KẾT LUẬN
Quá trình điều tra, nghiên cứu về tính đa
dạng các loài lan và đặc điểm phân bố, sinh
thái học của các loài lan quý hiếm tại Khu
BTTN Xuân Liên, chúng tôi rút ra một số kết
luận như sau:
- Kết quả điều tra, nghiên cứu đã thống kê
được 85 loài lan, thuộc 38 chi phân bố tại Khu
bảo tồn. Nghiên cứu đã bổ sung cho KBTTN
03 loài trước đây chưa từng được ghi nhận, đó
là: Liparis pumila Aver., Liparis filiformis
Aver., Eria calcicola Aver.
- Hiện có 02 loài lan quý hiếm là lan Hài
lông (Paphiopedilum hirsutissimum (Lindl. ex
Hook.) Stein.), Kim tuyến trung bộ
(Anoectochilus annamensis Aver.). Trong đó
cả 02 loài đều thuộc nhóm IA, Nghị định
32/2006/NĐ-CP; Sách đỏ Việt Nam 2007, 01
loài cấp VU. - Kết quả nghiên cứu cho thấy loài lan Hài
lông có phạm vi phân bố hẹp và phân bố ở độ
cao 800 m trở lên, loài Kim tuyến trung bộ có
phạm vi phân bố rộng, nhiều trạng thái rừng và
ở nhiều nhiều độ cao khác nhau từ 300 –
1000m. Xây dựng được bản đồ phân bố cho 02
loài này phục vụ công tác quản lý, giám sát.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 9 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Các loài lan quý hiếm tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, Thanh Hóa, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Công nghệ sinh học & Giống cây trồng
3TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3-2015
CÁC LOÀI LAN QUÝ HIẾM TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
XUÂN LIÊN, THANH HÓA
Nguyễn Đức Thắng1, Vũ Quang Nam2
1ThS. Khu BTTN Xuân Liên, Thanh Hóa
2TS. Trường Đại học Lâm nghiệp
TÓM TẮT
Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu đánh giá tính đa dạng của các loài lan (Orchidaceae) và đặc điểm phân bố,
sinh thái học các loài lan quý hiếm tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên bằng cách áp dụng các phương pháp
điều tra truyền thống và công nghệ GPS, phần mền Mapinfo. Kết quả nghiên cứu đã xác định được 85 loài lan,
thuộc 38 chi phân bố tại Khu bảo tồn, trong đó có 03 loài trước đây chưa từng được ghi nhận, đó là: Liparis
pumila Aver., Liparis filiformis Aver., Eria calcicola Aver. Nghiên cứu đã ghi nhận được 02 loài quý hiếm
thuộc nhóm IA, Nghị định 32/2006/NĐ-CP và Sách Đỏ Việt Nam (2007), đó là Lan Hài lông (Paphiopedilum
hirsutissimum (Lindl. ex Hook.) Stein.) và Kim tuyến trung bộ (Anoectochilus annamensis Aver.). Lan Hài
lông có phạm vi phân bố hẹp và phân bố ở độ cao 800 m trở lên, loài Kim tuyến trung bộ có phạm vi phân bố
rộng, nhiều trạng thái rừng và ở nhiều độ cao khác nhau từ 300 – 1000 m. Bản đồ phân bố cho 02 loài này cũng
được thiết lập nhằm phục vụ công tác quản lý, giám sát và bảo tồn.
Từ khóa: Loài mới, phân bố, sinh thái, tính đa dạng, Xuân Liên.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên nằm
trên khu vực chuyển tiếp của 2 vùng sinh thái
Tây Bắc và Bắc Trung bộ, do đó có tính đa
dạng sinh học cao. Hệ thực vật ở đây khá giàu
về thành phần loài: Đã ghi nhận được 1.142
loài thực vật bậc cao (thuộc 620 chi, 180 họ),
38 loài thực vật quý hiếm được ưu tiên bảo vệ,
trong đó 35 loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam
(2007), 12 loài ghi trong Danh lục Đỏ IUCN
(2012), 8 loài có tên trong Nghị Định
32/2006/NĐ-CP. Xuân Liên là khu bảo tồn
nằm trong khu vực có khí hậu gió mùa quanh
năm ẩm ướt, địa hình nơi đây có nhiều dãy núi
cao trên 1.000 m đã tạo ra vùng tiểu khí hậu
đặc trưng cho sự tồn tại của kiểu rừng thường
xanh á nhiệt đới, là điều kiện lý tưởng cho các
loài lan sinh sống. Theo thống kê sơ bộ, Khu
bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Xuân Liên có 20
loài lan, trong đó có nhiều loài quý hiếm, loài
có giá trị kinh tế cao như Kim tuyến trung bộ,
lan Hoàng thảo, Vệ hài,... Tuy nhiên, hiện nay
tại khu bảo tồn chưa có nghiên cứu, đánh giá
chi tiết nào về hiện trạng phân bố, giá trị sử
dụng – bảo tồn của chúng để có cơ sở dữ liệu
phục vụ công tác bảo tồn bền vững các loài lan
tự nhiên có phân bố trong Khu bảo tồn.
Hiện nay do nhu cầu thị trường và nguồn lợi
kinh tế từ những giá trị của các loài lan mang
lại, đặc biệt là giá trị của nguồn lan rừng tự
nhiên có công dụng làm thuốc biệt dược chữa
các bệnh nan y (Kim tuyến trung bộ). Bên cạnh
đó, nhu cầu chơi lan nguồn gốc từ tự nhiên của
nhân dân ngày càng gia tăng, cộng thêm thực
trạng nghèo đói, thiếu việc làm và cuộc sống
còn phụ thuộc nhiều vào nguồn lợi từ rừng của
người dân vùng núi đang là nguyên nhân trực
tiếp làm suy giảm quá mức tài nguyên các loài
lan phân bố tự nhiên; đặc biệt nhiều loài quý
hiếm, loài có giá trị kinh tế cao trên địa bàn
Khu BTTN Xuân Liên nói riêng và trong tỉnh
Thanh Hóa nói chung. Vì vậy, nhằm điều tra
thực trạng để từ đó đề xuất những giải pháp
bảo tồn và phát triển những loài Lan có quý
hiếm, có giá trị kinh tế cao trong vùng, thì việc
điều tra tính đa dạng các loài lan, đặc điểm
Công nghệ sinh học & Giống cây trồng
4 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3-2015
phân bố và đặc điểm sinh thái học một số loài
lan quý hiếm tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân
Liên, tỉnh Thanh Hóa là công việc cấp thiết có
nhiều ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Thu thập, kế thừa số liệu, kết quả nghiên
cứu liên quan về các loài lan như phân bố, hiện
trạng, giá trị kinh tế tại địa phương bằng
phương pháp kế thừa số liệu và phương pháp
sử dụng công cụ có sự tham gia của người dân.
- Tổ chức điều tra ngoại nghiệp: Điều tra
theo mẫu hệ thống trên các tuyến khảo sát điển
hình. Tuyến điều tra được thiết kế qua các kiểu
thảm thực vật rừng và qua các điều kiện tự
nhiên phân hoá khác nhau như dạng địa hình,
độ cao để phát hiện thành phần loài lan quý,
hiếm, kết hợp với thu hái mẫu lá, hoa, quả các
loài lan làm tiêu bản phục vụ công tác nghiên
cứu. Tổng số 34 OTC diện tích 1000 m2 được
lập đại diện cho 05 khu vực thuộc các tiểu khu
484, 498, 512, 516.
- Phân tích mẫu và xác định tên loài theo
phương pháp tra cứu các tài liệu chuyên ngành
như: Cây cảnh, hoa Việt Nam của Trần Hợp
(1993), lan Việt Nam của Trần Hợp (1998),
Danh lục các loài thực vật Việt Nam của
Nguyễn Tiến Bân (2005), Cây cỏ Việt Nam
của Phạm Hoàng Hộ (2000), Những cây thuốc
và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi (2001),
Landscape Plants of China của Xing, F.W. et
al. (2009),... Bên cạnh đó, chúng tôi cùng các
chuyên gia giám định trực tiếp và đối chiếu với
mẫu tại Trung tâm đa dạng sinh học, trường
Đại học Lâm nghiệp,...
- Sử dụng máy định vị vệ tinh GPS 76CSx,
phần mềm Mapinfo để xác định tọa độ các ô
tiêu chuẩn, tọa độ các khu vực có phân bố các
loài lan và xây dựng bản đồ phân bố của các
loài lan quý hiếm tại Khu bảo tồn.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Hiện trạng các loài họ Lan tại KBTTN
Xuân Liên
3.1.1. Đặc điểm về thành phần loài
Kết quả điều tra, nghiên cứu các loài lan đã
thống kê được 85 loài thuộc 38 chi phân bố tại
Khu bảo tồn, trong đó các chi Tai dê (08 loài),
chi lan Len và chi Hoàng thảo (07 loài), chi
Lan lọng (06 loài), Chi Calanthe, chi
Cleisostoma, chi Corymborkis, chi lan Kiếm có
04 loài, Các loài đều có mẫu vật và ảnh làm
cơ sở dữ liệu tại Vườn. Đối với họ lan, kết quả
nghiên cứu bước đầu có thể khẳng định rằng
đây là tư liệu đầy đủ nhất từ trước tới nay đối
với họ lan tại khu BTTN Xuân Liên. Nghiên
cứu đã bổ sung cho khu bảo tồn 03 loài trước
đây chưa từng được ghi nhận, đó là: Liparis
pumila Aver., Liparis filiformis Aver., Eria
calcicola Aver.
3.1.2. Giá trị bảo tồn và phân bố các loài Lan
quý hiếm tại Khu bảo tồn
a. Giá trị bảo tồn
Kết quả nghiên cứu cho thấy Khu BTTN
Xuân Liên có 05 loài lan quý hiếm, có giá trị
kinh tế cao, trong đó có 02 loài thuộc nhóm IA,
nghị định 32/2006/NĐ-CP; Sách đỏ Việt Nam
02 loài ở cấp EN, 02 loài cấp VU (bảng 3.1)
Công nghệ sinh học & Giống cây trồng
5TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3-2015
Bảng 3.1. Hiện trạng các loài Lan quý hiếm tại khu BTTN Xuân Liên
TT Loài
Hiện trạng Bảo Tồn
IUCN, 2012
Sách đỏ Việt Nam, 2007
Nghị định
32/2006/NĐ-CP
1
Kim tuyến trung bộ - Anoectochilus
annamensis Aver.
IA
2
Lan Hài lông - Paphiopedilum
hirsutissimum (Lindl. ex Hook.) Stein.
VU A1c,d+A2d IA
3
Thủy tiên hường (Kiều tím) -
Dendrobium amabile O’Brien.
EN B1+2e+3d
4
Ngọc vạn vàng (Phi điệp vàng) -
Dendrobium chrysanthum Lindl.
EN B1+2e+3d
5
Kim điệp (Hoàng thảo long nhãn) -
Dendrobium fimbriatum Hooker.
VU B1+2e+3d
Chú thích: Nguy cấp: EN; Rất nguy cấp: CR [3] ; Sẽ nguy cấp: VU
IA: Thực vật rừng, động vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục
đích thương mại [4]
b. Phân bố của một số loài Lan quý hiếm tại
Khu bảo tồn
Trong 10 tuyến điều tra thì 02 tuyến phát
hiện ra loài Lan Hài lông (Paphiopedilum
hirsutissimum) và trên 10 tuyến điều tra đều
phát hiện loài Kim tuyến trung bộ
(Anoectochilus annamensis). Trong 10 tuyến
điều tra có 02 tuyến xuất hiện cả 02 loài, 08
tuyến còn lại chỉ xuất hiện loài Kim tuyến
trung bộ, trong đó loài Hài lông là loài mới
được phát hiện so với các đợt điều tra trước
đây. Kim tuyến trung bộ xuất hiện nhiều nhất
tại các tuyến (Hón mong - Khu vực chân Pù
Gió, Trạm Vịn - Thác tiên - Lán ông thường -
Pù hòn hàn) (bảng 3.2).
Bảng 3.2. Phân bố của các loài Lan quý hiếm tại Khu BTTN Xuân Liên
TT Tuyến điều tra Tên phổ thông Tên khoa học Tiểu khu
Độ cao
(m)
1
Trạm Kiểm lâm Bản Vịn -
Khu vực Huối Cò
Lan Hài lông P. hirsutissimum 484 840
Kim tuyến trung bộ A. annamensis 484 800-960
2
Trạm vịn - Phà lắm nặm - Pù
nậm mua lớn
Lan Hài lông P. hirsutissimum 489 1220-1180
Kim tuyến trung bộ A. annamensis 489 1235-1265
3 Trạm vịn - Khu vực Suối Thác Tiên Kim tuyến trung bộ A. annamensis 489 860
4
Trạm vịn - Thác tiên - Lán
ông thường - Pù hòn hàn
Kim tuyến trung bộ A. annamensis 489; 485 800-1065
5
Trạm Kiểm lâm Bản Lửa -
Khu vực Hón hích - Pù hòn
hàn-Hón cà-Trạm Kiểm lâm
Hón Mong
Kim tuyến trung bộ A. annamensis
486; 498;
499
720
6 Hón mong - Khu vực chân Pù gió Kim tuyến trung bộ A. annamensis 499; 512 700-840
7
Trạm Kiểm lâm Hón Can -
Đỉnh thác Mù
Kim tuyến trung bộ A. annamensis 520 830-870
8
Trạm Kiểm lâm Hón Can -
Lán Đàn bà - Đỉnh Pù gió
Kim tuyến trung bộ A. annamensis
515; 516;
520
800
9
Trạm Kiểm lâm Hón Can -
Đỉnh Pù Gió
Kim tuyến trung bộ A. annamensis
515; 516;
520
932
10
Trạm Kiểm lâm Sông Khao-
Vũng đính - Đỉnh Pù Gió
Kim tuyến trung bộ A. annamensis 515; 516 950-1240
Công nghệ sinh học & Giống cây trồng
6 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3-2015
3.2. Đặc điểm hình thái, vật hậu của một số
loài Lan quý hiếm tại KBT Xuân Liên
3.2.1. Kim tuyến trung bộ
Tên Việt Nam: Kim tuyến trung bộ
Tên khoa học: Anoectochilus annamensis Aver.
Họ thực vật: Họ Lan (Orchidaceae)
a. Hình thái
Kim tuyến trung bộ là cây thân thảo, mọc ở
đất, có thân rễ mọc dài thân trên đất mọng
nước, mang các lá mọc xòe sát đất.
- Đặc điểm thân rễ: Thân rễ nằm ngang sát
mặt đất, đôi khi hơi nghiêng, bò dài. Chiều dài
thân rễ từ 5 – 12 cm, trung bình là 7,87 cm.
Đường kính thân rễ từ 3 – 4 mm, trung bình là
3,17 mm. Chiều dài lóng từ 1 – 6 cm. Thân rễ
thường có màu trắng xanh, đôi khi có màu nâu
đỏ, thường nhẵn, không phủ lông.
- Đặc điểm thân khí sinh: Thường mọc
thẳng trên mặt đất, ít khi mọc nghiêng. Chiều
dài thân khí sinh từ 4-8 cm. Đường kính thân
khí sinh từ 3-5 mm, thân khí sinh mang nhiều
lóng, các lóng có chiều dài khác nhau, số lóng
trên thân khí sinh thay đổi từ 2-4. Chiều dài
mỗi lóng từ 1-4 cm. Thân khí sinh thường
mọng nước, nhẵn, không phủ lông; thường có
màu xanh trắng, đôi khi có màu hồng nhạt.
- Đặc điểm rễ: Rễ được mọc ra từ các mấu
trên thân rễ. Đôi khi rễ cũng được hình thành
từ thân khí sinh. Rễ thường đâm thẳng xuống
đất. Thông thường mỗi mấu chỉ có 1 rễ, đôi khi
cũng có vài rễ cùng được hình thành từ một
mấu trên thân rễ. Số lượng và kích thước rễ
cũng rất thay đổi tùy theo cá thể. Số rễ trên một
cây thường 3- 10 rễ, chiều dài rễ từ 0,5-8 cm.
- Đặc điểm lá: Lá mọc cách xoắn quanh
thân, xòe trên mặt đất. Lá hình trứng, gần tròn
ở gốc, đầu lá hơi nhọn và có mũi ngắn, thường
dài từ 3-5 cm, rộng từ 2-4 cm. Lá có màu nâu
đỏ ở mặt rên và phủ lông mịn như nhung. Hệ
gân lá mạng lưới lông chim, thường có 5 gân
gốc. Các gân này thường có màu hồng ở mặt
trên và nổi rất rõ. Đôi khi gân ở giữa có màu
vàng nhạt. Mặt dưới lá có màu nâu đỏ nhạt,
nhẵn với 5 gân gốc nổi rõ. Các gân bên ở phía
rìa lá nổi rõ, gân ở giữa lá ở mặt dưới không
rõ. Cuống lá dài 0,6 -1,2 cm, thường nhẵn và
có màu trắng xanh, đôi khi hơi đỏ tía ở bẹ lá.
Bẹ lá nổi rõ và nhẵn. Số lá trên một cây thay
đổi từ 2-6 lá thông thường là 4 lá. Kích thước
các lá cũng thay đổi, các lá trên một cây
thường có kích thước khác nhau rõ rệt.
- Đặc điểm của hoa, quả: Cụm hoa dài 10 -
20 cm, ở ngọn thân, mang 4-10 hoa mọc thưa.
Lá bắc hình trứng, dài 6-10 mm, màu hồng.
Các mảnh bao hoa dài khoảng 6 mm; cánh môi
màu trắng dài đến 1,5 cm, mỗi bên gốc mang
6-8 dải hẹp, đầu chẻ đôi. Mùa hoa tháng 10 -
12. Mùa quả chín tháng 12-3 năm sau.
Hình 3.3. Kim tuyến trung bộ (Bản Vịn-Bát Mọt) (bên phải) và tại Vườn sưu tập lan (bên trái)
Khu BTTN Xuân Liên (Ảnh: Nguyễn Đức Thắng)
Công nghệ sinh học & Giống cây trồng
7TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3-2015
b. Sinh thái
Mọc rải rác trong rừng núi đá vôi, nơi ẩm,
dọc theo khe suối, ở độ cao 300 - 1000 m. Cây
ưa bóng, kị ánh sáng trực tiếp. Kim tuyến trung
bộ chủ yếu mọc trên đất, thậm chí ngay trên
lớp thảm mục của rừng đang phân huỷ. Đôi khi
chúng mọc trên các tảng đá ẩm, trên các đoạn
thân cây gỗ mục, trong gốc cây. Có thể gặp
Kim tuyến trung bộ ở trong rừng nơi ẩm ướt,
ven các khe suối, dưới tán rừng cây gỗ lớn,
hoặc dưới rừng trúc, rừng sặt, trên đường mòn
đi lại trong rừng. Kim tuyến trung bộ thường
phân bố nơi đất giàu mùn, tơi xốp, thoáng khí,
thoát nước, giàu nitơ và kali, chịu được đất
nghèo lân và chua, có thể sinh trưởng tốt trên
các loại đất có thành phần cơ giới nặng.
c. Khả năng tái sinh
Khả năng tái sinh tự nhiên thấp, do Kim
tuyến trung bộ mọc rải rác. Tái sinh từ chồi.
d. Tổ thành các loài cây đi kèm
Tại KBT Xuân Liên Kim tuyến trung bộ
thường phân bố ở kiểu rừng kín thường xanh
chủ yếu là cây lá rộng nhiệt đới. Kiểu rừng này
phân bố từ độ cao 800 m đến 1600 m, nhiều
nhất ở Bù Ban phía nam Bản Vịn và một diện
tích nhỏ phía Tây Nam bản Vịn, chiếm 7,49%
tổng diện tích KBT. Thực vật chiếm ưu thế là
các loài cây lá rộng thuộc các họ Dẻ
(Fagaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Thầu
dầu (Euphoribiaceae), họ Đậu (Leguminoisae),
họ Ngọc lan (Magnoliaceae), họ Sến
(Sapotaceae). Trong đó phải nói đến các loài
cây đóng vai trò lập quần như Cà ổi
(Castanopsis indica), Sói (Lithocarpus
dussaudi), Dẻ đá (Lithocarpus coatilus), Dẻ
cau (Quercus fleuhy) thuộc họ Dẻ hay loài
Phân mã (Archidendron tonkinense) thuộc họ
Đậu, một số loài trong chi Re (Cinnamomum)
thuộc họ Long não và các loài gỗ tốt thuộc họ
Ngọc lan như: Vàng tâm (Manglietia dandyi,
Manglietia fordiana), Giổi thơm
(Tsoongiodendron odorum). Ở các đỉnh núi
cao trên 1200 m vai trò lập quần thuộc về loài
Dẻ lá tre (Quercus bambusaefolia), Phân mã,
Re, Côm tầng (Elaeocarpus dubilus), Giổi,.
Cũng ở độ cao này, đáng lưu ý là Pơ mu
(Fokonia hodginsii). Ngoài ra, ngoại tầng còn
có các loài dây leo như Kim cang (Smilax), Dất
mèo (Uvaria) và một số loài cây trong họ
Chùm gửi (Loranthaceae), ở kiểu rừng này
có độ tàn che tương đối cao của các loài cây
gỗ, độ ẩm cao một trong các sinh cảnh lý
tưởng của các loài lan phân bố lan Gấm,
Hoàng thảo, Quế lan hương...
Hình 3.1. Bản đồ phân bố Kim tuyến trung bộ tại Khu BTTN Xuân Liên (điểm tròn xanh)
Công nghệ sinh học & Giống cây trồng
8 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3-2015
3.2.2. Lan hài lông
Tên Việt Nam: Lan Hài lông
Tên khoa học: Paphiopedilum
hirsutissimum (Lindl. ex Hook.) Stein.
Họ thực vật: Họ Lan (Orchidaceae)
a. Hình thái
Cây cỏ mọc trên đất hoặc trên đá với 5 - 7 lá
xếp thành 2 hàng, mọc thành đám. Lá hình lưỡi
dài hẹp, tù hoặc có 2 thùy tù không đối xứng ở
chóp, dài tới 45 cm, rộng 1,5 -2 cm, xanh, có
đốm tía ở mặt gần dưới gần gốc. Cụm hoa có 1
hoa (rất ít khi có 2 hoa); cuống dài 17 – 25 cm,
phủ lông dài dày đặc, mọc trong một bao dạng
lá màu xanh dài tới 11 cm; lá đài vàng nhạt cho
tới xanh nhạt, có nhiều đốm nâu tối, dày đặc
gần như tới tận mép; cánh hoa vàng nhạt, đốm
tía nâu ở nửa gốc, đốm tía nâu ở nửa gốc, đốm
hồng tía ở nửa trên; môi vàng nhạt cho đến
xanh ô liu nhạt, đốm tía – hồng; nhị lép vàng
nhạt, đốm tía về gốc, nâu tối bóng về phía
giữa; cuống hoa và bầu dài 5-7,5 cm, phủ lông
dài đen dày đặc. Lá đài hình trứng rộn cho tới
trứng – bầu dục, tù hoặc lõm ở đỉnh, dài 1,8
(3)–4,5 (5,2) cm, rộng 1,8 (2,3)–4(4,5) cm với
mép lượn sóng, có lông rìa. Lá đài hợp giống
với lá đài lưng, dài 2,6 (5)–7(8) cm, rộng
1(1,3) – 2,5(3) cm xoắn lại ở nửa trên, thường
lượn sóng ở mép về gốc, phủ lông tơ và lông
rìa. Môi dài 1,8 (3)–4 (4,5) cm, rộng 1,2 (1,5)–
2,2 (2,8) cm. Nhị lép gần hình vuông tù, lồi,
dài khoảng 10 mm, rộng 8 mm. 2n = 26.
Hình 4.3. Lan hài lông – Bản Vịn Bát Mọt (Ảnh: Nguyễn Đức Thắng)
b. Sinh thái
Lan Hài lông mọc ở khu rừng nguyên sinh
hoặc thứ sinh, thường xanh, cây lá rộng, rừng
hỗn giao và rừng cây lá kim trên núi đá vôi kết
tinh bị bào mòn mạnh ở độ cao (350) 500 –
1100 (1250)m. Ở Việt Nam, lan Hài lông
thường mọc trên đá, tạo thành từng đám lớn
trên các vách đá hoặc sườn núi dựng đứng
hoặc gần dựng đứng. Trong thảm thực vật
nguyên sinh, nó mọc nơi râm mát của các sườn
ở bất kỳ hướng phơi nào. Nó gặp phổ biến
trong các kẽ nứt và hốc đá vôi được phủ rêu,
nơi mùn lá cây được tích lũy lại và đất giàu
dinh dưỡng. Rễ bám vào các khe nứt hay kẽ hở
một cách không chắc chắn, thậm chí còn hình
thành cái rổ đựng mùn lá cây để làm giàu chất
dinh dưỡng cho đất nơi nó mọc. Loại cây này
có thể phát triển đến một kích cỡ đáng kể với
50 cá thể hoặc nhiều hơn. Những đám to, hiện
chỉ còn sót lại trên vách đá cao mà những
Công nghệ sinh học & Giống cây trồng
9TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3-2015
người thu hái Lan không thể tới được. Lá trải
ra hoặc treo lủng lẳng và hoa thì gần như nằm
ngang với bề mặt đá. Độ pH của loại đất bở
bao quanh rễ dao động từ 7,5 – 7,86.
Thời gian nở hoa trong tự nhiên là từ tháng
3 – 5.
c. Khả năng tái sinh: Tái sinh bằng chồi
và hạt.
d. Tổ thành các loài cây đi kèm
Nơi sống của lan Hài lông còn có rất nhiều
lan Hài quý hiếm khác như Paphiopedilum
dianthum, P. helenae. Những loài lan mọc trên
đất, trên đá và phụ sinh trên cây cũng rất phổ
biến ở đây, đặc biệt như Aerides odorata,
Bulbophylum purpureifolium, B. ambrosa,
Dendrobium aduncum,Các loài cây ưu thế là
các cây lá rộng ở kiểu rừng này thường gặp
như Burretiodendron hsienmu (Tiliaceae),
Meliaaceae, Cinnamomum sp., Ficus spp.
(Moraceae), Quercus sp. (Lauraceae),... những
cây ở lớp Thông như Amentotaxus argotaenia,
Calocedus macrolepis,đôi khi cũng có mặt
nhưng ở độ cao 900 -1000 m. Rất nhiều loại
mọc trên đá cũng có mặt ở đây đặc biệt các
loài trong họ Acanthaceae, Araceae,
Rubiaceae, Urtiaceae và các loài Cói, Dương
xỉ bám đá.
Hình 3.2. Bản đồ phân bố lan Hài lông tại Khu BTTN Xuân Liên (điểm tròn đỏ)
IV. KẾT LUẬN
Quá trình điều tra, nghiên cứu về tính đa
dạng các loài lan và đặc điểm phân bố, sinh
thái học của các loài lan quý hiếm tại Khu
BTTN Xuân Liên, chúng tôi rút ra một số kết
luận như sau:
- Kết quả điều tra, nghiên cứu đã thống kê
được 85 loài lan, thuộc 38 chi phân bố tại Khu
bảo tồn. Nghiên cứu đã bổ sung cho KBTTN
03 loài trước đây chưa từng được ghi nhận, đó
là: Liparis pumila Aver., Liparis filiformis
Aver., Eria calcicola Aver.
- Hiện có 02 loài lan quý hiếm là lan Hài
lông (Paphiopedilum hirsutissimum (Lindl. ex
Hook.) Stein.), Kim tuyến trung bộ
(Anoectochilus annamensis Aver.). Trong đó
cả 02 loài đều thuộc nhóm IA, Nghị định
32/2006/NĐ-CP; Sách đỏ Việt Nam 2007, 01
loài cấp VU.
Công nghệ sinh học & Giống cây trồng
10 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3-2015
- Kết quả nghiên cứu cho thấy loài lan Hài
lông có phạm vi phân bố hẹp và phân bố ở độ
cao 800 m trở lên, loài Kim tuyến trung bộ có
phạm vi phân bố rộng, nhiều trạng thái rừng và
ở nhiều nhiều độ cao khác nhau từ 300 –
1000m. Xây dựng được bản đồ phân bố cho 02
loài này phục vụ công tác quản lý, giám sát.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Tiến Bân (2005), Danh lục các loài thực
vật Việt Nam, Tập III, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội.
2. Lê Đình Bích, Trần Văn Ơn (2007), Thực vật học,
Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
3. Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và
Công nghệ Việt Nam (2007), Sách Đỏ Việt Nam (phần
thực vật), Nxb. Khoa học tự nhiên & Công nghệ, Hà Nội.
4. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2006),
Nghị Định 32/2006/NĐ-CP về danh mục Thực vật, động
vật rừng nguy cấp, quý hiếm ban hành kèm theo Nghị
định 18/HĐBT và Nghị Định 48/CP/2002, Hà Nội.
5. Phạm Hoàng Hộ. 1999-2000, Cây cỏ Việt Nam,
Nxb Trẻ TP. HCM.
6. Trần Hợp (1993), Cây cảnh, hoa Việt Nam, Nxb
Nông nghiệp, Hà Nội.
7. Trần Hợp (1998), Lan Việt Nam, Nxb Nông
Nghiệp, Hà Nội.
8. Leonid Averyanov, Phillip Cribb, Phan Kế Lộc,
Nguyễn Tiến Hiệp (2004), Lan Hài Việt Nam, Nxb.
Giao thông vận tải, Hà Nội.
9. Đỗ Tất Lợi (2001), Những cây thuốc và vị thuốc
Việt Nam, Nxb. Y Học, Hà Nội.
10. BND tỉnh Thanh Hóa (2013), Báo cáo kết quả
điều tra, lập danh lục khu hệ động, thực vật rừng Khu
BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa.
11. Viện điều tra quy hoạch rừng (1999), Tổ chức
bảo tồn chim quốc tế tại Việt Nam (BirdLife
International), Dự án nghiên cứu khả thi thành lập
khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên tỉnh Thanh Hóa,
Thanh Hóa.
12. Xing, F.W. et al. (2009), Landscape Plants of
China (vol. 1-2). Huazhong University of Science and
Technology Press.
13. Leonid V. Averyanov & Anna L.
Averyanova, 2003, Updated checklits of the orchids
of Viet Nam, Viet Nam Nationnal University
Publising House, Ha Noi.
RARE ORCHIDACEAE’S SPECIES AT XUAN LIEN NATURE RESERVE,
THANH HOA PROVINCE
Nguyen Duc Thang, Vu Quang Nam
SUMMARY
This paper presents the results of studies assessing the diversity of orchids (Orchidaceae) and distribution,
ecological characteristics of rare orchid species in Xuan Lien Nature Reserve by applying methods of
traditional investigation and GPS technology, MapInfo software. The research results show that total 85
species, belonging to 38 genera of Orchidaceae are identified in Xuan Lien Nature Reserve, in which 03 species
are newly recorded for Xuan Lien Nature Reserve and those are Liparis pumila Aver., Liparis filiformis Aver.,
Eria calcicola Aver. Moreover, 02 rare species in this Nature Reserve recorded as listed in Group IA, Decree
32/2006 /ND-CP and the Vietnam Red Data Book (2007) are Paphiopedilum hirsutissimum (Lindl. ex Hook.)
Stein. and Anoectochilus annamensis Aver. Paphiopedilum hirsutissimum is distributed narrowlly from more
than 800 alt., while Anoectochilus annamensis has a wide range of distribution in many forest conditions and in
many different heights from 300-1000 m. Distribution maps for these 02 species are also established to serve
the management, monitoring and conservation.
Keywords: Distribution, diversity, ecology, new record, Xuan Lien.
Người phản biện : TS. Trần Ngọc Hải
Ngày nhận bài : 28/5/2015
Ngày phản biện : 30/6/2015
Ngày quyết định đăng : 15/9/2015
Các file đính kèm theo tài liệu này:
cac_loai_lan_quy_hiem_tai_khu_bao_ton_thien_nhien_xuan_lien.pdf