KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu bước đầu đã cho thấy bộ Amphipoda ở vịnh Nha Trang rất
đa dạng và phong phú về thành phần họ và điều kiện sống.
- Trong các mẫu vật thu được ở các tầng nước biển, các giá thể san hô và bọt
biển ở vịnh Nha Trang trong thời gian từ ngày 01 đến 28 tháng 10 năm 2012 đã xác
định được tổng cộng 25 họ của bộ Amphipoda là: Synopiidae, Megaluropiidae
(giống Megaluropus), Dexaminidae (giống Paradexamine), Stenothoidae (giống
Stenothoe), Maeridae, Photidae (giống Photis), Ischyroceridae (giống Ericthonius),
Phoxocephalidae, Podoceridae (giống Podocerus), Maxillipiidae, Amphilochidae,
Colomastigidae, Anamixidae, Aoridae, Leucothoidae, Caprellidea, Isaeidae,
Melitidae, Maxillipiidae, Eusiridae, Iphimediidae, Lysianassidae, Oedicerotidae,
Sebidae, Dexaminidae. Trong đó phổ biến nhất có 2 họ bắt gặp ở các giá thể là
Colomastigidae và Leucothoidae.
- Các dẫn liệu chứng tỏ rằng thành phần các họ của Amphipoda sống trong
tầng nước biển và các giá thể khác nhau là khác nhau, trên các giá thể có sự đa dạng
thành phần các họ hơn là ở trong tầng nước biển.
- Theo tính chất của quần thể san hô và bọt biển thì bộ Amphipoda cũng đóng
vai trò trong chuỗi thức ăn của nó.
- Để có những dẫn liệu về đa dạng thành phần loài cụ thể hơn, chúng tôi sẽ
tiếp tục nghiên cứu phân tích về hình thái, cấu tạo của các loài thuộc bộ Amphipoda,
vai trò của nó đối với quần thể san hô, bọt biển.
7 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Bước đầu nghiên cứu đa dạng sinh học bộ chân khác (amphipoda) ở vịnh Nha Trang, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Thông tin khoa học công nghệ
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 06, 03 - 2014 106
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC BỘ CHÂN KHÁC
(AMPHIPODA) Ở VỊNH NHA TRANG
ĐINH THỊ HẢI YẾN, GRINTSOV V.A.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Vùng ven biển Nha Trang, Khánh Hòa rất đa dạng về thành phần thủy sinh vật
biển, trong đó có bộ giáp xác chân khác (Amphipoda), hay còn gọi là lưỡng túc.
Amphipoda thuộc nhóm giáp xác nhỏ sống trôi nổi, sống bám với các loại giá thể
như cá, san hô, bọt biển, các loại giáp xác khác... Chúng có vai trò quan trọng trong
việc tạo cân bằng sinh thái, làm thức ăn cho cá, tôm, cua... Hơn nữa, Amphipoda còn
được coi như là một thông số chỉ thị cho chất lượng môi trường nước, tạo hàm lượng
oxy cao giúp cho các tế bào san hô phát triển, hình thành cấu trúc và đa dạng về hình
dạng của rạn san hô, giúp phục hồi rạn san hô (Bộ Thủy sản, 2003; Aumont and
Bopp, 2006; Chisholm et al., 2001).
Những nghiên cứu về sự đa dạng Amphipoda ở vùng biển Việt Nam nói chung
và vịnh Nha Trang nói riêng còn rất ít. Từ những năm 70 của thế kỷ 20 mới chỉ có
một số công trình như Imbach (1967), Đặng Ngọc Thanh (1968), Murgulis (1968)
công bố 67 loài Amphipoda Gammaridae được xác định ở vùng biển Việt Nam. Kết
quả nghiên cứu bước đầu cho thấy có 2 giống mới và 3 loài mới cho khoa học thuộc
các họ Phoxocephalidae và Melitidae (Đặng Ngọc Thanh, 1968; Imbach, 1967;
Margulis, 1968).
Trong những năm qua, Chi nhánh Ven biển thuộc Trung tâm Nhiệt đới Việt -
Nga đã có nhiều nghiên cứu các đối tượng như tôm, cá, động vật thân mềm, động
vật không xương sống, rạn san hô, các thảm thực vật biển, trứng cá và ấu trùng cá
trong vịnh Nha Trang, đã đưa ra các tuyển tập atlát về cấu trúc, chức năng hệ sinh
thái ven bờ khu vực vịnh Nha Trang. Tuy nhiên đây là lần đầu tiên đề cập đến
nghiên cứu về bộ Amphipoda.
Với mục đích nghiên cứu về thành phần loài thuộc bộ Amphipoda ở vịnh Nha
Trang nhằm hoàn thiện tập atlát về đa dạng thành phần loài sinh vật ven bờ vịnh
Nha Trang, cũng như nghiên cứu vai trò thành phần loài của Amphipoda trong việc
phục hồi các rạn san hô đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng, chúng tôi đã tiến hành
nghiên cứu thành phần các loài thuộc bộ Amphipoda ở khu vực vịnh Nha Trang.
Trong phạm vi nghiên cứu bước đầu của đề tài, bài báo này cung cấp một số dẫn liệu
sơ bộ về thành phần các họ và giống sống ở trong các mẫu nước biển thu tự nhiên và
các giá thể mà Amphipoda sống bám. Kết quả của nghiên cứu này cũng cho thấy bộ
Amphipoda có đặc tính ban ngày chúng sống bám vào các giá thể nhưng ban đêm
chúng có hiện tượng bơi nổi lên mặt nước ở độ sâu từ 0 đến 5 m.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Bộ giáp xác chân khác (Amphipoda).
- Địa điểm thu mẫu: Hòn Mun, Hòn Tre, Hòn Nọc, Hòn Một.
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 01 đến ngày 28 tháng 10 năm 2012.
Thông tin khoa học công nghệ
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 06, 03 - 2014 107
2.1. Thu mẫu và cố định mẫu ở thưc địa
- Phương pháp thu mẫu: Mẫu Amphipoda được thu trực tiếp từ vùng biển vịnh
Nha Trang ở nhiều thời điểm khác nhau trong ngày (ban ngày và ban đêm), với
nhiều địa điểm và sinh cảnh khác nhau. Mẫu sau khi thu được rửa sạch, lọc qua lưới
lọc có mắt lưới 0,5 mm và được bảo quản trong dung dịch xử lý và cố định mẫu.
- Thu mẫu trong nước biển vào ban đêm: Dùng lưới Dzedi neo phía mạn
thuyền, kéo rê ở các độ sâu khác nhau từ 0 - 5 m trong thời gian từ 18 giờ đến 24
giờ, thu 50 lần/chuyến ở các địa điểm.
- Thu mẫu trên các loại giá thể vào ban ngày: Lặn thu mẫu san hô sống, bọt
biển, san hô chết. Các giá thể được đựng trong các hộp nhựa có chứa dụng dịch xử
lý và cố định mẫu.
- Dung dịch xử lý và cố định mẫu: Nước biển và formalin 10% (vì đây là những
sinh vật nhỏ nên sử dụng với nồng độ này mẫu không bị biến dạng, giữ được màu sắc).
2.2. Phương pháp phân loại
Sử dụng các tài liệu phân loại học cơ bản thuộc bộ Amphipoda của các công bố
trước đây (Barnard and Karaman, 1991; Lowry and Hughes, 2009; Gurianova, 1951).
Các mẫu của Amphipoda sau khi phân tích sơ bộ đến họ hoặc giống ở phòng
thí nghiệm tại Chi nhánh Ven biển sẽ được tiếp tục nghiên cứu và phân tích tại Liên
bang Nga để có kết quả chi tiết hơn về sự đa dạng thành phần loài.
Số chuyến thu mẫu: 12 chuyến (4 chuyến thu mẫu trong nước biển vào ban
đêm, 8 chuyến thu mẫu trên các giá thể khác nhau vào ban ngày).
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Đa dạng Amphipoda trong tầng nước biển
Qua phân tích các mẫu thu được trong tầng nước biển, chúng tôi đã xác định được
có 1 đại diện thuộc phân bộ Corophiidea và 9 họ thuộc bộ Amphipoda thể hiện ở bảng 1.
Bảng 1. Thành phần họ thuộc bộ Amphipoda trong nước biển
TT Tên họ Tên giống
1 Synopiidae
2 Megaluropiidae Megaluropus
3 Dexaminidae Paradexamine
4 Stenothoidae Stenothoe
5 Maeridae
6 Photidae Photis
7 Ischyroceridae Ericthonius
8 Phoxocephalidae
9 Podoceridae Podocerus
Thông tin khoa học công nghệ
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 06, 03 - 2014 108
Hình 1. Một số hình ảnh thuộc bộ Amphipoda thu được từ nước biển (A: Đại diện
phân bộ Corophiidea; B: Đại diện họ Podoceridae; C: Đại diện họ Stenothoidae)
Qua dẫn liệu ở bảng 1 chúng tôi nhận thấy, với kết quả phân tích mẫu của 4
chuyến thu mẫu trong tầng nước từ 18 - 24 giờ phát hiện 1 đại diện là phân bộ
Corophiidea và 9 họ. Điều này chứng tỏ thành phần thuộc bộ Amphipoda trong tầng
nước biển khu vực vịnh Nha Trang rất phong phú và đa dạng, có đặc tính sinh học là
vào ban đêm thường bơi lên mặt nước.
3.2. Đa dạng Amphipoda trên một số loại giá thể
3.2.1. Giá thể Bọt biển
Nghiên cứu đa dạng thành phần các họ thuộc bộ Amphipoda trên 4 mẫu bọt
biển khác nhau cũng đã xác định được 9 họ. Kết quả được thống kê ở bảng 2.
Bảng 2. Thành phần các họ thuộc bộ Amphipoda trên bọt biển
TT Tên họ Tên giống
1 Colomastigidae
2 Photidae Photis
3 Aoridae
4 Leucothoidae
5 Maxillipiidae
6 Stenothoidae Stenothoe
7 Caprellidea
8 Isaeidae
9 Melitidae
Kết quả ở bảng 2 cho thấy trong số 9 họ được xác định thì có 2 họ bắt gặp ở
tầng nước biển là Stenothoidae, Photidae; 7 họ phát hiện thêm: Aoridae,
Leucothoidae, Caprellidea, Isaeidae, Melitidae, Maxillipiidae, Colomastigidae.
B CA
Thông tin khoa học công nghệ
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 06, 03 - 2014 109
Bọt biển được xem là một ngành của động vật không xương sống, chúng sống
thành quần thể lớn và có các động vật nhỏ li ti sống ký sinh để làm nơi cư trú (Bhamrah
and Kavita, 2003). Bọt biển thường ăn bằng cách hút nước qua các lỗ chân lông, nó di
chuyển nước qua cơ thể, lọc ra những sinh vật nhỏ li ti để làm thực phẩm (Sharma, 2005).
Với số lượng thành phần phân loại phân tích được trên giá thể bọt biển và đặc
điểm của giá thể bọt biển cho thấy thành phần phân loại của bộ Amphipoda rất đa
dạng và phong phú. Nó cũng là chuỗi thức ăn để nuôi sống quần thể bọt biển, đồng
thời lấy các chất dinh dưỡng trên cơ thể bọt biển để nuôi sống chính nó. Đây có thể
là điều kiện sống, sinh trưởng và phát triển của bộ Amphipoda.
Hình 2. Một số loại bọt biển đã thu mẫu Amphipoda
3.2.2. Giá thể San hô sống
Qua phân tích 8 mẫu san hô chân ngỗng nhỏ (hình 3: A) và 4 mẫu san hô chân
ngỗng lớn (hình 3: B), kết quả cho thấy thành phần họ thuộc bộ Amphipoda khá
phong phú (bảng 3).
Bảng 3. Đa dạng Amphipoda trên giá thể san hô sống
TT Tên họ Tên giống Giá thể
1 Maxillipiidae San hô chân ngỗng nhỏ, lớn
2 Amphilochidae San hô chân ngỗng nhỏ
3 Colomastigidae San hô chân ngỗng nhỏ, lớn
4 Stenothoidae Stenothoe San hô chân ngỗng nhỏ, lớn
5 Ischyroceridae Ericthonius San hô chân ngỗng nhỏ, lớn
6 Dexaminidae Paradexamine San hô chân ngỗng nhỏ
7 Anamixidae San hô chân ngỗng nhỏ, lớn
8 Photidae Photis San hô chân ngỗng nhỏ, lớn
9 Podoceridae Podocerus San hô chân ngổng nhỏ, lớn
Thông tin khoa học công nghệ
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 06, 03 - 2014 110
Kết quả thu được ở bảng 3 cho thấy trong số 8 mẫu san hô chân ngỗng nhỏ và
4 mẫu san hô chân ngỗng lớn của giá thể san hô sống đã có 9 họ, trong đó có 5 họ
bắt gặp ở mẫu thu ở trong tầng nước biển là Stenothoidae, Ischyroceridae,
Dexaminidae, Photidae, Podoceridae; 2 họ bắt gặp ở giá thể bọt biển: Maxillipiidae
và Colomastigidae; 2 họ phát hiện thêm: Amphilochidae và Anamixidae.
Cũng giống như bọt biển, san hô cũng sống theo một quẩn thể lớn (Bhamrah
and Kavita, 2003) và lọc nước biển lấy thức ăn là các sinh vật nhỏ li ti nuôi sống bản
thân vì vậy nó cũng là giá thể của các sinh vật nhỏ li ti làm nơi cư trú (Sharma, 2005).
Điều này cho thấy thành phần các họ của Amphipoda ở trên giá thể san hô
sống ngoài các họ bắt gặp ở trong tầng nước biển và bọt biển thì nó còn đa dạng hơn
về thành phần một số họ trong bộ Amphipoda sinh sống.
3.2.3. Giá thể San hô chết
Khi phân tích sự đa dạng thành phần các họ của Amphipoda trên 18 mẫu san
hô chết (hình 3: C; bảng 4) đã xác định được được 17 họ, trong đó có 6 họ bắt gặp
trùng với mẫu thu ở trong tầng nước biển: Dexaminidae, Ischyroceridae, Maeridae,
Podoceridae, Stenothoidae, Synopiidae; 2 họ bắt gặp ở giá thể san hô sống:
Ampithoidae, Colomastigidae; 4 họ bắt gặp ở giá thể bọt biển: Aoridae, Isaeidae,
Melitidae, Leucothoidae; 5 họ phát hiện thêm: Eusiridae, Iphimediidae, Lysianassidae,
Oedicerotidae, Sebidae.
Bảng 4. Đa dạng thành phần các họ của Amphipoda trên giá thể san hô chết
TT Tên họ Tên giống
1 Synopiidae
2 Dexaminidae Paradexamine
3 Ischyroceridae Ericthonius
4 Maeridae
5 Podoceridae Podocerus
6 Stenothoidae Stenothoe
7 Amphilochidae
8 Colomastigidae
9 Aoridae
10 Leucothoidae
11 Isaeidae
12 Melitidae
13 Eusiridae
14 Iphimediidae
15 Lysianassidae
16 Oedicerotidae
17 Sebidae
Thông tin khoa học công nghệ
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 06, 03 - 2014 111
Ở giá thể san hô chết, số lượng họ của bộ Amphipoda nhiều hơn hẳn so với
trong nước biển và ở giá thể bọt biển, san hô sống. Tuy nhiên, điều này cũng chưa
chứng minh được sự phân bố tập trung của các họ trong bộ Amphipoda trong giá thể
san hô chết, vì số lượng mẫu giá thể san hô chết thu được nhiều gấp 2, 3 lần so với số
lượng mẫu bọt biển và san hô sống. Như vậy, với kết quả nghiên cứu bước đầu đã cho
thấy sự đa dạng về thành phần họ của bộ Amphipoda trong khu vực vịnh Nha Trang.
Hình 3. A: San hô chân ngỗng nhỏ; B: San hô chân ngỗng lớn; C: San hô chết
IV. KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu bước đầu đã cho thấy bộ Amphipoda ở vịnh Nha Trang rất
đa dạng và phong phú về thành phần họ và điều kiện sống.
- Trong các mẫu vật thu được ở các tầng nước biển, các giá thể san hô và bọt
biển ở vịnh Nha Trang trong thời gian từ ngày 01 đến 28 tháng 10 năm 2012 đã xác
định được tổng cộng 25 họ của bộ Amphipoda là: Synopiidae, Megaluropiidae
(giống Megaluropus), Dexaminidae (giống Paradexamine), Stenothoidae (giống
Stenothoe), Maeridae, Photidae (giống Photis), Ischyroceridae (giống Ericthonius),
Phoxocephalidae, Podoceridae (giống Podocerus), Maxillipiidae, Amphilochidae,
Colomastigidae, Anamixidae, Aoridae, Leucothoidae, Caprellidea, Isaeidae,
Melitidae, Maxillipiidae, Eusiridae, Iphimediidae, Lysianassidae, Oedicerotidae,
Sebidae, Dexaminidae. Trong đó phổ biến nhất có 2 họ bắt gặp ở các giá thể là
Colomastigidae và Leucothoidae.
- Các dẫn liệu chứng tỏ rằng thành phần các họ của Amphipoda sống trong
tầng nước biển và các giá thể khác nhau là khác nhau, trên các giá thể có sự đa dạng
thành phần các họ hơn là ở trong tầng nước biển.
- Theo tính chất của quần thể san hô và bọt biển thì bộ Amphipoda cũng đóng
vai trò trong chuỗi thức ăn của nó.
- Để có những dẫn liệu về đa dạng thành phần loài cụ thể hơn, chúng tôi sẽ
tiếp tục nghiên cứu phân tích về hình thái, cấu tạo của các loài thuộc bộ Amphipoda,
vai trò của nó đối với quần thể san hô, bọt biển.
A B C
Thông tin khoa học công nghệ
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 06, 03 - 2014 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Thủy sản, Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản I, Tuyển tập Báo cáo khoa
học về nuôi trồng thủy sản, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, 2003.
2. Đặng Ngọc Thanh, Zoologicheski Jurnal, XL VII, 1968, 2, tr.212-221 (Tiếng Nga).
3. Aumont O., Bopp L., Globalizing results from ocean in situ iron fertilization
studies, 2006.
4. Barnard J. L. and Karaman G. S., Rec. Australian Museum, 1991, l.13(2):419-866.
5. Bhamrah H.S., Kavita J., An Introduction to Porifera. Anmol Publications
PVT. LTD, 2003, 58. ISBN 9788126106752:58.
6. Chisholm S.W., Falkowski P.G., Cullen J.J., Dis-Crediting ocean fertilization,
Science, 2001, 294(5541):309-310.
7. Gurjanova E. F., Bokoplavwi morei CCCP, (Amphipoda Gammaridea), Leningrad
(Bản tiếng Nga), 1951.
8. Imbach M. C., NAGA Report, 1967, 4(1):39-167.
9. Lowry J. K., Hughes L. E., Maeridae, the Elasmopus group, Zootaxa, 2009,
2260, tr.643-700.
10. Margulis RJA, Zoologicchesski Journal, XL VII, 1968, 10, tr.1480-1488,
(Bản tiếng Nga).
11. Sharma N.S., Continuity And Evolution Of Animals, Mittal Publications, 2005,
ISBN 9788182930186:106.
Nhận bài ngày 15 tháng 02 năm 2014
Hoàn thiện ngày 24 tháng 3 năm 2014
Chi nhánh Ven biển, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga
Các file đính kèm theo tài liệu này:
buoc_dau_nghien_cuu_da_dang_sinh_hoc_bo_chan_khac_amphipoda.pdf