Độ hòa tan trong nước
Khả năng chịu nước là một đặc tính quan
trọng của màng ăn được, đặc biệt đối với các ứng
dụng trong thực phẩm. Đối với tất cả các màng
được thử nghiệm, độ hòa tan trong nước cao hơn ở
khối lượng glycerol cao được sử dụng. Độ hòa tan
trong nước là 60,01–83,03%, khác biệt có ý nghĩa
thống kê với độ tin cậy là 95%. Fakhouri và Palmu
[14] đã nghiên cứu khả năng hòa tan của gluten lúa
mì và màng celluloza axetat trong nước và báo cáo
các giá trị trong khoảng từ 22,7 đến 100%. Các
màng được chế tạo với glycerol ở mức 7% cho thấy
khả năng hoà tan trong nước của màng làm từ bột
C2 cao hơn màng làm từ bột C1. Tăng lượng chất
hóa dẻo, đặc biệt là glycerol, làm tăng độ ẩm và
WVP của màng. Điều này có lẽ là do chất hóa dẻo
làm gián đoạn tương tác giữa các phân tử giữa các
phân tử polymer. Bên cạnh đó, sự gia tăng nồng độ
chất hóa dẻo làm tăng độ ẩm của màng vì tính chất
thủy hóa cao của chất hóa dẻo cũng góp phần làm
giảm lực giữa các đại phân tử lân cận [11].
Độ hòa tan trong HCl
Độ hòa tan của màng trong HCl tăng khi
khối lượng glycerol được sử dụng tăng lên. Các
màng gluten của bột C1 cho thấy giá trị độ hòa tan
trong HCl 0,1 N thấp hơn khi so sánh với các màng
được làm từ bột C2. Độ hòa tan trong HCl là 39,99–
59,01%, khác biệt có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy
95%. Fakhouri và Palmu [14] đã báo cáo độ hòa tan
của gluten lúa mì và màng cellulose acetate trong
HCl từ 30,5 đến 100%.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chiết xuất Gluten từ bột lúa mì cho sản xuất bao bì ăn được, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 128, Số 1C, 127–134, 2019
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v128i1C.5190 127
CHIẾT XUẤT GLUTEN TỪ BỘT LÚA MÌ CHO SẢN XUẤT
BAO BÌ ĂN ĐƯỢC
Nguyễn Kim Đông*, Nguyễn Văn Bá, Đặng Ngọc Quý, Lâm Thị Kim Ngân
Trường Đại học Tây Đô, 68 Lộ Hậu Thạnh Mỹ (Trần Chiên), P. Lê Bình, Q. Cái Răng, Cần Thơ, Việt Nam
* Tác giả liên hệ Nguyễn Kim Đông
(Ngày nhận bài: 12-04-2019; Ngày chấp nhận đăng: 03-7-2019)
Tóm tắt. Hai loại bột lúa mì được sử dụng là C1 (hàm lượng gluten cao) và C2 (hàm lượng gluten thấp)
dùng để chiết xuất gluten và sử dụng gluten để chế tạo màng ăn được. Hàm lượng gluten khô và gluten
ướt của bột C1 cao hơn so với của bột C2. Loại dung môi chiết xuất lần lượt là nước, nước/etanol (1:1,
v.v), nước muối NaCl 2% và thời gian chiết xuất là 7, 14 và 21 phút. Lượng glycerol sử dụng để tạo màng
lần lượt là 3, 4, 5, 6 và 7 g cho quá trình tạo màng. Kết quả cho thấy dung dịch nước muối 2% với thời
gian rửa là 21 phút cho gluten với độ tinh khiết cao nhất. Độ bền kéo giảm từ 1,630 đến 0,628 g/mm2 và
độ giãn dài tăng từ 4,32 đến 22,14% với sự gia tăng lượng glycerol. Màng chế tạo từ loại bột mì C1 có độ
bền xuyên thủng cao hơn từ C2. Khi lượng glycerol tăng thì độ bền xuyên thủng của màng giảm, trong
khi đó tốc độ truyền hơi nước tăng lên. Độ hòa tan trong nước và HCl của màng chế tạo từ bột lúa mì
C1 thấp hơn so với màng chế tạo từ C2. Hàm lượng gluten có ảnh hưởng đáng kể đến các tính chất của
màng như độ thấm hơi nước, độ bền kéo và độ giãn dài, độ bền xuyên thủng, độ hòa tan trong HCl và
độ hòa tan trong nước.
Từ khóa: màng ăn được, glycerol, gluten, bột mì
Extraction of gluten from wheat flour for manufacturing edible film
Nguyen Kim Dong*, Nguyen Van Ba, Dang Ngoc Quy, Lam Thi Kim Ngan
Tay Do University, 68 Lo Hau Thanh My St., Le Binh Ward, Cai Rang Dist., Can Tho, Vietnam
* Correspondence to Nguyen Kim Đong
(Received: 12 April 2019; Accepted: 03 July 2019)
Abstract. Two types of wheat flour C1 (high-content gluten) and C2 (low-content gluten) were used for
gluten extraction, and the gluten was used to fabricate edible films. The dry and wet gluten content of
C1 is higher than that of C2. The extraction solvents are water, water/ethanol (1:1, v/v), and 2% NaCl
solution. The extraction time is 7, 14, and 21 minutes. The quantity of glycerol used for film formation is
3, 4, 5, 6, and 7 g. The results show that the 2% NaCl solution with a wash time of 21 minutes provides
gluten with the highest purity. The tensile strength decreases from 1.630 to 0.628 g/mm2, and the
elongation increases from 4.32 to 22.14% with the increasing quantity of glycerol. The film fabricated
from C1 has a higher puncture strength than that from C2. When the glycerol quantity increases, the
puncture strength decreases, while the rate of evaporation increases. The film fabricated from C1 has
lower water and HCl solubility than that fabricated from C2. The gluten content has a significant
Nguyễn Kim Đông và CS.
128
influence on the tensile strength, elongation, water vapor permeability, puncture strength, and solubility
in the HCl solution and water of the membrane fabricated from wheat flour.
Keywords: edible film, glycerol, gluten, wheat
1 Mở đầu
Trong những năm qua, màng bọc thực phẩm
được sử dụng khá phổ biến ở các nhà hàng, siêu thị
hay các hộ gia đình. Phần lớn các màng bọc thực
phẩm được sản xuất từ các hợp chất polyme. Tuy
nhiên, việc sử dụng polyme tổng hợp dùng làm
bao bì thực phẩm góp phần làm gia tăng chất thải
gây ô nhiễm môi trường [1]. Chính vì vậy việc phát
triển các loại màng làm bao bì thực phẩm dễ phân
hủy và ăn được đã được phát triển và nghiên cứu
ở nhiều nước trên thế giới. Màng thực phẩm ăn
được được sử dụng nhằm giảm tổn thất độ ẩm, hạn
chế sự hấp thụ oxy, ít di chuyển hàm lượng lipid,
cải thiện các tính chất cơ học, chống hư hỏng vật lý,
hoặc thay thế cho bao bì thương mại [2]. Chính vì
vậy, nhiều nghiên cứu gần đây về lĩnh vực bao bì
và màng bảo quản thực phẩm tập trung vào chế tạo
các loại bao bì ăn được. Chúng được sản xuất từ
các protein thực vật và động vật như gluten lúa mì,
ngô zein, đậu nành, hạt bông, albumin, gelatin,
collagen và casein [3]. Trong đó protein gluten lúa
mì được sử dụng rộng rãi cho màng ăn được [4].
Bên cạnh đó, lúa mì là nguồn nguyên liệu dễ tìm
và có trữ lượng lớn. Tuy nhiên, hiện nay trong
nước chưa thấy có bất cứ nghiên cứu nào về chiết
xuất, tinh chế và ứng dụng gluten để sản xuất
màng thực phẩm ăn được. Vì vậy, nghiên cứu chiết
xuất và tinh chế gluten từ bột lúa mì và ứng dụng
gluten sản xuất màng thực phẩm dùng làm bao bì
ăn được cho thực phẩm là rất cần thiết. Nghiên cứu
này chủ yếu khảo sát các phương pháp chiết xuất
và tinh chế gluten theo thời gian rửa và trong 3 loại
dung môi khác nhau là dung dịch NaCl, nước cất
và etanol. Một số tính chất vật lý và hóa học của
màng gluten như độ bền kéo, độ giãn dài, tỷ lệ
thấm nước của màng và độ hòa tan của màng trong
nước và HCL cũng được phân tích trong nghiên
cứu này.
2 Phương pháp
2.1 Khảo sát loại dung môi và thời gian rửa
Thí nghiệm được tiến hành với các nguyên
liệu bột mì thu mua từ Công ty trách nhiệm hữu
hạn bột mì Đại Phong, khu công nghiệp Trà Nóc,
Bình Thủy, Cần Thơ và các loại dung môi như nước
cất, etanol 96% và NaCl 99,5% (Merck). Cân 100 g
bột mì cho vào cốc sau đó cho thêm 55 mL dung
môi chiết xuất lần lượt là nước, nước/etanol (1:1,
v/v) và dung dịch NaCl 2%. Tiến hành trộn đều
khối bột bằng tay đến khi khối bột có cấu trúc mịn.
Sau đó cho khối bột đã trộn vào khăn lược mỏng
và đem rửa bằng máy bơm đã điều chỉnh lưu
lượng nước. Khối bột được rửa trong 7, 14 và 21
phút. Sau khi rửa xong, phần bột trôi đi và phần
gluten còn dính lại trên vải lọc. Kiểm tra tinh bột
còn sót lại trong gluten bằng dung dịch iot. Xác
định khối lượng gluten ướt và gluten khô sau khi
sấy [5].
2.2 Khảo sát ảnh hưởng của bột nguyên liệu
và lượng glycerol
Cân 15 g gluten khô và hòa tan trong dung
dịch etanol 96% (72 mL) và glycerol 95% (3, 4, 5, 6,
7 g), khuấy trong 10 phút trên máy khuấy từ gia
nhiệt và từ từ thêm 48 mL nước cất và 12 mL dung
dịch ammonia hydroxid 6 N. Glycerol được thêm
vào làm chất hóa dẻo. Tốc độ gia nhiệt được điều
chỉnh sao cho nhiệt độ của dung dịch là 75 ± 1 °C
vào cuối quá trình chuẩn bị. Chuẩn bị các đĩa Petri
và sấy khô ở 60 °C trong 12 giờ. Cho 20 mL dung
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 128, Số 1C, 127–134, 2019
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v128i1C.5190 129
dịch cuối cho vào đĩa Petri và tiến hành sấy ở 35 °C
trong 15 giờ. Cuối cùng, thu được các tấm màng
gluten, tiến hành bảo quản chúng trong túi PE ở
nhiệt độ thường [6]
2.3 Phân tích các chỉ tiêu
Độ bền kéo và độ giãn dài
Độ bền kéo (TS) và giá trị độ giãn dài (E) của
các màng được xác định bằng cách sử dụng thiết bị
đo cấu trúc và phương pháp thử nghiệm tiêu
chuẩn [7]. Chỉnh thiết bị lực kéo với đơn vị là gam.
Mẫu đo có độ dày 1 mm và chiều rộng 40 mm. Lực
kéo được ghi lại cho các màng thử nghiệm. Độ bền
kéo được tính theo công thức:
TS
F
A
=
trong đó F là lực kéo cực đại (g); A là tiết diện của
màng (mm2)
Độ giãn dài được tính theo công thức
Độ giãn dài (%) =
Khoảng cách mẫu được kéo dài
Chiều dài ban đầu của mẫu
× 100
Độ thấm hơi nước
Độ thấm hơi nước (WVP) được thử nghiệm
bằng phương pháp thay đổi khối lượng dựa trên
tiêu chuẩn [8]. Cho 30 mL nước cất vào cốc rồi đặt
màng ở phía trên cốc nước, cố định bằng một chiếc
vòng làm bằng vật liệu chống thấm. Cốc mẫu được
cân để xác định khối lượng ban đầu rồi đặt trong
một buồng kín. Silicagel được sử dụng để kiểm
soát độ ẩm tương đối. Các mẫu được cân 1 lần/giờ
trong suốt 8 giờ. Việc thử nghiệm WVP được lặp
lại 3 lần, và WVP đã được tính toán như sau:
𝑊𝑉𝑃 =
𝑥 × ∆𝑊
𝐴 × ∆𝑡 × (𝑃2 − 𝑃1)
trong đó ΔW là khối lượng nước bị mất (g); Δt là
thời gian thí nghiệm (ngày); A là diện tích tiếp xúc
của màng (m2); x là chiều dày của màng (mm);
P2 – P1 là chênh lệch áp suất hơi trên và dưới màng
(kPa)
Độ bền xuyên thủng
Thử nghiệm sự xuyên thủng màng bằng
cách sử dụng máy phân tích kết cấu (TAXT2I). Các
mẫu có đường kính 20 mm được cố định trên bàn
để mẫu của thiết bị. Đầu dò hình trụ có đường kính
3 mm được di chuyển vuông góc đến bề mặt màng
với tốc độ không đổi 1 mm/giây cho đến khi đầu
dò đi qua bộ màng kết quả đo mẫu thể hiện trên
màn hình thiết bị.
Độ hòa tan trong nước và dung dịch HCl
Tỷ lệ khô ban đầu của mỗi màng được xác
định ở 105 °C trong 24 giờ. Hai đĩa màng (đường
kính 2 cm) đã được cắt, cân và ngâm trong 50 mL
nước cất và 0,1 N HCl và từ từ khuấy trong 24 giờ
ở 25 °C. Các màng sau đó đã được lấy ra và sấy khô
(105 °C, 24 giờ) để xác định khối lượng chất khô
không hòa tan trong nước.
Độ hòa tan =
(𝑀0 – 𝑀1) × 100
𝑀0
trong đó M0 là khối lượng ban đầu của màng; M1 là
khối lượng cuối cùng của màng.
Xử lý số liệu: Số liệu được thu thập và xử lý bằng
phần mềm thống kê SPSS 16.0. Phân tích phương
sai cho sự khác biệt giữa các trung bình của nghiệm
thức với mức ý nghĩa là 0,05.
3 Kết quả và thảo luận
3.1 Ảnh hưởng của dung môi và thời gian rửa
Trong quá trình chiết xuất, dung môi và thời
gian rửa là hai nhân tố ảnh hưởng đến khả năng
chiết xuất gluten trong bột mì nhiều nhất. Dung
môi giúp cho quá trình chiết xuất được diễn ra
bằng cách tạo màng gluten trong bột mì. Mặt khác,
quá trình rửa giúp cho gluten tách khỏi tinh bột
một cách dễ dàng nhưng phụ thuộc vào thời gian.
Khi thời gian càng tăng thì lượng tinh bột được
tách ra càng nhiều đến khi không còn tinh bột còn
sót trên khối gluten.
Nguyễn Kim Đông và CS.
130
Gluten ướt
Bảng 1 và Hình 1 cho thấy khối lượng gluten
ướt thu được có sự khác nhau khi chiết xuất bằng
dung môi và thời gian rửa khác nhau. Khối lượng
gluten dao động từ 23,8 đến 82,4 g và giữa các
nghiệm thức có khác biệt có ý nghĩa thống kê ở
mức độ tin cậy 95%. Khối lượng gluten ướt thu
được thấp nhất là 23,8 g khi chiết xuất bằng etanol
với thời gian rửa là 21 phút. Nguyên nhân là do
etanol làm cho protein kết tủa và gliadin tan trong
dung môi, trong khi đó gliadin là thành phần chính
cấu tạo nên gluten. Khối lượng gluten ướt thu được
cao nhất là 82,4 g khi chiết xuất bằng nước cất trong
thời gian 7 phút. Do việc rửa chỉ trong thời gian 7
phút nên lượng tinh bột còn sót nhiều trên khối bột
dẫn đến hàm lượng gluten ướt còn cao ở mức 82,4
g. Tuy nhiên, việc kiểm tra lượng tinh bột còn sót
lại cũng chỉ mang tính chất định tính và kết quả thể
hiện như trong Bảng 1. Nếu rửa trong thời gian 21
phút với 2 loại dung môi nước cất và nước muối
(2%) thì lượng tinh bột sót lại trong phần gluten
ướt thu được trên vải lọc là không đáng kể.
Bảng 1. Kết quả iểm tra tinh bột còn sót
Loại dung môi 7 phút 14 phút 21 phút
Nước cất Nhiều Ít Không còn
Nước muối (2%) Nhiều Ít Không còn
Nước/etanol (1:1) Nhiều Nhiều Ít
Hình 1. Khối lượng gluten ướt
Chú thích: A1: nước cất; A2: muối (2%); A3: nước/etanol
(1:1); B1: 7 phút; B2: 14 phút; B3: 21 phút; Các số liệu
trong hình là giá trị trung bình của 3 lần lặp lại; Các giá
trị có mẫu tự giống nhau không khác biệt về mặt ý
nghĩa thống kê ở mức độ tin cậy đến 95%.
Kết quả ở Hình 1 cũng cho thấy gluten ướt
thu được ở thời gian 21 phút với nước cất và nước
muối (2%) có sự khác nhau, nhưng sự khác biệt
không có ý nghĩa về thống kê (p > 0,05). Tuy nhiên,
cũng ở thời gian 21 phút nhưng với nước muối
(2%) thì gluten ướt chiết xuất cao hơn khi chiết xuất
bằng nước cất. Vì ở trong nước muối (2%), một số
lipid và protein hòa tan. Như vậy, kết quả thí
nghiệm cho thấy việc chiết xuất gluten ướt bằng
dung dịch nước muối (2%) ở thời gian 21 phút cho
hàm lượng gluten cao nhất.
Xét tương quan hồi quy đa biến, ta có
phương trình tương quan Ygluten ướt = –10,198 × Xloại
dung môi – 22,004 × Xthời gian rửa + 85,493. Giá trị R = 0,919
cho thấy loại dung môi và thời gian rửa có mối
tương quan chặt chẽ đối với hàm lượng gluten ướt.
Giá trị R2 = 0,844 cho thấy ảnh hưởng của loại dung
môi và thời gian rửa là 84,4%, còn lại là do các yếu
tố khác. Bên cạnh đó, giá trị a1 = –10,198 và a2 =
–22,004, cả hai giá trị đều là số âm nên thời gian rửa
và loại dung môi tỷ lệ nghịch với hàm lượng gluten
ướt.
Gluten khô
Hình 2 cho thấy rằng khối lượng gluten dao
động từ 11,7 đến 38 g và giữa các nghiệm thức có
khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức độ tin cậy 95%.
Sau khi sấy, khối lượng gluten khô thu được thấp
nhất là 11,7 g khi chiết bằng dung dịch NaCl 2% và
rửa trong thời gian 21 phút. Điều này là do dung
môi đã hòa tan một số lipid và globulin (một loại
protein tan trong nước muối trung tính) trong quá
trình rửa. Vì vậy, khi chiết bằng dung dịch NaCl
2% và rửa 21 phút, gluten thu được có độ tinh khiết
cao nhất.
Xét tương quan hồi quy đa biến, ta có
phương trình tương quan Ygluten khô = –12,557 × Xloại
dung môi – 1,529 × Xthời gian rửa + 30,988. Giá trị R = 0,857
cho thấy loại dung môi và thời gian rửa có mối
tương quan chặt chẽ đối với hàm lượng gluten ướt.
Giá trị R2 = 0,734 cho thấy ảnh hưởng của loại dung
môi và thời gian rửa là 73,4%, còn lại là do các yếu
tố khác. Bên cạnh đó thời gian rửa và loại dung môi
tỷ lệ nghịch với hàm lượng gluten khô.
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 128, Số 1C, 127–134, 2019
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v128i1C.5190 131
Hình 2. Khối lượng gluten khô
Chú thích: A1: nước cất; A2: muối (2%) A3: nước: etanol
(1:1) B1: 7 phút; B2: 14 phút; B3: 21 phút; Các số liệu
trong hình là giá trị trung bình của 3 lần lặp lại; Các giá
trị có mẫu tự giống nhau không khác biệt về mặt ý
nghĩa thống kê ở mức độ tin cậy đến 95%.
3.2 Ảnh hưởng của glycerol và gluten đến
tính chất của màng
Độ bền kéo (TS) và độ giãn dài (E)
Vật liệu bao gói thực phẩm phải có cường độ
chịu kéo cao để bảo vệ thực phẩm trong quá trình
vận chuyển và bảo quản. Kết quả thí nghiệm cho
thấy giá trị cường độ chịu kéo của các nghiệm thức
dao động từ 1,630 đến 0,628 g/mm2, khác biệt về ý
nghĩa thống kê ở p < 0,001. Theo số liệu ở Bảng 2,
nghiệm thức có TS cao nhất là của loại bột C1 với
khối lượng glycerol sử dụng là 3 g (có ý nghĩa về
mặt thống kê với p < 0,05). Độ bền kéo của các màng
được chế tạo từ bột C1 cao hơn đáng kể (p < 0,05)
so với bột C2 ở tất cả các mức glycerol được sử
dụng.
Bảng 2. Kết quả độ bền kéo và độ giãn dài
Màng gluten TS (g/mm2) E (%)
C1D1 1,630 ± 0,0005j 4,32 ± 0,030a
C1D2 1,234 ± 0,0006i 5,31 ± 0,025b
C1D3 1,003 ± 0,0007f 7,12 ± 0,035e
C1D4 0,893 ± 0,0006e 11,24 ± 0,021g
C1D5 0,798 ± 0,0007d 17,48 ± 0,021i
C2D1 1,233 ± 0,0009h 5,60 ± 0,031d
C2D2 1,005 ± 0,0008g 5,54 ± 0,031c
C2D3 0,789 ± 0,0006c 9,24 ± 0,025f
C2D4 0,770 ± 0,0005b 14,10 ± 0,021h
C2D5 0,628 ± 0,0007a 22,14 ± 0,035k
Ghi chú: Các số liệu trong bảng là giá trị trung bình của 3
lần lặp lại; Các giá trị có mẫu tự giống nhau không khác
biệt về mặt ý nghĩa thống kê ở mức độ tin cậy đến 95%;
C1D1: bột mì gluten cao + 3 g glycerol; C2D1: bột mì
gluten thấp + 3 g glycerol; C1D2: bột mì gluten cao + 4 g
glycerol; C2D2: bột mì gluten thấp + 4 g glycerol; C1D3:
bột mì gluten cao + 5 g glycerol; C2D3: bột mì gluten thấp
+ 5 g glycerol; C1D4: bột mì gluten cao + 6 g glycerol;
C2D4: bột mì gluten thấp + 6 g glycerol; C1D5: bột mì
gluten cao + 7 g glycerol; C2D5: bột mì gluten thấp + 7 g
glycerol.
Trong khi độ giãn dài của màng được chuẩn
bị từ bột C2 cao hơn đáng kể, so với bột C1 ở tất cả
các mức glycerol được sử dụng. Theo số liệu Bảng
2, E tăng theo khối lượng glycerol được sử dụng và
có giá trị trong khoảng 4,32–22,14%, khác biệt có ý
nghĩa thống kê với p < 0,05. Trong đó nghiệm thức
C2D5 cho giá trị cao nhất 22,14%. Tất cả các màng
có khối lượng glycerol thấp có độ bền kéo cao hơn
và độ giãn dài thấp hơn so với màng có khối lượng
glycerol cao. Theo báo cáo của Parris và cs. [9], độ
bền kéo của màng ăn được alginate giảm theo cấp
số nhân khi tăng natri lactat. Trong quá trình sấy
khô dung dịch tạo màng, ethanol và ammonia
hydroxid bốc hơi, cho phép hình thành liên kết
giữa các chuỗi protein. Trong giai đoạn này, sự tiếp
xúc của các chuỗi protein gây ra bởi nồng độ gluten
cao có thể hình thành các liên kết ngang như vậy
trong quá trình hình thành màng; quá trình trùng
hợp xảy ra thông qua liên kết disulfid giữa các
phân tử kỵ nước và hydro. Glycerol đóng vai trò là
chất hóa dẻo, giúp cho các chất trong màng liên kết
tốt với nhau và giúp màng có được độ dẻo thích
hợp.
Hồi quy tuyến tính đơn biến biểu diễn mối quan
hệ giữa glycerol – độ bền kéo, glycerol – độ giãn
dài trong quá trình sản xuất màng
Phương pháp thống kê cho thấy có sự tương
quan giữa các biến này với nhau. Ta có phương
trình hồi quy là
YTS = –6,9 × Xglycerol + 60,64
YE = 3,694 × Xglycerol + 874
Nguyễn Kim Đông và CS.
132
Phương trình hồi quy thể hiện mối tương
quan giữa glycerol và độ bền kéo cho thấy có mối
tương quan chặt chẽ (R = 0,866). Hệ số hồi quy a là
–6,9, cho thấy mối quan hệ này là nghịch biến: khối
lượng glycerol càng tăng thì độ bền kéo giảm. R2 =
0,750 cho nên khối lượng glycerol ảnh hưởng đến
độ bền kéo là 75% còn 25% bị ảnh hưởng bởi các
nhân tố khác. Tương tự phương trình hồi quy giữa
glycerol và độ giãn dài có hệ số hồi quy a là 3,694,
cho thấy mối tương quan đồng biến: khi tăng
glycerol thì độ giãn dài tăng.
Tốc độ thấm hơi nước
Tốc độ thấm hơi nước nên càng thấp càng tốt
vì màng hoặc lớp phủ ăn được sẽ làm chậm quá
trình chuyển ẩm giữa thực phẩm và môi trường,
hoặc giữa hai thành phần của một sản phẩm thực
phẩm không đồng nhất. Các màng được làm từ bột
C2 sử dụng lượng glycerol cao, cho thấy giá trị
WVP (82 g/m2/ngày) cao hơn so với màng được
làm từ bột C1, khác biệt có ý nghĩa thống kê với độ
tin cậy 95%. Giá trị WVP của màng thấp hơn ở khối
lượng glycerol sử dụng thấp.
Glycerol là chất hóa dẻo và được thêm vào
màng để giảm độ giòn, tăng độ dẻo dai và khả
năng chống va đập. Thông thường, việc bổ sung
glycerol làm tăng tính thấm của khí, hơi nước và
chất tan và làm giảm độ bền kéo của lớp màng. Đối
với các màng có khối lượng glycerol sử dụng khác
nhau, giá trị WVP của màng từ bột C2 cao hơn so
với màng từ bột C1. Tương tự có thể được quan sát
thấy trong công trình của Gontard và cs. [10] và
Sobral và cs. [11] báo cáo độ thấm hơi nước tăng
lên với sự gia tăng lượng chất hóa dẻo.
Phương trình biểu diễn mối quan hệ giữa độ
thấm hơi nước (Y) và khối lượng glycerol (X)
Ta có phương trình hồi quy là YThấm hơi nước =
4,805 × XGlycerol + 58,782 với hệ số tương quan R =
0,945 cho thấy có mối tương quan chặt chẽ, hệ số
hồi quy a là 4,805 và R2 = 0,893; vì vậy, lượng
glycerol ảnh hưởng đến độ thấm hơi nước đến
89,3% còn 10,7% bị ảnh hưởng bởi các nhân tố
khác.
Bảng 3. Kết quả độ thấm nước WVP và xuyên thủng
Màng
gluten
WVP
(g/m2/ngày)
Độ bền xuyên thủng
(g)
C1D1 60,13 ± 0,021a 119,00 ± 0,030k
C1D2 68,19 ± 0,021c 110,01 ± 0,036i
C1D3 75,21 ± 0,217e 79,01 ± 0,031f
C1D4 76,33 ± 0,025f 60,02 ± 0,044d
C1D5 80,22 ± 0,025i 41,01 ± 0,060b
C2D1 62,15 ± 0,026b 108,01 ± 0,040h
C2D2 71,11 ± 0,042d 89,02 ± 0,021g
C2D3 77,44 ± 0,057g 76,02 ± 0,025e
C2D4 79,18 ± 0,021h 56,99 ± 0,031c
C2D5 82,00 ± 0,036k 38,01 ± 0,031a
Độ bền xuyên thủng
Màng làm từ bột mì có gluten cao (C1) về chỉ
tiêu độ bền xuyên thủng cao hơn so với màng làm
từ bột gluten thấp (C2). Khi khối lượng glycerol
tăng thì độ bền xuyên thủng giảm. Các màng được
làm từ khối lượng glycerol thấp có độ bền xuyên
thủng cao hơn so với khối lượng glycerol cao. Độ
bền xuyên thủng của màng làm từ bột C1 là 41,01–
119 g và từ bột C2 là 38,01–108,01 g, khác biệt có ý
nghĩa thống kê với độ tin cậy 95%.
Ảnh hưởng của chất hóa dẻo lên độ bền
xuyên thủng được biết đến và giải thích của sự
giảm độ bền xuyên thủng được tìm thấy trong tài
liệu [10, 12] đã quan sát thấy sự giảm tuyến tính
của độ bền xuyên thủng trong các màng gluten từ
1,9 đến 0,3 N, từ 16 đến 33 g glycerol/100 g chất
khô. Theo khoa học polymer cổ điển, các chất hóa
dẻo làm suy yếu các lực phân tử giữa các chuỗi đại
phân tử lân cận, làm tăng thể tích tự do [13]. Do đó,
sự gia tăng nồng độ chất hóa dẻo làm giảm độ bền
xuyên thủng do sự tương tác giữa các phân tử giảm
và làm tăng độ bền xuyên thủng do sự gia tăng tính
di động của các vi phân tử.
Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Tự nhiên
Tập 128, Số 1C, 127–134, 2019
pISSN 1859-1388
eISSN 2615-9678
DOI: 10.26459/hueuni-jns.v128i1C.5190 133
Mối tương quan hồi quy đơn biến giữa độ bền
xuyên thủng và khối lượng glycerol trong quá
trình sản xuất màng
Phương pháp thống kê cho thấy có ảnh
hưởng giữa của khối lượng glycerol lên chỉ tiêu độ
bền xuyên thủng. Phương trình hồi quy có dạng
Yxuyên thủng = –18,900 × Xglycerol + 134,411 với hệ số
tương quan R = 0,978, cho thấy có mối tương quan
chặt chẽ, hệ số hồi quy a là –18,900 và R2 = 0,957. Vì
vậy, khối lượng glycerol ảnh hưởng đến độ bền
xuyên thủng là 95,7% còn 4,3% bị ảnh hưởng bởi
các nhân tố khác.
Độ hòa tan trong nước
Khả năng chịu nước là một đặc tính quan
trọng của màng ăn được, đặc biệt đối với các ứng
dụng trong thực phẩm. Đối với tất cả các màng
được thử nghiệm, độ hòa tan trong nước cao hơn ở
khối lượng glycerol cao được sử dụng. Độ hòa tan
trong nước là 60,01–83,03%, khác biệt có ý nghĩa
thống kê với độ tin cậy là 95%. Fakhouri và Palmu
[14] đã nghiên cứu khả năng hòa tan của gluten lúa
mì và màng celluloza axetat trong nước và báo cáo
các giá trị trong khoảng từ 22,7 đến 100%. Các
màng được chế tạo với glycerol ở mức 7% cho thấy
khả năng hoà tan trong nước của màng làm từ bột
C2 cao hơn màng làm từ bột C1. Tăng lượng chất
hóa dẻo, đặc biệt là glycerol, làm tăng độ ẩm và
WVP của màng. Điều này có lẽ là do chất hóa dẻo
làm gián đoạn tương tác giữa các phân tử giữa các
phân tử polymer. Bên cạnh đó, sự gia tăng nồng độ
chất hóa dẻo làm tăng độ ẩm của màng vì tính chất
thủy hóa cao của chất hóa dẻo cũng góp phần làm
giảm lực giữa các đại phân tử lân cận [11].
Độ hòa tan trong HCl
Độ hòa tan của màng trong HCl tăng khi
khối lượng glycerol được sử dụng tăng lên. Các
màng gluten của bột C1 cho thấy giá trị độ hòa tan
trong HCl 0,1 N thấp hơn khi so sánh với các màng
được làm từ bột C2. Độ hòa tan trong HCl là 39,99–
59,01%, khác biệt có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy
95%. Fakhouri và Palmu [14] đã báo cáo độ hòa tan
của gluten lúa mì và màng cellulose acetate trong
HCl từ 30,5 đến 100%.
Mối tương quan hồi quy tuyến tính giữa khối
lượng glycerol và độ hòa tan trong nước, khối
lượng glycerol và độ hòa tan trong HCl trong
quá trình sản xuất màng
Phương pháp thống kê cho thấy có sự tương
quan giữa độ hòa tan trong nước, độ hòa tan trong
HCl và khối lượng glycerol. Ta có phương trình hồi
quy:
Ytan HCl = 3,984 × Xglycerol + 37,295
Ytan H2O = 4,555 × Xglycerol+ 60,651
Phương trình hồi quy tuyến tính giữa độ hòa
tan trong HCl và khối lượng glycerol với hệ số
tương quan R = 0,975 cho thấy có mối tương quan
chặt chẽ, hệ số hồi quy a là 3,984, R2 = 0,950; vì vậy,
khối lượng glycerol ảnh hưởng đến độ hòa tan
trong nước, độ hòa tan trong HCl đến 95% còn 5%
bị ảnh hưởng bởi các nhân tố khác. Tương tự,
phương trình hồi quy tuyến tính giữa độ hòa tan
trong nước và khối lượng glycerol có hệ số hồi quy
4,555, cho thấy mối tương quan đồng biến tức
glycerol tăng thì độ hòa tan trong nước tăng.
Bảng 4. Kết quả độ hòa tan trong HCl, tan trong nước
Màng gluten Tan trong HCl (%) Tan trong nước (%)
C1D1 39,99 ± 0,031a 60,01 ± 0,021a
C1D2 44,41 ± 0,031c 67,02 ± 0,026b
C1D3 48,99 ± 0,040e 75,01 ± 0,031e
C1D4 52,03 ± 0,036g 79,02 ± 0,025g
C1D5 55,03 ± 0,031i 81,04 ± 0,036i
C2D1 42,02 ± 0,021b 69,02 ± 0,021c
C2D2 45,98 ± 0,021d 71,02 ± 0,021d
C2D3 50,99 ± 0,021f 77,98 ± 0,021f
C2D4 54,00 ± 0,035h 80,03 ± 0,026h
C2D5 59,01 ± 0,031k 83,03 ± 0,031k
Nguyễn Kim Đông và CS.
134
4 Kết luận
Trong quá trình chế tạo màng gluten, loại
dung môi tốt nhất là dung dịch NaCl 2% với thời
gian rửa 21 phút. Khối lượng glycerol 3, 4, 5, 6 và 7
g đã được sử dụng trong quá trình tạo màng. Độ
bền kéo giảm từ 1,630 đến 0,628 g/mm2 và độ giãn
dài tăng từ 4,32 đến 22,14% với sự gia tăng khối
lượng glycerol. Màng được làm từ loại bột mì C1
có độ bền xuyên thủng cao hơn C2. Khi khối lượng
glycerol tăng thì độ bền xuyên thủng của màng
giảm, trong khi đó độ thấm hơi nước tăng lên. Độ
hòa tan trong nước và HCl của lớp màng chế tạo từ
bột lúa mì C1 thấp hơn so với màng chế tạo từ C2.
Tài liệu tham khảo
1. Malathi AN, Santhosh KS, Nidoni U. Recent trends
of biodegradable polymer: biodegradable films for
food packaging and application of nanotechnology
in biodegradable food packaging. Current Trends in
Technology and Science. 2014;3(2):73-79.
2. Bourtoom T. Edible protein films: properties
enhancement. International Food Research Journal.
2009;16:1-9.
3. Tharanathan RN. Biodegradable films and
composite coatings: Past, present and future. Trends
in Food Science Technology. 2003;14:71-78.
4. Guo X, Lu Y, Cui H, Jia X, Bai H, Ma Y. Factors
Affecting the Physical Properties of Edible
Composite Film Prepared. 2012;17(4):3794-3804.
5. The Grain and Feed Trade Association. Method 34:1-
Gafta. Determination of wet gluten in wheat flour –
Hand washing [internet]; 2014. Available from:
https://www.gafta.com/write/MediaUploads/Contr
acts/2014/method_26.1_2014.pdf.
6. Jirukkakul N. The study of edible film production
from unriped banana flour and riped banana puree.
International Food Research Journal. 2016;23(1):95-
101.
7. ASTM D882-97. Standard test method for tensile
properties of thin plastic sheeting. 1997.
8. ASTM E96-2000. Standard test method for water
vapor transmission of materials. 2000.
9. Parris N, Coffin DR, Joubran RF, Pessen H.
Composition Factors Affecting the Water Vapor
Permeability and Tensile Properties of Hydrophilic
Films. Journal of Agricultural Food Chemistry.
1995;43(6):1432-1435.
10. Gontard N, Guilbert S, Cuq JL. Water and glycerol
as plasticizers affect mechanical and water vapor
barrier properties of an edible wheat gluten film.
Journal of Food Science. 1993;58(1):206-211.
11. Sobral P, Menegalli F, Hubinger M, Roques M.
Mechanical, water vapor barrier and thermal
properties of gelatin based edible films. Food
Hydrocolloids. 2001;15(4-6):423-432.
12. Bourtoom T. Plasticizer effect on the properties of
biodegradable blend film from rice starch-chitosan.
Songklanakarin Journal of Science and Technology.
2008;30(1S):149-165.
13. Jastrzebski ZD. The nature and properties of
engineering materials. 3rd ed. New York: John
Wiley and Sons; 1987.
14. Fakhouri FM, Palmu T. Characterization of
composite biofilms of wheat gluten and cellulose
acetate phthalate. Journal of Chemical Engineering.
2004;21(2):261-264.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
chiet_xuat_gluten_tu_bot_lua_mi_cho_san_xuat_bao_bi_an_duoc.pdf