Berangere Tissot và CS [15] đã nghiên cứu
ảnh hƣởng của vị trí nhóm sulfate lên phổ MS của
fucose, tín hiệu có cƣờng độ mạnh tại m/z 139 là do
nhóm sulfate tại vị trí C-4 của fucose (Hình 3.4a).
Ta thấy có tín hiệu yếu tại m/z 169 và 1 tín hiệu có
cƣờng độ lớn tại 183 cho thấy sự có mặt nhóm
sulfate tại vị trí C-2.
Phổ ESI-MS/MS của ion [FucGalSO3]- tại m/z
405 (Hình 3.4b) cho các tín hiệu của các ion mảnh
với cƣờng độ yếu. Tuy nhiên chúng ta có thể nhận
biết đƣợc tín hiệu ở m/z 241(ion mảnh kiểu B1) đặc
trƣng cho cấu trúc của một Galfuc monosulfate với
galactose nằm ở đầu không khử, có nhóm thế sulfate
nằm ở vị trí O-2 và liên kết với fucose ở vị trí O-3
[1716]. Tín hiệu ở m/z 113 đƣợc gán cho mảnh chia
cắt kiểu 0,3A1 (cộng hợp với Na). Tín hiệu ở m/z 310
đƣợc gán cho mảnh chia cắt kiểu 0,2X1 (cộng hợp với
Na). Tín hiệu rất yếu ở m/z 225 và sản phẩm cộng
hợp của nó với Na ở m/z 249 cho thấy một lƣợng
nhỏ gốc fucose 2-O-sulfate cũng có thể nằm ở đầu
không khử. Các tín hiệu khác bao gồm m/z 326 ứng
với ion [FucGalSO3 - SO3]-, m/z 397 ứng với ion
[FucGalSO3 - H2O]- và m/z 404 ứng với ion
[FucGalSO3 - H]-.
các tín hiệu trong phổ này. Vì vậy, phổ khối nhiều
lần ESI-MS/MS đƣợc sử dụng là một phƣơng pháp
phân tích hiệu quả để có thêm các thông tin về đặc
điểm cấu trúc của fucoidan F3. Kết quả đo phổ ESIMS/MS của phân đoạn F3 đƣợc trình bày trong hình
(3.4a và 3.4b). Qua đó cho thấy tất cả các tín hiệu
nói trên chứng minh mẫu phân đoạn F3 đƣợc tách ra
là fucoidan tinh sạch.
Để sáng tỏ thêm các thông tin cấu trúc khác,
chúng tôi tiến hành đo phổ ESI-MS của F3 với kỹ
thuật phổ khối nhiều lần. Phổ ESI-MS cho thấy có
pic cơ bản tại m/z 243 là của monosulfate fucose
[FucSO3]-. Tín hiệu tại m/z 225 đƣợc gán cho
[FucSO3-H2O]- và một tín hiệu ở m/z 405 gắn cho
[FucGal(SO3)2]−. Để khẳng định vị trí nhóm thể
sulfate trên mạch chính fucose và liên kết giữa mạch
nhánh galactose với mạch chính, 2 tín hiệu tại m/z
243 và 405 của đƣợc tiến hành phá mảnh lần 2, phổ
MS/MS thu đƣợc thể hiện trên hình 3.4a và 3.4b
6 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chiết tách và xác định đặc điểm cấu trúc của sulfated polysaccharide từ rong nâu hormophysa articulata ở vịnh Nha Trang, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
17
CHIẾT TÁCH VÀ XÁC ĐỊNH ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA SULFATED
POLYSACCHARIDE TỪ RONG NÂU HORMOPHYSA ARTICULATA
Ở VỊNH NHA TRANG
Bùi Văn Nguyên1, Lê Công Hoan1, Lê Đỗ Thùy Vi1, Ngô Thị Uyên Tuyền1, Chu Thị Hoài Thu1,
Thành Thị Thu Thủy2 và Trần Thị Thanh Vân3
1Trường Đại học Khánh Hòa
2Viện Hóa Học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
3Viện Nghiên cứu Ứng dụng và Công nghệ Nha Trang
Tóm tắt: Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu chiết tách sulfated polysaccharide (fucoidan) từ rong
nâu Hormophysa articulata thu thập ở Vịnh Nha Trang. Kết quả cho thấy hàm lượng fucoidan là 2,03% trên
trọng lượng rong khô. Bằng phương pháp sắc ký trao đổi ion cho thấy fucoidan thô được tách thành 3 phân
đoạn (F1, F2 và F3) trên cột sắc ký DEAE-cellulose. Đặc điểm cấu trúc của fucoidan được khảo sát bằng phương
pháp phổ ESI-MS và phổ cộng hưởng từ hạt nhân NMR. Phân đoạn F3 có chứa hàm lượng sulfate cao nhất là
36,3% và thành phần gồm Fuc và Gal với tỉ lệ (L-Fuc:D-Gal = 1:0,3) liên kết với nhau qua liên kết glycoside
(1→3) hoặc (1→4), nhóm sulfate gắn vào gốc Fuc chủ yếu vị trí C2 hoặc C4, gốc Gal chủ yếu vị trí C2. Kết quả
cho thấy sulfated polysaccharide tách chiết được từ phân đoạn F3 có cấu trúc dạng galactofucan sulfate.
Từ khóa: Rong nâu, polysaccharide sulfate, fucoidan, Hormophysa articulata, các phương pháp phổ
1. Mở đầu
Trong đa dạng vô tận của thảm thực vật đại
dƣơng, rong Nâu là một trong số các loài thực vật
biển có thể tự tái tạo đáng đƣợc lƣu ý nhất mà loài
ngƣời đã phát hiện ra. Rong Nâu chứa rất nhiều các
hợp chất thiên nhiên có giá trị dinh dƣỡng và dƣợc
dụng cao. Đó là các đƣờng (galactose, mannose,
xylose); axit amin; axit béo nhiều nối đôi; chất
khoáng dƣới dạng keo; các vitamin cần thiết cho cơ
thể sống; các polyphenol có hoạt tính chống oxi hóa
mạnh bảo vệ cơ thể loại trừ các gốc tự do nguy hại;
fucoidan có khả năng kích thích hệ miễn dịch, chống
viêm nhiễm, ngăn ngừa ung thƣ đồng thời làm tăng
chỉ số chức năng gan; iốt hữu cơ giúp tuyến giáp
hoạt động tối ƣu; alginat là chất giải độc thiên nhiên
và laminaran là chất chống đông cục máu và ung
thƣ [3, 4, 5, 11].
Fucoidan là một sulfate polysaccharide có cấu
trúc hóa học phức tạp. Thành phần của nó bao gồm
nhiều loại đƣờng, chủ yếu là fucose và một số các
loại khác nhƣ galactose, glucose, manose..., ngoài ra
còn có axít uronic. Fucoidan đƣợc biết đến là một
chất có nhiều hoạt tính sinh học quí báu nhƣ hoạt
tính chống u, chống oxy hóa, kháng khuẩn, kháng
nấm, chống đông tụ máu và kháng virus nhƣ HIV.
Ngoài ra fucoidan còn đƣợc mô tả có nhiều tác dụng
sinh học khác nhƣ tác dụng hạ cholesterol, giảm mỡ
máu... Do có các tính chất quí báu nhƣ vậy nên
fucoidan thu hút đƣợc rất nhiều sự quan tâm của các
nhà khoa học trên thế giới [3, 4, 5, 11].
Nƣớc ta có hơn 3260 km bờ biển với nguồn
tài nguyên rong biển rất phong phú, rong Nâu là
nguồn lợi rong biển tự nhiên lớn nhất, trong đó chi
rong có trữ lƣợng lớn nhất là Sargassum (rong Mơ)
và Hormophysa (rong Khế) [8]. Các nghiên cứu về
polysaccharide từ chi Hormophysa mới đƣợc nghiên
cứu rất ít. Đặc biệt là rong Nâu Hormophysa
articulata lần đầu tiên đƣợc chúng tôi tiếp cận
nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu thành phần
polysaccharide tách chiết từ rong Nâu Hormophysa
articulata thu thập ở Vịnh Nha Trang giúp định
hƣớng nghiên cứu công nghệ cũng nhƣ nghiên cứu
cơ bản về cấu trúc và hoạt tính, cho biết hàm lƣợng
dinh dƣỡng và sử dụng làm dƣợc liệu hoặc thực
phẩm chức năng. Kết quả nghiên cứu này góp phần
18
bổ sung thêm cơ sở dữ liệu về nghiên cứu fucoidan
rong nâu ở Việt Nam, đồng thời là cơ sở khoa học
cho việc nghiên cứu sâu hơn về cấu trúc cũng nhƣ
hoạt tính sinh học của fucoidan từ loài rong này
nhằm định hƣớng ứng dụng thành các sản phẩm có
giá trị cao về y dƣợc.
2. Thực nghiệm
2.1. Mẫu rong
Rong đƣợc thu thập tại Đảo Hòn Rùa, Vịnh
Nha Trang vào tháng 4/2019 và định danh bởi TS.
Lê Nhƣ Hậu (Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công
nghệ Nha Trang). Mẫu rong sau khi thu thập đƣợc
rửa sạch tạp chất (rác, cát, mùn,...) bằng nƣớc ngọt,
đem phơi khô ở nhiệt độ thƣờng trong không khí và
đƣợc cắt nhỏ.
2.2. Hóa chất và thiết bị
Hóa chất: Rƣợu etylic (C2H5OH), axeton
(CH3COCH3), axít clohyđric (HCl), nƣớc cất (H2O),
natri hiđrocacbonat (NaHCO3), natri cacbonat
(Na2CO3), nhựa DEAE-cellulose, natri clorua
(NaCl), trifloaxetic TFA (CF3COOH), amoniac
(NH3), natrihiđroxit (NaOH), các hóa chất chuẩn bao
gồm: fucose, galactose, mannose, rhamnose, glucose
và xylose tất cả của hãnh Sigma (Mỹ).
Thiết bị: Máy phân tích sắc ký GC-FID, máy
cô quay chân không, máy ly tâm, máy đông khô,
máy ghi phổ ESI-MS và máy đo phổ NMR.
2.3. Tách fucoidan
Rong khô xử lý với cồn và axeton để loại các
hợp chất béo, chất màu,... Mẫu rong thu đƣợc sử
dụng để chiết polysaccharide. Lấy 500 gam rong khô
đem chiết bằng dung dịch HCl 0,02M (pH = 2-3) (tỉ
lệ rong khô : dịch chiết = 1:10) ở nhiệt độ 60oC
trong thời gian 2 giờ, lọc tách bã rong qua một lớp
vải lọc mịn và đem chiết lại hai lần với điều kiện
tƣơng tự. Dịch chiết chứa các polysaccharide tan
trong nƣớc của 3 lần chiết đƣợc gộp lại và đƣợc
trung hòa bằng dung dịch NaHCO3 8% đến pH = 6-
7. Dịch chiết đƣợc cô quay chân không ở nhiệt độ
50oC đến còn 1/5 thể tích ban đầu. Sau đó đƣợc tiến
hành chạy thẩm tách qua màng 10kDa trong 48h,
cuối cùng đông khô để chuyển thành dạng bột. Kết
quả ta thu đƣợc hỗn hợp polysaccharide có thành
phần chính là fucoidan [9, 10, 11, 14].
2.4. Tách phân đoạn fucoidan thô
Fucoidan đƣợc phân đoạn tinh chế bằng kỹ
thuật sắc ký trao đổi anion trên cột DEAE-Cellulose
(2,5x30 cm) [7]. Mẫu fucoidan đƣợc hoà tan hoàn
toàn trong dung môi HCl 0,04N trƣớc khi cho chạy
qua cột sắc ký. Đầu tiên phân đoạn laminaran
(polysaccharide không có nhóm mang điện tích)
đƣợc rửa giải khỏi cột sắc ký bằng dung dịch HCl
0,04N đến khi thử phản ứng âm tính với thuốc thử
phenol/acid sulfuric, tiếp theo các phân đoạn
fucoidan đƣợc rửa giải theo nồng độ tăng dần của
muối NaCl. Tất cả các phân đoạn thu đƣợc đem
thẩm tách qua màng 10kDa và đông khô thu đƣợc 3
phân đoạn ký hiệu F1, F2, F3 [9].
2.5. Phương pháp phổ NMR và ESI-MS.
Phổ NMR ghi trên máy Bruker AVANCE
500, sử dụng TFA/D2O (1% v/v) làm dung môi,
DSS làm chất chuẩn nội đo tại nhiệt độ 70oC với kỹ
thuật đo khử tín hiệu H2O.
Phổ ESIMS đƣợc ghi trên máy Xevo TQ MS,
Waters-USA, kiểu ion hóa âm. Dung môi MeOH :
H2O = 1:1. Chế độ ghi mẫu với kiểu ion hoá âm. Khí
phun mù là N2 với áp suất khí là 30 psi, tốc độ phun
khí 650lít/giờ tại nhiệt độ là 180ºC.
3. Kết quả và thảo luận
Thành phần polysaccharide chủ yếu trong
rong Nâu bao gồm alginate, laminaran và fucoidan.
Trong mẫu rong Nâu Hormophysa articulata nghiên
cứu có chứa fucoidan 2,03% trên trọng lƣợng rong
nguyên liệu khô sau khi đã loại chất màu và chất
béo. So sánh với kết quả phân tích hàm lƣợng
fucoidan trong một số loài rong Nâu trên thế giới
[12] thì loài rong Hormophysa articulata ở Vịnh
Nha Trang có hàm lƣợng fucoidan là thấp hơn ít, tuy
nhiên khác nhau không nhiều. Điều này một lần nữa
khẳng định các yếu tố thủy hóa nơi cây rong sinh
trƣởng nhƣ ánh sáng, nhiệt độ, độ muối, ... đã ảnh
hƣởng đến quá trình sinh tổng hợp fucoidan của
rong .
Hình 3.1: Sắc kỳ đồ GPC của mẫu FHA
Phƣơng pháp sắc ký lọc gel GPC(Gel
Permeation Chromatography) đƣợc sử dụng để xác
định sự phân bố theo KLPT (khối lƣợng phân tử)
của các polymer thành phần của FHA (Fucoidan
from Hormophysa articulata) và xác định KLPT
trung bình của FHA. Đồ thị sắc ký GPC thu đƣợc
(Hình 3.1) chỉ gồm 1 peak chứng tỏ FHA có độ sạch
cao. Kết quả tính toán cho thấy FHA có khối lƣợng
phân tử trung bình là 250kDa. Chỉ số đa phân tán PI
= Mw/Mn = 1,8 cho thấy mức độ phân tán về khối
lƣợng phân tử của các polysaccharide là không lớn
Kết quả tách phân đoạn tinh chế fucoidan từ
rong nâu Hormophysa articulata bằng sắc ký trao
19
đổi ion cho ra 03 phân đoạn F1, F2 và F3 tƣơng ứng
với các nồng độ rửa giải tăng dần của NaCl là 0,5N;
1,0N và 1,5N. Thành phần hóa học của các phân
đoạn đƣợc chỉ ra ở Bảng 3.1 và Hình 3.2, kết quả
cho thấy phân đoạn F3 có thành phần đơn giản chủ
yếu là fucose và galactose theo tỉ lệ 1:0,3 với hàm
lƣợng sulfate cao nhất là 36,3%, theo nhiều nghiên
cứu phân đoạn nào có hàm lƣợng sulfate cao thì đa
phần có hoạt tính sinh học tốt [3]. Do vây, phân
đoạn F3 đƣợc lựa chọn để nghiên cứu chi tiết hơn về
đặc điểm cấu trúc.
Hình 3.2: Sắc ký đồ của phân đoạn F3 đƣợc phân tích trên thiết bị GC-FID
Bảng 3.1. Thành phần hóa học của các phân đoạn fucoidan
Phân đoạn
Hiệu
suất(%)
SO3Na Uronic
Axit
Tỷ lệ monosaccharide (mole)
Fuc Gal Xyl Man Gluc
FHA 24,5 6,1 1 1,2 0,1 0,1 0,1
F1 7,5 10,5 10,4 1 2,1 0,7 0,3 0,2
F2 43,5 21,5 6,3 1 1,5 0,3 0,1 0,1
F3 26,5 36,3 1,8 1 0,3 0 0 0
Hình 3.3. Phổ 1H-NMR
Phổ 1H-NMR của fucoidan phân đoạn F3
(Hình 3.3) thu đƣợc có các tín hiệu proton anomeric
- H1 ở độ dịch chuyển hóa học 5-5,5ppm, tổ hợp các
tín hiệu chồng lấn lên nhau trong vùng 3,3ppm -
4,8ppm là thuộc về proton (H2-H4) của vòng
pyranose, một nhóm các tín hiệu có cƣờng độ lớn
20
trong vùng trƣờng cao 1,2-1,4ppm là các tín hiệu
đặc trƣng cho nhóm CH3 của L-fucose. Bên cạnh đó
trên phổ 1H-NMR của phân đoạn này còn phát hiện
thấy một tín hiệu có cƣờng độ mạnh khác ở độ dịch
chuyển hóa học 2,2ppm chỉ ra sự có mặt của nhóm
Acetyl trong phân tử của phân đoạn fucoidan này.
Nhƣ vậy, qua phân tích phổ 1H-NMR (hình 3.2) cho
ta biết những thông tin cơ bản nhất về đặc trƣng cấu
trúc của fucoidan phân đoạn F3, phân đoạn fucoidan
này có cấu trúc tƣơng đối phức tạp với sự tồn tại của
nhiều nhóm fucose khác nhau về mức độ sulfate hóa
cũng nhƣ kiểu liên kết O-glycoside giữa các gốc
đƣờng này với nhau và/hoặc với gốc đƣờng
galactose. Ngoài ra, trong phân tử của fucoidan phân
đoạn này không chỉ có các nhóm sulfate mà còn có
cả các nhóm acetyl. Tuy nhiên, do sự phức tạp về
cấu trúc nên phổ (hình 3.3) có nhiều vùng tín hiệu
trùng lấp nhau với độ phân giải rất thấp nên rất khó
để có thể giải thích đƣợc một cách rõ ràng hơn về
các tín hiệu trong phổ này. Vì vậy, phổ khối nhiều
lần ESI-MS/MS đƣợc sử dụng là một phƣơng pháp
phân tích hiệu quả để có thêm các thông tin về đặc
điểm cấu trúc của fucoidan F3. Kết quả đo phổ ESI-
MS/MS của phân đoạn F3 đƣợc trình bày trong hình
(3.4a và 3.4b). Qua đó cho thấy tất cả các tín hiệu
nói trên chứng minh mẫu phân đoạn F3 đƣợc tách ra
là fucoidan tinh sạch.
Để sáng tỏ thêm các thông tin cấu trúc khác,
chúng tôi tiến hành đo phổ ESI-MS của F3 với kỹ
thuật phổ khối nhiều lần. Phổ ESI-MS cho thấy có
pic cơ bản tại m/z 243 là của monosulfate fucose
[FucSO3]
-. Tín hiệu tại m/z 225 đƣợc gán cho
[FucSO3-H2O]
- và một tín hiệu ở m/z 405 gắn cho
[FucGal(SO3)2]
−. Để khẳng định vị trí nhóm thể
sulfate trên mạch chính fucose và liên kết giữa mạch
nhánh galactose với mạch chính, 2 tín hiệu tại m/z
243 và 405 của đƣợc tiến hành phá mảnh lần 2, phổ
MS/MS thu đƣợc thể hiện trên hình 3.4a và 3.4b.
Hình 3.4a. Phổ ESI-MS của mảnh m/z 243 Hình 3.4b. Phổ ESI-MS của mảnh m/z 405
Berangere Tissot và CS [15] đã nghiên cứu
ảnh hƣởng của vị trí nhóm sulfate lên phổ MS của
fucose, tín hiệu có cƣờng độ mạnh tại m/z 139 là do
nhóm sulfate tại vị trí C-4 của fucose (Hình 3.4a).
Ta thấy có tín hiệu yếu tại m/z 169 và 1 tín hiệu có
cƣờng độ lớn tại 183 cho thấy sự có mặt nhóm
sulfate tại vị trí C-2.
Phổ ESI-MS/MS của ion [FucGalSO3]
- tại m/z
405 (Hình 3.4b) cho các tín hiệu của các ion mảnh
với cƣờng độ yếu. Tuy nhiên chúng ta có thể nhận
biết đƣợc tín hiệu ở m/z 241(ion mảnh kiểu B1) đặc
trƣng cho cấu trúc của một Galfuc monosulfate với
galactose nằm ở đầu không khử, có nhóm thế sulfate
nằm ở vị trí O-2 và liên kết với fucose ở vị trí O-3
[1716]. Tín hiệu ở m/z 113 đƣợc gán cho mảnh chia
cắt kiểu 0,3A1 (cộng hợp với Na). Tín hiệu ở m/z 310
đƣợc gán cho mảnh chia cắt kiểu 0,2X1 (cộng hợp với
Na). Tín hiệu rất yếu ở m/z 225 và sản phẩm cộng
hợp của nó với Na ở m/z 249 cho thấy một lƣợng
nhỏ gốc fucose 2-O-sulfate cũng có thể nằm ở đầu
không khử. Các tín hiệu khác bao gồm m/z 326 ứng
với ion [FucGalSO3 - SO3]
-, m/z 397 ứng với ion
[FucGalSO3 - H2O]
- và m/z 404 ứng với ion
[FucGalSO3 - H]
-.
4. Kết luận
Fucoidan từ rong Nâu Hormophysa articulata
thu thập ở Vịnh Nha Trang đã đƣợc chiết tách và
phân tích đặc điểm cấu trúc. Kết quả cho thấy hàm
lƣợng fucoidan 2,03% trên trọng lƣợng rong khô. Có
03 phân đoạn fucoidan (F1, F2 và F3) đƣợc thu nhận
sau khi tách phân đoạn tinh chế bằng sắc ký trao đổi
ion, trong đó phân đoạn F3 với thành phần đƣờng
đơn giản nhất chỉ bao gồm Fuc và Gal với tỉ lệ
(Fuc:Gal = 1:0,3) và có hàm lƣợng sulfate lớn nhất
36,3% đƣợc lựa chọn làm phân đoạn đại diện để
phân tích cấu trúc. Phân đoạn này có đặc điểm cấu
trúc bao gồm cả hai loại liên kết O-glycoside (1→3)
và/hoặc (1→4), nhóm sulfate chủ yếu ở vị trí C2
hoặc C4 của gốc Fucose và vị trí C2 của gốc
Galactose
Lời cảm ơn: Công trình được sự hỗ trợ kinh
phí của đề tài cấp trường Đại học Khánh Hòa, mã
số KHTN-18.03. Các tác giả xin trân trọng cảm ơn
TS. Lê Như Hậu (Viện Nghiên cứu và Ứng dụng
Công nghệ Nha Trang) đã giúp đỡ định danh mẫu
rong.
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Anastyuk, S. D., Shevchenko, N. M., Nazarenko, E. L., Dmitrenok, P. S., and Zvyagintseva, T. N,
Structural analysis of a fucoidan from the brown alga Fucus evanescens by MALDI-TOF and tandem
ESI mass spectrometry, Carbohydrate Research, 344(6), 779-787, 2009.
2. Bilan MI, Grachev AA, Ustuzhamina NE, Shashkov AS, Nifantiev NE, Usov AI, A highly regular
fraction of a fucoidan from the brown seaweed Fucus distichus L, Carbohydrate Research, 337, 719-
730, 2002.
3. Bo Li, Fei Lu, Xinjun Wei and Ruixiang Zhao, Fucoidan: Structure and Bioactivity, Molecules, 13,
1671-1695, 2008.
4. Black, W.A.P.; Dewar, E.T.; Woodward, F.N, Manufacture of algal chemicals. IV.-Laboratory-scale
isolation of fucoidin from brown marine algae, J. Sci. Food Agric, 3, 122-129, 1952.
5. Bùi Minh Lý, Đánh giá hiện trạng và Nghiên cứu giải pháp bảo vệ nguồn lợi rong Mơ (Sargassum) tại
Khánh Hòa, Đề tài cấp tỉnh Khánh Hòa, 2010.
6. Choosawad D., Leggat U., Dechsukhum C., Phonggdara A. and Chotigeat W, Anti-tumour
activities of fucoidan from the aquatic plant Utricularia aurea lour, Songklanakarin J. Sci.
Technol., 27 (3), 799-807, 2005.
7. Dubois, M., Gilles, K.A., Hamilton, J.K., Rebers, P.A, and Smith, F. Colorimetric, method for
determination of sugars and related substances, AnalChem, 28, 350-6, 1956.
8. Huynh Q. N and Nguyen H. D, The seaweed resources of Vietnam, A.T Critchley, M. Ohno. Seaweed
resources of the World, Japan, 62-69, 1998.
9. Olesya S. Vishchuk, Svetlana P. Ermakova, Tatyana N. Zvyagintseva, Sunphated polysaccharides from
brown seaweeds Saccharina japonica and Undaria pinnatifida: isolation, structural characteristics,
and antitumor activity, Carbohydrate Research, 346, 2769-2776, 2011.
10. Percival, E.G.V. and Ross, A.G, Fucoidin. Part I. The isolation and purification of fucoidin from brown
seaweeds, Journal of the Chemical Society, 717-720, 1950.
11. Pereira, M. S., Melo, F. R. and Mourão, P. A. S, Is there a correlation between structure and
anticoagulant action of sunphated galactans and sunphated fucans? Glycobiology, 12(10), 573-580,
2002.
12. Ruperes P, Mineral content of edible marine seaweeds, Food chemistry, 79, 23-26, 2002.
13. Vauchel P., Kaas R., Arhaliass A., Baron R. and Legrand J, A new process for extracting alginates
from Laminaria digitata, Reactive Extrusion, Food Bioprocess Technol, 1, 297-300, 2008.
14. Zvyagintseva, T.N.; Shevchenko, N.M.; Popivnich, I.B, A new procedure for the separation of water-
soluble polysaccharides from brown seaweeds, Carbohydr. Res, 322, 32-39, 1999.
15. Tissot, B., Salpin, J. Y., Martinez, M., Gaigeota M. P. &