32
K
2
HPO
4
3.68
ISSN 2354-0575
Journal of Science and Technology38 Khoa học & Công nghệ - Số 20/Tháng 12 - 2018
2.1.3. Hóa chất:
Hóa chất dùng nuôi cấy: pepton, cao nấm
men, cao thịt, NaCl, Glucoza, KH
2
PO
4
, K
2
HPO
4
.
2.1.4. Thiết bị:
- Máy lắc ổn nhiệt (Taitec BR - 43FL, Nhật)
- Máy li tâm lạnh (Tomy MX-305, Nhật)
- Máy Vortex (Taitec, Nhật)
- Nồi hấp tiệt trùng (Tomy ES315, Nhật)
- Tủ cấy vô trùng (Panasonic MCV-B91F,
Nhật)
- Máy đo pH (Hanna Hi 2211, Italia)
- Tủ sấy (Eyela LTI-601SD, Nhật)
- Kính hiển vi điện tử (Nikon YS100, Nhật)
2.1.5. Sơ đồ nghiên cứu: [2,3]
Các chủng
vi sinh vật trong bộ
sưu tập
Môi trường
nuôi cấy
(Enrichment)
Khảo sát với môi
trường dinh dưỡng
Khảo sát điều kiện
nhiệt độ nuôi cấy
Khảo sát với điều kiện
pH ban đầu
Kết luận
2.1.6. Khảo sát sự ảnh hưởng của các môi trường
nuôi cấy khác nhau lên sự sinh trưởng và phát
triển của các chủng lựa chọn
- Chuẩn bị các bình tam giác sạch, khô có
nắp đậy (thông khí) bọc kín bằng giấy bên trong
có chứa 40 ml LB hoặc PAB, pH = 7 thanh trùng ở
121oC, 20 phút.
- Các chủng E
1
, E
2
, được hoạt hóa trong môi
trường LB, 2 - 3 ngày ở 37 oC.
Bổ sung 10% (v/v) canh trường có mật độ
109 CFU/ml với các chủng E
1
, E
2
vào các bình tam
giác đã chuẩn bị sẵn.
Đem nuôi ở 37 oC, tốc độ lắc 170 – 185
vòng/phút.
Tiến hành đo mật độ quang tại OD600 nm
12h một lần để xác định sự gia tăng sinh khối của
các mẫu.
2.1.7. Khảo sát sự ảnh hưởng của pH ban đầu lên
sự sinh trưởng và phát triển của các chủng lựa chọn
Thực hiện các bước tương tự như khảo sát
với môi trường nuôi cấy sử dụng môi trường phù
hợp đã khảo sát ở bước trên với các chủng E
1
, E
2
trong đó các bình tam giác chứa môi trường nuôi
cấy được điều chỉnh pH từ 4 đến 8. Khả năng sinh
trưởng của các chủng được xác định qua OD600 nm.
2.1.8. Khảo sát sự ảnh hưởng của nhiệt độ nuôi
cấy đến sự phát triển của chủng lựa chọn
Thực hiện các bước tương tự như với khảo
sát pH ban đầu với môi trường, pH đã khảo sát.
Thay đổi nhiệt độ nuôi cấy tại 20 oC, 30 oC, 37 oC,
42 oC, 50 oC. Khả năng sinh trưởng của các chủng
được xác định qua OD600 nm.
2.2. Kết quả và thảo luận
2.2.1. Đặc điểm hình thái 2 chủng
Qua quá trình nuôi cấy trong phòng thí
nghiệm và nhuộm gram thu được hình ảnh khuẩn
lạc và hình ảnh nhuộm gram của 2 chủng như Hình
1 và Hình 2:
Hình 1. Hình ảnh khuẩn lạc của chủng nghiên cứu
Hình 2. Hình ảnh nhuộm Gram của các chủng ở độ
phóng đại 1000 lần
2.2.2. Kết quả khảo sát sự phát triển của chủng
E1 trên các môi trường nuôi cấy tại nhiệt độ 37 oC
Hình 3. Kết quả khảo sát sự phát triển của chủng
E1 trên các môi trường nuôi cấy tại nhiệt độ 37
oC
ISSN 2354-0575
Khoa học & Công nghệ - Số 20/Tháng 12 - 2018 Journal of Science and Technology 39
Nhìn vào kết quả ta thấy cả hai môi trường
đều phù hợp với chủng E
1
. Tuy nhiên sinh khối của
E
1
trong môi trường LB cao hơn trong môi trường
PAB 1,8 lần. Sinh khối của E
1
trong môi trường
LB đạt cực đại tại OD = 3,90±0,30 sau 24h tương
đương mật độ vi sinh vật 109 CFU/ml. Chính vì vậy
LB được chúng tôi lựa chọn là môi trường nuôi cấy
chủng E
1
.
2.2.3. Kết quả khảo sát chủng E2 trên các môi
trường nuôi cấy tại nhiệt độ 37 oC
Hình 4. Kết quả khảo sát chủng E
2
trên các môi
trường nuôi cấy tại nhiệt độ 37 oC
Qua kết quả trên thì cả hai môi trường đều
phù hợp với chủng E
2
. Lượng sinh khối thu được
của chủng E
2
trong cả hai môi trường tương đương
nhau tuy nhiên khi nuôi trong môi trường LB thời
gian thu được sinh khối cực đại ngắn hơn. Trong
môi trường LB sinh khối cực đại sau 24h với OD
= 3,99±0,29 tương đương mật độ vi sinh vật 109
CFU/ml. Vì vậy trong các nghiên cứu tiếp theo
chúng tôi lựa chọn LB là môi trường nuôi cấy E
2
.
2.2.4. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của pH ban
đầu đến sự phát triển của chủng E1
Hình 5. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của pH ban
đầu đến sự phát triển của chủng E1
Trong dải pH từ 4 đến 8 chủng E
1
đều sinh
trưởng phát triển trong đó tại pH = 4 lượng sinh
khối của chủng E
1
thấp nhất. Tại pH = 6, 7, 8 tốc độ
sinh trưởng của chủng tương đương nhau. Lượng
sinh khối thu được cao nhất khi nuôi chủng trong
môi trường LB, pH = 6, sau thời gian 24h với OD
= 4,08±0,18 tương đương mật độ vi sinh vật 109
CFU/ml . Như vậy lựa chọn dải pH từ 6 – 8 là điều
kiện phù hợp với chủng E
1
trong những nghiên cứu
tiếp theo.
2.2.5. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của pH ban
đầu đến sự phát triển của chủng E2
Hình 6. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của pH ban
đầu đến sự phát triển của chủng E
2
Theo kết quả phía trên nhận thấy sử dụng dải
pH từ 4 đến 8 chủng E
2
đều phát triển tuy nhiên với
pH = 4 và 5 chủng có lượng sinh khối ít. Tại pH =
6 lượng sinh khối của chủng lớn nhất với giá trị gấp
1,09 – 4,89 lần so với tại các giá trị pH khác với OD
= 4,39±0,13 sau 24h tương đương mật độ vi sinh
vật 109 CFU/ml. Do đó pH ban đầu được lựa chọn
để nuôi chủng E
2
thu sinh khối là dải pH từ 6 – 8.
2.2.6. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ
nuôi cấy đến sự phát triển của chủng E1
Hình 7. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ
nuôi cấy đến sự phát triển của chủng E1
ISSN 2354-0575
Journal of Science and Technology40 Khoa học & Công nghệ - Số 20/Tháng 12 - 2018
Nhìn vào lượng sinh khối thu được của chủng
E
1
thấy tại dải nhiệt độ 30 - 42 oC lượng sinh khối
tạo ra của chủng lớn hơn. Đối với nhiệt độ 20oC và
50 oC chủng E
1
phát triển chậm hơn nhiều.Trong đó
tại nhiệt độ 30 oC lượng sinh khối tạo được lớn nhất
sau 12h với OD = 4,45±0,30 tương đương mật độ
vi sinh vật 109 CFU/ml. Như vậy dải nhiệt độ 30 -
42oC là điều kiện phù hợp với E
1
khi nuôi cấy trong
các nghiên cứu tiếp theo.
2.2.7. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ
nuôi cấy đến sự phát triển của chủng E2
Hình 8. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ
nuôi cấy đến sự phát triển của chủng E
2
Nhìn vào đồ thị nhận thấy nhiệt độ 50 oC
là nhiệt độ không phù hợp cho sự sinh trưởng của
chủng E
2
. Dải nhiệt độ từ 20 oC – 42 oC phù hợp với
sự sinh trưởng phát triển của chủng E
2
. Tuy nhiên
tại nhiệt độ 30 oC lượng sinh khối tạo ra lớn nhất
sau thời gian ngắn nhất với OD = 4,61±0,21 sau 12h
tương đương mật độ vi sinh vật 109. Như vậy dải
nhiệt độ từ 30 oC – 42 oC là nhiệt độ nuôi cấy phù
hợp với E
2
khi nghiên cứu ở những phần tiếp theo.
3. Kết luận
Với các chủng có khả năng phân hủy cao su
đã phân lập được thì nhóm nghiên cứu đã tiến hành
khảo sát các điều kiện sinh trưởng và phát triển của
2 chủng này trong điều kiện nghiên cứu của phòng
thí nghiệm với mong muốn tìm ra được điều kiện
nuôi cấy để tạo ra nhiều sinh khối nhất nhằm phục
vụ cho các nghiên cứu tiếp theo.
Bước đầu đã khảo sát được điều kiện sinh
trưởng của các chủng lựa chọn:
Chủng E
1
phát triển tạo sinh khối lớn nhất
trong môi trường LB, pH = 6 - 8, nhiệt độ 30 - 42 oC.
Chủng E
2
phát triển tạo sinh khối lớn nhất
trong môi trường LB, pH = 6 - 8, nhiệt độ 30 - 42 oC.
Với các kết quả bước đầu này sẽ là tiền đề
để tiếp tục tiến hành nuôi cấy thu sinh khối và sử
dụng sinh khối này phục vụ cho quá trình nghiên
cứu quá trình phân hủy cao su của chúng hướng tới
một tương lai có thể đưa các chủng vào ứng dụng
trong xử lý môi trường.
Tài liệu tham khảo
[1]. Nguyễn Hữu Trí, Công nghệ cao su thiên nhiên, NXB trẻ, 2008.
[2]. Đào Việt Linh, Luận văn thạc sĩ, Nagaoka university of Technology, 2013.
[3]. Bui Thi Trang, Dao Viet Linh, Nguyen Lan Huong, To Kim Anh, Phan Trung Nghia, and Fukuda
Masao, “Screening of Natural Rubber – Degrading Microorganisms from Rubber Processing Factory
Waste in Vietnam”. International Journal of Waste Resources, 2013, 3, pp. 9 – 12.
[4]. Ibrahim E.M., Arenskotter M., Lufmann H., and Steinbuchel A, “Identification of poly (cis-
1,4-isoprene) degradation intermediates during growth of moderately thermophilic actinomycetes
on rubber and cloning of a functional lcp homologue from Nocardia farcinia strains E1”. A. E.
Microbiol, 2016, 72, pp. 3375-3382.
[5]. Kim H.C, Jayaram N, Gincy P.T, Nazalan N, Mas R. H, Mas H, Kumar S, Identification of
new rubber-degrading bacterial strains from aged latex Polymer Degradation and Stability, Volume,
2014, 109, pp 354–361.
[6]. Linos A, Berekaa M.M, Reichelt R, Keller U, Schmitt J, Flemming H.C, Biodegradation of poly
(cis-1,4-polyisoprene) rubbers by distinct actinomycetes: microbial strategies and detailed surface
analysis. A. E. Microbiol, 2000, 66. pp. 1639-1645.
ISSN 2354-0575
Khoa học & Công nghệ - Số 20/Tháng 12 - 2018 Journal of Science and Technology 41
INITIAL EVALUATION OF GROWTH CONDITIONS
OF MICROORGANISMSBIODEGRADATION OF NATURAL RUBBER
Abstract:
Natural rubber is a polymer that is resistant to abrasion and tear. It is widely used in making
basic materials for the production of tires, rubber gloves, foam products, etc. Along with the expansion of
production waste and waste rubber need to take measures.. However, measures such as covering, burning
and recycling rubber are difficult and less environmentally friendly. Therefore, bioprocessing is one of the
most effective and environmentally friendly pathways. However, for biological treatment, the selection of
microorganisms is of paramount importance and the use of native varieties will address the adaptation of
microorganisms to new habitats and may Apply immediately to practice to reduce the process of surveying
growth and development.
With the source extracted from the enrichment tank and the waste water, waste latex and waste sludge
samples collected from a rubber processing from Cam Thuy - Thanh Hoa rubber factory, the research team
isolated two strains E1 and E2 from the enrichment tank. At the same time from 2 isolates we went to study
to investigate growth conditions to obtain the best biomass of each strain in the culture environment.
Keywords: Nature rubber, biodegradations, microbial, enrichment, growth conditions.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
buoc_dau_danh_gia_dieu_kien_sinh_truong_cua_mot_so_chung_vi.pdf