KẾT LUẬN
Các loại dịch chiết dƣợc liệu nghiên cứu, ở
các nồng độ khác nhau đều có tác dụng ức chế
nấm S. rolfsii.
Các loại dịch chiết tỏi ở nồng độ 10%, 15% và
20%, dịch chiết thanh hao hoa vàng 15% và
20%, tinh dầu bạc hà 0,5% và 1%, và dịch chiết
long não 20% đều có tác dụng ức chế nấm S.
rolfsii cao và có trƣờng hợp ức chế hoàn toàn
nấm này trên môi trƣờng PDA sau 72 h theo dõi.
Sau đó đến các loại dịch chiết tỏi 5%, thanh hao
hoa vàng 10%, long não 15%. Các dịch chiết từ
cà độc dƣơc và khổ sâm ở các nồng độ nghiên
cứu đều ức chế ít hoặc không ức chế sự phát
triển của tản nấm S. rolfsii.
Các nồng độ đã đƣợc nghiên cứu có tác dụng
tốt trong phòng thí nghiệm sẽ đƣợc tiếp tục thử
nghiệm trong phạm vi nhà lƣới và phòng thí
nghiệm để đánh giá hiệu quả thực tế của các loại
dịch chiết trên.
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Bước đầu nghiên cứu tác dụng ức chế nấm Sclerotium Rolfsii của dịch chiết một số cây dược liệu trong phòng thí nghiệm, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
31
BƢỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG ỨC CHẾ NẤM Sclerotium rolfsii
CỦA DỊCH CHIẾT MỘT SỐ CÂY DƢỢC LIỆU TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM
Preliminary Research into The Effects of Extracts from Some Medicinal Plants
on Sclerotium rolfsii in The Laboratory
Chu Thị M
1
, Đặng Thị Hà
1
, Trần Hữu Khánh Tân
1
, Nguyễn Thị Duyên
1
, Đào Văn Núi
1
,
Nguyễn Văn Hùng
1
, Trần Văn Lộc
2
và Phan Thúy Hiền
1
Ngày nhận bài: 07.9.2018 Ngày chấp nhận: 28.9.2018
Abstract
To test the ability to control Sclerotium rolfsii on PDA media, powdered medicinal materials such as dutara,
garlic, sophora, camphor, and Artermisia annua were collected and extracted using sterile distilled water at room
temperature at different concentration levels of 5%, 10%, 15% and 20%. The effect of peppermint oil was also
tested at varying concentrations of 0.1%, 0.5% and 1%. The results showed that garlic extract at concentration of
10%, 15% and 20%, the A. annua extract at 15% and 20%, peppermint oil at 0.5 and 1%, and extract of camphor
20% completely suppressed the mycelin growth of S. rolfsii on PDA after 72 hours. Additionally, 5% garlic extract,
10% A. annua extract, and 15% camphor extract could control the growth of S. rolfsii. The extracted formulations
of the dutara and sophora at the studied concentrations had no effect on the inhibition of S. rolfsii in the
conditional study.
Keywords: Control Sclerotium rolfsii, extract, medicinal materials.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
*
Hiện nay, áp dụng biện pháp sinh học trong
phòng trừ bệnh hại đang là xu hƣớng đƣợc quan
tâm bởi sự an toàn, hiệu quả, đảm bảo tiêu chí
trong phát triển và trồng dƣợc liệu sạch, thân thiện
với môi trƣờng. Đã có nhiều công trình nghiên cứu
sử dụng dịch chiết thực vật nhƣ hành, tỏi, sả, xoan
Ấn Độ, rau ngải trong phòng trừ bệnh trên cây
trồng, và có hiệu quả cao trong phòng trừ một số
nấm đất và nấm lá nhƣ Rhizoctonia sp., Sclerotium
sp., Sclerotinia sp., Fusarium sp. (Dissanayaka và
Jan Jayasinghe, 2013).
Ở một số nƣớc trên thế giới phòng trừ bệnh
bằng dịch chiết từ thực vật đã bƣớc đầu mang lại
hiệu quả rõ rệt. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng rễ
gừng và lá đu đủ có tác dụng hạn chế sự phát
triển của nấm Ceratocystis sp. gây thối quả
(Dewa và cộng sự (2001). Tinh dầu của 12 cây
thuốc trong đó có húng quế, bạc hà, cúc vạn thọ
có thể ảnh hƣởng đến sự tăng trƣởng và sản
xuất độc tố của nấm Aspergillus flavus, A.
parasiticus (Solimana, 2002). Tinh dầu từ cây
quế, nụ đinh hƣơng có hoạt tính kháng đối với
nấm Botrytis cinerea (Wlisoon, 1997)
1. Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc
Hà Nội - Viện Dƣợc Liệu
2. Trung tâm nghiên cứu nguồn gen và giống dƣợc
liệu - Viện Dƣợc Liệu
Nấm Sclerotium rolfsii là một loài nấm đa thực
có nguồn gốc trong đất. Nấm này đƣợc biết đến
nhƣ là một trong những tác nhân gây mất mùa
trong nhiều thế kỉ. Cho đến nay đã có hơn 2000
báo cáo xác nhận sự xuất hiện và gây hại của
nấm Sclerotium rolfsii trên toàn thế giới. Dịch chiết
có nguồn gốc thực vật cũng đã đƣợc các nƣớc
trên thế giới nghiên cứu trong phòng trừ nấm S.
rolfsii. Hai loại dầu đinh hƣơng và bạc hà ở nồng
độ 50 ppm hoàn toàn ức chế sự tăng trƣởng của
S. rolfsii trong ống nghiệm.Trong tinh dầu của đinh
hƣơng (Syzygium aromaticum) có các hợp chất
nhƣ kháng sinh (eugenol, eugenol acetate, iso-
eugenol và caryophyllene). Các hợp chất này ức
chế tất cả các quá trình trao đổi chất của nấm gây
bệnh. Trong bạc hà có chứa :tinh dầu bạc hà,
menthone, 1,8- cineole, methyl acetate, furan
metho, isomenthone, limonene, b-pinen, một-
pinen, germacrene-d, trans, sabinene hydrate và
pulegone. Các chất này ức chế sự sinh trƣởng
của nấm S. rolfsii. Cũng theo một nghiên cứu
khác nấm S. rolfsii có thể bị kiểm soát bởi các hợp
chất kháng nấm tự nhiên có trong chiết xuất từ
quả của cà độc dƣợc ở các nồng độ 0,5; 1,0;
1,5;.., 4%. (Jabeen và cộng sự, 2009). Nghiên
cứu cho thấy chiết xuất từ trái cây thì là, hạt cỏ cà
ri, hạt đậu nành, lá cây lục bình có hiệu quả chống
lại Rhizoctonia solani, Sclerotium rolfsii, Fusarium
moniliforme và Macrophomina phaseolina trên cây
bông (Ismaild và Ahmed, 2000)
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
32
Ở Việt Nam Nấm Sclerotium rolfsii là nấm có
phổ ký chủ rộng, có khả năng lây nhiễm trên
500 loài cây ký chủ thuộc lớp một lá mầm và hai
lá mầm, đặc biệt là trên các cây thuộc họ đậu
đỗ, bầu bí, cà và một số loài rau trồng luân canh
với cây họ đậu. Bên cạnh đó, những năm gần
đây theo điều tra của Trung tâm nghiên cứu
trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội, nấm S.
rolfsii gây hại trên một số cây thuốc sinh địa,
cúc hoa, mã đề, gấc, nghệ... đặc biệt là trên cây
sinh địa điều tra tại Bắc Giang năm 2014 cho
thấy tỷ lệ bệnh có thể lên đến 50% (Ngô Quốc
Luật và cs, 2005). Trong khi đó những nghiên
cứu về ứng dụng dich chiết thảo mộc trong
phòng trừ nấm bệnh trên cây dƣợc liệu chƣa
đƣợc quan tâm nghiên cứu.
Bài báo này công bố kết quả khảo sát bƣớc
đầu tác dụng của dịch chiết từ một số cây dƣợc
liệu trong phòng trừ nấm Sclerotium rolfsii gây
bệnh héo rũ gốc mốc trắng địa hoàng
2. VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu, thời gian, địa điểm nghiên cứu
Lá tƣơi các loài cây dƣợc liệu cà độc dƣợc,
thanh hao hoa vàng, khổ sâm, long não, tỏi, bạc
hà đã đƣợc thu thập tại các vùng trồng dƣợc liệu
ở Hà Nội, Vĩnh Phúc năm 2016 đƣợc rửa sạch
dƣới vòi nƣớc sau đó rửa bằng nƣớc cất vô
trùng 2, 3 lần và đƣợc phơi khô dƣới bóng râm.
Cuối cùng nguyên liệu đƣợc nghiền nhỏ thành
dạng bột mịn để tạo dịch chiết.
Tất cả các thí nghiệm đƣợc thực hiện năm
2016 – 2017 tại phòng thí nghiệm bệnh cây -
Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây
thuốc Hà Nội, Viện Dƣợc liệu.
2.2 Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp chuẩn bị dịch chiết từ b t dược liệu.
Sử dụng bột lá dƣợc liệu đã thu thập đối với
từng loại lá pha với nƣớc cất vô trùng ở điều kiện
nhiệt độ phòng để tạo các loại dịch chiết với các
nồng độ 5% (5 gram bột lá dƣợc liệu / 100 ml
nƣớc), 10% (10 g bột lá dƣợc liệu/ 100 ml), 15%
(15g bột lá dƣợc liệu/ 100ml) và 20% (20 g bột lá
dƣợc liệu/ 100ml). Lọc lấy phần nƣớc bằng vải
lọc 2 lớp sau đó lọc bằng giấy lọc thu đƣợc dịch
chiết thô. Dịch chiết đƣợc bảo quản ở nhiệt độ
4
o
C. Hoặc tạo dung dịch mẹ với 100g bột lá
dƣợc liệu/100ml. Lọc lấy phần nƣớc bằng vải lọc
2 lớp sau đó lọc bằng giấy lọc thu đƣợc dịch
chiết thô. Sau đó pha loãng dịch chiết với nƣớc
cất - Pha loãng dịch chiết mỗi loại với nƣớc cất
để thu đƣợc dịch chiết 5%, 10%, 15%, 20% bằng
cách lấy tƣơng ứng 5ml, 10ml, 15 ml và 20ml
dịch chiết + 95 ml, 90 ml, 85ml và 80ml nƣớc để
thu đƣợc nồng độ mong muốn. (Jalender và
cộng sự, 2012)
Phương pháp chuẩn bị dịch chiết từ dược liệu
tươi (đối với tỏi)
- Lấy 100g tỏi đã đƣợc làm sạch nghiền nát
và ngâm trong 100ml nƣớc tinh khiết. Lọc lấy
phần nƣớc bằng vải lọc 2 lớp sau đó lọc bằng
giấy lọc thu đƣợc dịch chiết thô. Dịch chiết
đƣợc bảo quản ở nhiệt độ 4
o
C (Jalender và
cộng sự, 2012).
- Pha loãng dịch chiết mỗi loại với nƣớc cất
để thu đƣợc dịch chiết 5 %, 10%, 15%, 20%
bằng cách lấy tƣơng ứng 5ml, 10ml, 15 ml và
20ml dịch chiết tỏi + 95 ml, 90 ml, 85ml và 80ml
nƣớc để thu đƣợc nồng độ mong muốn.
Phương pháp chuẩn bị nguồn nấm Sclerotium rolfsii.
Nguồn nấm S. rolfsii gây bệnh héo rũ gốc
mốc trắng đƣợc phân lập từ mẫu bệnh cây địa
hoàng đƣợc thu thập tại Dĩnh Trì, Bắc Giang
năm 2016. Sau đó đƣợc làm thuần và nuôi cấy
trên môi trƣờng PDA.
Phương pháp nghiên cứu ác định loại dịch
chiết dược liệu và nồng đ dịch chiết dược liệu
có khả năng ức chế nấm S.rolfsii.
Phƣơng pháp đƣợc tiến hành trong phòng thí
nghiệm qua thử nghiệm khả năng ức chế của
dịch chiết dƣợc liệu với nấm S. rolfsii trên môi
trƣờng PDA có bổ sung streptomycin sunphat và
neuomycin sunphat để ức chế sự phát triển của
vi khuẩn trên môi trƣờng nuôi cấy, sau đó định
lƣợng từng loại dịch chiết đã đƣợc vô trùng
(bằng phƣơng pháp ly tâm) theo từng nồng độ
bổ sung vào môi trƣờng nuôi cấy và môi trƣờng
không bổ sung dịch chiết để làm đối chứng. (lấy
5ml, 10ml, 15 ml và 20ml dịch chiết + 95 ml, 90
ml, 85ml và 80ml môi trƣờng sau khi hấp khử
trùng để thu đƣợc nồng độ mong muốn)
Cấy miếng thạch chứa sợi nấm S. rolfsii đã
đƣợc làm thuần với đƣờng kính 5mm lên giữa
đĩa môi trƣờng. Đặt đĩa nuôi cấy trong môi
trƣờng có nhiệt độ 25
o
C và theo dõi sự phát triển
của tản nấm thông qua đƣờng kính tản nấm và
số lƣợng hạch nấm đƣợc hình thành sau 25
ngày. Thí nghiệm đƣợc thực hiện 3 lần nhắc lại,
mỗi lần nhắc lại 3 đĩa (Burgess, 2008).
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thu thập một số dƣợc liệu có tác dụng
phòng trừ nấm bệnh trong bảo vệ thực vật
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
33
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã thu
thập đƣợc các dƣợc liệu cà độc dƣợc, tỏi, bạc
hà, khổ sâm, long não, thanh hao hoa vàng. Các
loại dƣợc liệu này đều đƣợc chiết bằng phƣơng
pháp chiết nguội sử dụng nƣớc cất. Thành phần
hoạt chất chính của các dƣợc liệu này đƣợc thể
hiện ở bảng 1.
Bảng 1. Dƣợc liệu có tác dụng phòng trừ nấm bệnh đƣợc thu thập
STT Cây dƣợc liệu sử dụng Tên khoa học Hoạt chất chính Bộ phận sử dụng
1 Cà độc dƣợc Datura metel L.
Alcaloid, scopolamine,
hyoscyamin, atropine,
norhyoscyamin
Lá, quả
2 Khổ sâm
Croton tonkinensis
Gagnep
Flavonoid, alcaloit và tannin Lá
3 Long não
Cinnamomum
camphora (L.) Sieb.
Tinh dầu gồm những thành phần
d-camphor,α pinen, cineol, safrol,
campherenol
Lá
4 Thanh hao hoa vàng Artemisia annua L.
Ancaloit, tinh dầu cam pho
(23,75%),
Lá
5 Tỏi Allium sativum L.
Chứa hợp chất lƣu huỳnh và chất
kháng sinh allicin
Củ
6 Bạc Hà Mentha arvensis L. Tinh dầu Bạc hà Menthol Toàn thân, lá
3.2 Ảnh hƣởng của dịch chiết thanh hao
hoa vàng đến sự phát triển của tản nấm
S. rolfsii
Ảnh hƣởng của dịch chiết thanh hao hoa
vàng ở các nồng động 5%, 10%, 15%, 20% đến
sự phát triển của tản nấm S.rolfsii trên môi PDA
sau 24 h đến 72h đƣợc thể hiện qua bảng 3.2 và
hình 1.
Bảng 2. Ảnh hƣởng của dịch chiết thanh hao hoa vàng đến sự phát triển
của tản nấm S. rolfsii trên môi trƣờng PDA
(Trung t m nghiên cứu trồng và chế biến c y thuốc Hà N i, tháng 9 năm 2016)
Công thức
Đƣờng kính tản nấm (mm)
24h 48h 72h
Đối chứng 21,37 44,36 88,63
THHV 5% 8,36 21,35 74,33
THHV 10% 6,53 18,4 37,36
THHV15% 5,31 15,65 33,59
THHV 20% 0 0 0
CV 0,4 0,3 0,2
LSD0,05 0,06 0,12 0,15
THHV: dịch chiết thanh hao hoa vàng
Hình 1. Ảnh hƣởng của dịch chiết thanh hao hoa vàng đến sự phát triển của nấm S.rolfsii trên
môi trƣờng PDA sau 24h: a: đối chứng, b: môi trƣờng thanh hao hoa vàng 5%; c: Môi trƣờng
thanh hao hoa vàng 15%; d: môi trƣờng thanh hao hoa vàng 20%
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
34
Qua bảng số liệu và hình ảnh trên cho thấy
dịch chiết thanh hao hoa vàng khi chiết bằng
nƣớc cất ở cả 4 nồng độ 5%, 10%, 15% và 20%
đều có tác dụng ức chế nấm S.rolfsii trên môi
trƣờng PDA, ở ngay sau 24 h cấy nấm so với đối
chứng, đƣờng kính tản nấm tƣơng ứng là 8,56
mm, 6,53 mm, 5,31 mm và 0 mm, ở công thức đối
chứng là 21,37 mm. Sau 72 h theo dõi dịch chiết
thanh hao ở các nồng độ 10%, 15%, và 20% vẫn
có tác dụng ức chế nấm S. rolfsii cụ thể với bán
kính của tản nấm ở các nồng độ này lần lƣợt là
37,36 mm, 33,59 mm và 0 mm trong khi ở các
công thức đối chứng và dịch chiết thanh hao hoa
vàng nồng độ 5% tản nấm đã mọc gần kín đĩa
Nhƣ vậy dịch chiết thanh hao hoa vàng ở các
nồng độ 10%, 15%, 20% có tác dụng ức chế nấm
S.rolfsii sau 72 h nuôi cấy so với đối chứng, đặc
biệt dịch chiết từ lá thanh hao hoa vàng ở nồng độ
20% có tác dụng ức chế hoàn toàn sự phát triển
của tản nấm S.rolfsii sau 72 giờ theo dõi.
3.3. Ảnh hƣởng của dịch chiết khổ sâm
đến sự phát triển của tản nấm S. rolfsii.
Dịch chiết từ lá khổ sâm ở các nồng độ 5%,
10%, 15% và 20% đã đƣợc thử đánh giá khả
năng ức chế sự phát triển của nấm S. rolfsii. Ảnh
hƣởng của dịch chiết lá khổ sâm đến sự phát
triển của tản nấm S. rolfsii trên môi PDA đƣợc
thể hiện qua bảng 3 và hình 2.
Bảng 3. Ảnh hƣởng của dịch chiết khổ sâm đến sự phát triển của tản nấm S.rolfsii
trên môi trƣờng PDA
(Trung t m nghiên cứu trồng và chế biến c y thuốc Hà N i, tháng 10 năm 2016)
Công thức
Đƣờng kính tản nấm (mm)
24h 48h 72h
Đối chứng 21,37 44,36 88,63
KS 5% 21,79 52,2 89,8
KS 10% 13,3 40,3 75,26
KS 15% 10,4 37,4 72,35
KS 20% 7,0
2,15 66,41
CV 0,4 0,2 0,1
LSD0,05 0,09 0,12 0,94
Ghi chú: KS: dịch chiết lá khổ s m
Hình 2. Ảnh hƣởng của dịch chiết khổ sâm đến sự phát triển của nấm S.rolfsii trên môi trƣờng
PDA sau 72h: a: đối chứng, b: môi trƣờng khổ sâm 5%; c: Môi trƣờng khổ sâm 15%;
d: môi trƣờng khổ sâm 20%
Qua bảng số liệu 3 và hình ảnh cho thấy môi
trƣờng có bổ sung dịch chiết lá khổ sâm ở các
nồng độ 5%, 10%, 15%, 20% nhìn chung ít có
tác dụng ức chế sự phát triển của tản nấm S.
rolfsii trên môi trƣờng PDA. Sau 72h nuôi cấy
đƣờng kính tản nấm tƣơng ứng lá 89,8 mm,
72,26 mm 72,35mm và 66,41 mm nhƣng ở nồng
độ 15% và 20% tản nấm bắt đầu phát triển bất
thƣờng so với đối chứng, tản nấm mọc dày hơn
và bông xốp hơn (hình 2 c, d)
3.4 Ảnh hƣởng của dịch chiết long não
đến sự phát triển của tản nấm S.rolfsii
Ảnh hƣởng của dịch chiết long não ở các
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
35
nồng độ 5%, 10%, 15% và 20% đến sự phát
triển của tản nấm S. rolfsii trên môi PDA theo
dõi qua 72 h đƣợc thể hiện qua bảng 3.4 và
hình 3.
Bảng 3. Ảnh hƣởng của dịch chiết long não đến sự phát triển của tản nấm S.rolfsii
trên môi trƣờng PDA
(Trung t m nghiên cứu trồng và chế biến c y thuốc Hà N i, tháng 11 năm 2016)
Công thức
Đƣờng kính tản nấm (mm)
24h 48h 72h
Đối chứng 21,38 44,36 88,64
LN 5%
0,62 42,59 84,56
LN 10% 6,4 28,5 49,3
LN 15% 4,02 25,6 45,14
LN 20% 3,37 17,54 35,27
CV 0,3 0,4 0,2
LSD0,05 0,08 0,20 0,89
Ghi chú: LN: dịch chiết long não
Hình 3. Ảnh hƣởng của dịch chiết long não đến sự phát triển của nấm S.rolfsii trên môi trƣờng
PDA sau 72h: a: đối chứng, b: môi trƣờng 5%; c: Môi trƣờng 15%; d: môi trƣờng 20%
Qua bảng số liệu và hình ảnh trên cho thấy
cả 4 loại nồng độ dịch chiết long não 5%, 10%,
15% và 20% khi bổ sung vào môi trƣờng PDA
đều có tác dụng ức chế sự phát triển của tản
nấm S.rolfsii nhƣng ở nồng độ 10%, 15% và
20% có tác dụng ức chế nấm này tốt hơn, làm
đƣờng kính tản nấm giảm đi 50% so với công
thức đối chứng (đƣờng kính tản nấm lần lƣợt
là 49,3 mm, 45,14 mm và 35,27 mm). Trong khi
đó đƣờng kính tản nấm ở công thức môi
trƣờng không bổ sung dịch chiết long não và
bổ sung nồng độ 5% có đƣờng kính tản nấm
trên 84mm.
Nhƣ vậy dịch chiết nong lão nồng độ 20% có
tác dụng ức chế nấm nấm S. rolfsii sau đó đến
nồng độ 15% và 10%. Dịch chiết long não nồng
độ 5% không có tác dụng ức chế nấm S. rolfsii
3.5 Ảnh hƣởng của dịch chiết cà độc dƣợc
đến sự phát triển của tản nấm S. rolfsii.
Dịch chiết từ cà độc dƣợc đã đƣợc nghiên
cứu nhiều trên thế giới và có tác dụng trong
phòng trừ nấm bệnh hại cây trồng khi chiết dịch
chiết từ lá và quả. Do vậy, chúng tôi cũng đánh
giá ảnh hƣởng của các bộ phận lá và quả cà độc
dƣợc dùng làm dịch chiết đến khả năng ức chế
nấm S.rolfsii.
a. Ảnh hưởng của dịch chiết từ lá cà đ c dược
đến sự phát triển của tản nấm S.vrolfsii
Dịch chiết từ lá cà độc dƣợc ở các nồng độ
5%, 10%, 15% và 20% đã đƣợc đánh giá khả
năng ức chế sự phát triển của nấm S. rolfsii.
Ảnh hƣởng của dịch chiết lá cà độc dƣợc đến sự
phát triển của tản nấm S. rolfsii trên môi PDA
đƣợc thể hiện qua bảng 5 và hình 4.
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
36
Bảng 4. Ảnh hƣởng của lá cà độc dƣợc đến sự phát triển của tản nấm S. rolfsii
trên môi trƣờng PDA
(Trung t m nghiên cứu trồng và chế biến c y thuốc Hà N i, tháng 11 năm 2016)
Công thức
Đƣờng kính tản nấm (mm)
24h 48h 72h
Đối chứng 21,37 a 44,36 88,63
LCĐD 5% 21,35 a 51,75 89,51
LCĐD 10% 13,2 b 40,26 73,26
LCĐD 15% 11,2 c 37,15 70,17
LCĐD 20% 7,8 d 31,11 51,8
CV (%) 0,4 0,2 0,1
LSD0,05 0,12 0,12 0,13
Ghi chú: LCĐD: Dịch chiết từ lá cà đ c dược.
Hình 4. Ảnh hƣởng của dịch chiết lá cà độc dƣợc đến sự phát triển của nấm S.rolfsii trên môi
trƣờng PDA sau 72h: a: đối chứng, b: môi trƣờng 5%; c: Môi trƣờng 15%; d: môi trƣờng 20%
Qua bảng 4.5 và các hình ảnh cho thấy dịch
chiết lá cà độc dƣợc ở 3 nồng độ nghiên cứu là
5%, 10%, 15% đều có tác dụng ức chế nấm S.
rolfsii kém với đƣờng kính tản nấm sau 72 h lần
lƣợt là 89,51 mm, 73,26 mm và 70,17 mm. Dịch
chiết 20% khi bổ sung vào môi trƣờng PDA làm
giảm sự phát triển của đƣờng kính tản nấm 50%
so với đối chứng sau 72h theo dõi. Tuy nhiên sự
ức chế này không phải quá cao để có thể ứng
dụng ngoài đồng ruộng. Do đó, dịch chiết từ lá
của cà độc dƣợc bằng phƣơng pháp chiết nguội
chƣa cho hiệu quả ức chế nấm S.rolfsii cao.
b. Ảnh hưởng của dịch chiết từ quả cà đ c
dược đến sự phát triển của tản nấm S.rolfsii.
Dịch chiết từ quả cà độc dƣợc ở các nồng độ
5%, 10%, 15% và 20% đã đƣợc đánh giá khả
năng ức chế sự phát triển của nấm S. rolfsi trên
môi trƣờng PDA. Sự phát triển của tản nấm cũng
đƣợc đánh giá qua 72 h. Kết quả thử nghiệm
đƣợc thể hiện tại bảng 6 và hình 5.
Bảng 5. Ảnh hƣởng của quả cà độc dƣợc đến sự phát triển của tản nấm S.rolfsii
trên môi trƣờng PDA
(Trung t m nghiên cứu trồng và chế biến c y thuốc Hà N i, tháng 11 năm 2016)
Công thức Đƣờng kính tản nấm (mm)
24h 48h 72h
Đối chứng 21,37 44,36 88,63
QCĐD 5% 19.23 55,3 88,36
QCĐD10% 14,26 42
4 78,4
QCĐD 15% 11,46 36,40 74,71
QCĐD 20% 7,77 22,06 42,8
CV (%) 0,5 0,2 0,1
LSD0,05 0,13 0,13 0,11
Ghi chú: QDĐD: Dịch chiết từ quả cà đ c dược.
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
37
Hình 5. Ảnh hƣởng của dịch chiết quả cà độc dƣợc đến sự phát triển của nấm S. rolfsii trên
môi trƣờng PDA sau 72h: a: đối chứng, b: môi trƣờng 15%; c: môi trƣờng 20%
Qua bảng 6 và hình 5 cho thấy cũng giống
nhƣ dịch chiết lá cà độc dƣợc dịch chiết quả cà
độc dƣợc ở các nồng độ nghiên cứu cũng ít
ảnh hƣởng đến sự phát triển của tản nấm
S.rolfsii . Sau 72 h nuôi cấy đƣờng kính tản
nấm S.rolfsii trên môi trƣờng có bổ sung dịch
chiết cà độc dƣợc nồng độ 5%, 10%, 15% có
đƣờng kính tƣơng ứng lá 88,36 mm, 74,8 mm,
74,71 mm; đƣờng kính này gần bằng với
đƣờng kính của tản nấm ở công thức đối
chứng (88,63mm). Riêng ở nồng độ 20% có
tác dụng ức chế sự phát triển của tản nấm
(42,8mm).
3.6 Ảnh hƣởng của dịch chiết tỏi đến sự
phát triển của tản nấm S. rolfsii
Ảnh hƣởng của dịch chiết tỏi đến sự phát
triển của tản nấm S. rolfsii trên môi PDA đƣợc
thể hiện qua bảng 7 và hình 6.
Bảng 6. Ảnh hƣởng của dịch chiết tỏi đến sự phát triển của tản nấm S. rolfsii
trên môi trƣờng PDA
(Trung t m nghiên cứu trồng và chế biến c y thuốc Hà N i, tháng 01 năm 2017)
Công thức
Đƣờng kính tản nấm (mm)
24h 48h 72h
Đối chứng 21,3 44,36 88,63
Tỏi 5% 0 20,4 38,8
Tỏi 10% 0 0 0
Tỏi 15% 0 0 0
Tỏi 20% 0 0 0
CV (%) 0.8 0,3 0,2
LSD0,05 0,68 0,84 0,86
Hình 6. Ảnh hƣởng của dịch chiết tỏi đến sự phát triển của nấm S. rolfsii trên môi trƣờng PDA
sau 72h: a: đối chứng, b: môi trƣờng 5%; c: Môi trƣờng 15%; d: môi trƣờng 20%
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
38
Dịch chiết tỏi có tác dụng ức chế mạnh sự
phát triển của tản nấm S. rolfsii. Ngay ở nồng
độ 5% đã ức chế sự phát triển của tản nấm
hơn 50% so với đối chứng và ở nồng độ 10%,
15% và 20% ức chế hoàn toàn sự phát triển
của tản nấm sau 72 h nuôi cấy.
3.8 Ảnh hƣởng của tinh dầu bạc hà đến sự
phát triển của tản nấm S. rolfsii
Ảnh hƣởng tinh dầu bạc hà ở các nồng độ 0,1
%; 0,5% và 1% đã đƣợc dùng để nghiên cứu sự
ức chế của bạc hà đến sự sinh trƣởng của nấm
S.rolfsii trên môi trƣờng PDA. Đƣờng kính tản
nấm cũng đƣợc ghi nhận sau 72 h theo dõi. Kết
quả thể hiện tại bảng 8 và hình 7.
Bảng 8. Ảnh hƣởng của dịch chiết tỏi đến sự phát triển của tản nấm S. rolfsii
trên môi trƣờng PDA
(Trung t m nghiên cứu trồng và chế biến c y thuốc Hà N i, tháng 02 năm 2017)
Công thức Đƣờng kính tản nấm (mm)
24h 48h 72h
Đối chứng 21,37 44,36 88,63
BH 0,1% 0 20,3 38,73
BH 0,5% 0 0 0
BH 1% 0 0 0
CV (%) 1,1 0,3 0,1
LSD0,05 0,11 0,08 0,07
Ghi chú: BH: tinh dầu bạc hà
Hình 7. Ảnh hƣởng của tinh dầu bạc hà đến sự phát triển của nấm S. rolfsii trên môi trƣờng
PDA sau 72h: a: đối chứng, b: môi trƣờng 0,1%; c: Môi trƣờng 0,5%; d: môi trƣờng 1%
Tinh dầu bạc hà có tác dụng ức chế tốt sự phát
triển của tản nấm S. rolfsii trên môi trƣờng PDA sau
72h nuôi cấy. Ngay ở nồng độ 0,1% sau 72 h nuôi
cấy đƣờng kính tản nấm S. rolfsii là 38,7 mm trong
khi đƣờng kính tản nấm ở công thức đối chứng là
88,63 mm, còn ở nồng độ 0,5% và 1% đều ức chế
hoàn toàn sự phát triển của tản nấm này
4. KẾT LUẬN
Các loại dịch chiết dƣợc liệu nghiên cứu, ở
các nồng độ khác nhau đều có tác dụng ức chế
nấm S. rolfsii.
Các loại dịch chiết tỏi ở nồng độ 10%, 15% và
20%, dịch chiết thanh hao hoa vàng 15% và
20%, tinh dầu bạc hà 0,5% và 1%, và dịch chiết
long não 20% đều có tác dụng ức chế nấm S.
rolfsii cao và có trƣờng hợp ức chế hoàn toàn
nấm này trên môi trƣờng PDA sau 72 h theo dõi.
Sau đó đến các loại dịch chiết tỏi 5%, thanh hao
hoa vàng 10%, long não 15%. Các dịch chiết từ
cà độc dƣơc và khổ sâm ở các nồng độ nghiên
cứu đều ức chế ít hoặc không ức chế sự phát
triển của tản nấm S. rolfsii.
Các nồng độ đã đƣợc nghiên cứu có tác dụng
tốt trong phòng thí nghiệm sẽ đƣợc tiếp tục thử
nghiệm trong phạm vi nhà lƣới và phòng thí
nghiệm để đánh giá hiệu quả thực tế của các loại
dịch chiết trên.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ngô Quốc Luật và cộng sự, 2005. Nghiên cứu
biện pháp phòng trừ s u bệnh trên m t số c y thuốc
Kết quả nghiên cứu Khoa học BVTV - Số 6/2018
39
quan trọng. Báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học đề
tài cấp bộ Y tế.
2. Burgess L. W., Knight T. E., Tesoriero L. and
Phan H. T., 2008. Diagnostic manual for plant
diseases in Vietnam, ACIAR Monograph, 210. ACIAR:
Canberra, 129.
3. Dewa Ngurah Suprapta and Khamdan Khalimi,
2009. Efficacy of plant plant extract formulation to
suppress stem rot disease on vanilla seedlings, J.
Issaas vol. 15, 2:34-41
4. Dissanayake, M L M C and J A N Jayasinghe,
2013. Antifungal activity of selected medicinal plant
extracts against plant pathogenic fungi; Rhizoctonia
solani, Colletotrichum musea and Fusarium
oxysporum. Int. J. Sci. Inven. Today, 2(5):421-431
5. K.M. Solimana, R.I. Badeaab, 2002. Effect of oil
extracted from some medicinal plants on different
mycotoxigenic fungi, Food and Chemical Toxicology,
40: 1669–1675.
6. Nadia Jabeen, Arshad Javaid, Ejaz Ahmed,
Ahsan Sharif, 2014. Managment of casual organism of
collar rot of bell pepper (sclerotium rolfsii) by organic
solvents ectracts of datura metel fruit, Park. J.
Phytopathol., Vol. 26 (01). 15-20.
7. Ismail, A.A., and Ahmed, F.A., 2000. Antifungal
activites of some plant extracts on damping- off and
root- rot diseases of cotton seedlings. J. Agri. Res.
Tanta Univ., 26 (4): 728- 738.
8. V. Jalander và BD. Gachande, 2012, "effect of
aqueous leaf extract of datura sp. against two plant
pathogenic fungi", International journal of food, agriculture
and veterinary sciences, vol 2 (3), pp 131 – 134
9. Wilson, C. L., Solar, J. M., El Ghaouth, A., and
Wisniewski, M. E., 1997. Rapid evaluation of plant
extracts and essential oils for antifungal activity against
Botrytis cinerea. Plant Dis. 81:204-210.
Phản biện: TS. Nguyễn Thị Nhung
XÁC ĐỊNH TÁC NHÂN GÂY BỆNH LEM LÉP HẠT LÚA TRÊN ĐỒNG RUỘNG
TẠI THỪA THIÊN HUẾ
Identify the Cause of Grain Discoloration Disease on Rice
in Thua Thien Hue Province
Cái Văn Thám
1
, Huỳnh Thị Tâm Thúy
1
, Lê Minh Trí
1
và Hà Minh Thanh
2
Ngày nhận bài: 20.8.2018 Ngày chấp nhận: 30.11.2018
Abstract
Identification of pathogens caused grain discoloration disease was carried out in 2017 at laboratories of
Cultivation and Plant Protection Sub-departement of Thua Thien Hue and Plant Protection Research Institute.
Samples were collected in the delta (Huong Tra, Huong Thuy and Phu Vang districts), the lagoon areas (Phu Loc,
Phong Dien and Quang Dien dist.) in the Winter-spring crop 2016-2017 and Summer-autumn crop 2017.
Microorganisms were diagnosed and identified basing on classified key of Barnett and Hunter (1973); Agrawal et
al., (1989); Mew and Misra, (1994); Miguel and Richard (2006). Harmful spider was viewed under microscope.
The results showed that five fungal species were found to be the cause of grain discoloration such as Fusarium
sp., Alternaria sp., Curvularia spp., Bipolaris oryzae and Sarocladium oryzae.
Keywords: grain discoloration disease, pathogens.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
*
Bệnh lem lép hạt lúa là một trong những bệnh
gây hại quan trọng ở các nƣớc trồng lúa trên thế
giới (Ou, 1985). Từ năm 1991- 1995, Nguyễn
Văn Tuất và ctv. đã nghiên cứu bệnh biến màu
hạt lúa và xác định nguyên nhân bao gồm 2
1. Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Thừa Thiên Huế
2. Viện Bảo vệ thực vật
nhóm gây bệnh chính là vi khuẩn gây thối đen
hạt (Bukholderia glumae) và nấm gây đen lép hạt
(Bipolaris oryzae, Curvularia sp., Fusarium sp.,
Alternaria sp., Cecospora oryzae, Pyricularia
grisea, Rhizoctonia solani). Hai loại nấm
Bipolaris oryzae và Curvularia lunata gây hiện
tƣợng đốm nâu và xám đen hạt lúa, gây lép, làm
giảm phẩm chất gạo. Bệnh do nấm có thể phát
sinh và gây hại ở tất cả các thời vụ gieo cấy trên
Các file đính kèm theo tài liệu này:
buoc_dau_nghien_cuu_tac_dung_uc_che_nam_sclerotium_rolfsii_c.pdf