Trong những năm gần đây, Chính phủ đã
xây dựng và ban hành nhiều cơ chế, chính sách
quan trọng trong việc hỗ trợ nguồn tài chính
bền vững cho các hoạt động bảo vệ rừng và
bảo tồn đa dạng sinh học. Đây được xem là
những chính sách đột phá cho việc xã hội hóa
các nguồn đầu tư, góp phần tìm kiếm nguồn tài
chính bền vững cho bảo tồn nguồn tài nguyên
thiên nhiên. Các cơ chế tài chính cấp quốc gia
và địa phương tuy có nhiều tiềm năng nhưng
hiện tại hầu như chưa được xây dựng và vận
hành có hiệu quả, vì vậy mà nhiều cơ hội tăng
nguồn tài chính cho công tác bảo tồn đa dạng
sinh học còn hạn chế. Có thể nói hiện nay hầu
hết các đơn vị quản lý rừng đặc dụng vẫn đang
loay hoay trong việc tìm kiếm nguồn tài chính
bền vững cho các hoạt động bảo vệ tài nguyên
rừng và đa dạng sinh học. Các VQG/KBTTN
đều phải đối mặt với rất nhiều thách thức và áp
lực lên nguồn tài nguyên rừng ngày càng tăng.
Mặt khác, hiện tại chưa có một nghiên cứu
đánh giá tổng quan nào về các nguồn thu và cơ
chế tài chính bền vững đối với các
VQG/KBTTN trên phạm vi toàn quốc, trong
khi nhiều chính sách liên quan đến đầu tư và
cơ chế tài chính cho rừng đặc dụng sẽ hết hiệu
lực vào năm 2020.
Đối với hoạt động của các VQG/KBTTN,
nguồn tài chính chủ yếu hiện này là từ ngân
sách nhà nước, một phần nhỏ từ các hoạt động
DLST, chi trả dịch vụ MTR và các chương
trình/dự án khác. Những khó khăn, bất cập về
đầu tư và cơ chế tài chính đối với rừng đặc
dụng thể hiện trên bốn khía cạnh: (i) đầu tư và
cơ chế tài chính từ ngân sách nhà nước cho
hoạt động BTTN và ĐDSH; (ii) kinh phí sự
nghiệp thường xuyên của các VQG/KBTTN;
(iii) huy động các nguồn tài chính ngoài ngân
sách nhà nước cho hoạt động của các
VQG/KBTTN; (iv) thực hiện các chính sách
hỗ trợ đối với cộng đồng dân cư vùng đệm của
các VQG/KBTTN. Các ý kiến đề xuất được
tập trung vào hai nhóm gồm: (i) nguồn và cơ
chế tài chính từ ngân sách nhà nước cho BTTN
và ĐDSH; (ii) nguồn và cơ chế tài chính ngoài
ngân sách nhà nước. Nếu các đề xuất nêu trên
được thực hiện thì khả năng thu hút đầu tư và
nguồn tài chính cho các khu rừng đặc dụng sẽ
được nâng cao, đồng thời hiệu quả quản lý, sử
dụng nguồn tài chính này sẽ được cải thiện,
góp phần bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng
tốt hơn. Tuy nhiên điều này đòi hỏi sự điều
hành của Chính phủ và sự phối hợp giữa các
Bộ, ngành và địa phương trong hoàn thiện cơ
chế tổ chức, quản lý và điều tiết ngân sách cho
các VQG/KBTTN.
11 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chính sách đầu tư và cơ chế tài chính bền vững cho hoạt động của các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Kinh tế & Chính sách
122 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020
CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ VÀ CƠ CHẾ TÀI CHÍNH BỀN VỮNG CHO HOẠT
ĐỘNG CỦA CÁC VƯỜN QUỐC GIA VÀ KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
Trần Thị Thu Hà1, Phùng Văn Khoa1, Đào Lan Phương1
1Trường Đại học Lâm nghiệp
TÓM TẮT
Việt Nam có 2.155.178 ha rừng đặc dụng, chiếm 14,87% tổng diện tích rừng, với trên 96% là rừng tự nhiên có
mức độ đa dạng sinh học cao. Phần lớn diện tích này đều do các ban quản lý rừng đặc dụng quản lý, phân bố
trên khắp cả nước. Mục tiêu của của nghiên cứu là nhằm đánh giá tình hình thực hiện chính sách đầu tư và cơ
chế tài chính, trên cơ sở đó đề xuất các chính sách đầu từ và cơ chế tài chính bền vững cho hoạt động của các
vườn quốc gia (VQG) và khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy còn
nhiều vướng mắc, hạn chế liên quan đến cơ chế chính sách, cơ hội tiếp cận, khả năng huy động và thu hút vốn
đầu tư và cơ chế quản lý tài chính của các VQG/KBTTN, dẫn đến hiệu quả bảo tồn và phát triển tài nguyên
rừng chưa cao, khả năng tự chủ tài chính của các ban quản lý rừng đặc dụng hạn chế. Các đề xuất tập trung vào
hai nhóm gồm: (i) nguồn và cơ chế tài chính từ ngân sách nhà nước với 07 đề xuất; (ii) nguồn và cơ chế tài
chính ngoài ngân sách nhà nước với 06 đề xuất.
Từ khoá: Chính sách đầu tư, cơ chế tài chính bền vững, khu bảo tồn thiên nhiên, rừng đặc dụng, vườn
quốc gia.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo kết quả công bố hiện trạng rừng toàn
quốc tại Quyết định số 911/QĐ-BNN-TCLN
ngày 19/03/2019 của Bộ Nông nghiệp và
PTNT, tính đến 31/12/2018 diện tích rừng đặc
dụng là 2.155.178 ha, chiếm 14,87 % tổng diện
tích rừng, trong đó hầu hết là rừng tự nhiên
(chiếm trên 96% tổng diện tích rừng đặc
dụng), có mức độ đa dạng sinh học cao. Hiện
tại, phần lớn diện tích rừng đặc dụng này đều
do các ban quản lý rừng đặc dụng quản lý với
2.056.504 ha (Bộ Nông nghiệp và PTNT,
2019). Với diện tích rộng lớn và phân bổ trên
khắp các địa bàn trong cả nước, để có thể duy
trì vận hành ổn định và lâu dài các hoạt động
bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học trong hệ
thống các khu rừng đặc dụng, đòi hỏi phải có
nguồn tài chính lớn, được duy trì một cách
thường xuyên và bền vững. Hiện nay, phần lớn
nguồn tài chính đầu tư vào các khu rừng đặc
dụng là từ ngân sách nhà nước, một phần từ
nguồn vốn ODA thông qua các dự án tài trợ,
nhưng nguồn vốn này lại đang có xu hướng
giảm dần sau khi Việt Nam trở thành nước có
thu nhập trung bình năm 2010.
Mặt khác, mặc dù rừng đặc dụng thuộc sở
hữu nhà nước nhưng lại được quản lý bởi
nhiều chủ thể khác nhau, ở các cấp trung ương
và địa phương, mỗi một chủ thể lại có các
nguồn và cơ chế tài chính khác nhau, do các
quy định về phân cấp quản lý khác nhau làm
cho quá trình quản lý về nghiệp vụ và theo địa
lý hành chính rất phức tạp và đa dạng, dẫn đến
các nguồn tài chính cũng rất khác nhau
(Emerton và cộng sự, 2011). Cũng cần nhận rõ
là hiện nay các nguồn tài chính cho bảo vệ và
phát triển rừng ngày càng đa dạng và xuất hiện
những hình thức mới, với sự tham gia của
nhiều thành phần xã hội, cả trong nước và
quốc tế. Tác động của các công ước và thể chế
tài chính quốc tế cũng ảnh hưởng nhiều đến
bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng đặc dụng ở
nước ta hiện nay. Một số nguồn tài chính ngoài
ngân sách nhà nước như chi trả dịch vụ môi
trường rừng (DVMTR), cho thuê môi trường
rừng hoặc kinh doanh du lịch sinh thái (DLST)
được cho là những nguồn tài chính đóng vai
trò quan trọng, duy trì sự phát triển bền vững
của các khu rừng đặc dụng.
Tuy nhiên, trên thực tế do còn nhiều vướng
mắc, hạn chế liên quan đến cơ chế chính sách,
cơ hội tiếp cận, khả năng huy động và thu hút
vốn đầu tư, cơ chế quản lý mà các nguồn tài
chính dành cho hoạt động của các VQG và
KBTTN vẫn bị đánh giá là thiếu tính bền vững
và hiệu quả sử dụng thấp (Trương Tất Đơ,
2018). Chính vì vậy, việc nhìn nhận, đánh giá
Kinh tế & Chính sách
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020 123
và đổi mới chính sách đầu tư và cơ chế tài
chính để đảm bảo tính bền vững, tạo động lực
thúc đẩy các hoạt động quản lý, bảo vệ và bảo
tồn hệ thống các khu rừng đặc dụng của các
VQG và KBTTN là yêu cầu cấp thiết đặt ra
trong bối cảnh mới hiện nay. Mục tiêu của của
nghiên cứu là nhằm đánh giá tình hình thực
hiện chính sách đầu tư và cơ chế tài chính, xác
định các vấn đề, bất cập và khoảng trống trong
thực hiện các chính sách này ở các
VQG/KBTTN tại các tỉnh khảo sát, trên cơ sở
đó đề xuất các chính sách đầu từ và cơ chế tài
chính bền vững cho hoạt động của các VQG và
KBTTN ở Việt Nam.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp: Nghiên
cứu thực hiện thu thập và tổng hợp các báo cáo
nghiên cứu của các Bộ ngành và địa phương,
các chuyên gia/nhà quản lý và các
VQG/KBTTN tại các hội thảo, các bài báo
đăng trên tạp chí khoa học. Ngoài ra, các văn
bản chính sách, Luật và dưới Luật về đầu tư và
cơ chế tài chính đối với rừng đặc dụng cũng
được rà soát, hệ thống hoá và phân tích.
Bảng 1. Danh sách các VQG/KBTTN khảo sát theo vùng
TT Đơn vị điều tra/khảo sát Địa phương
I Vùng Trung du và miền núi phía Bắc
1 VQG Ba Bể Tỉnh Bắc Kạn
2 VQG Tam Đảo Tỉnh Vĩnh Phúc
3 KBTTN Ngọc Sơn - Ngổ Luông Tỉnh Hoà Bình
4 KBTTN Nam Xuân Lạc Tỉnh Bắc Kạn
II Vùng Đồng bằng Bắc bộ
5 VQG Cát Bà TP. Hải Phòng
6 VQG Xuân Thuỷ Tỉnh Nam Định
7 VQG Cúc Phương Tỉnh Ninh Bình
III Vùng Bắc trung bộ
8 Khu BTNT Xuân Liên Tỉnh Thanh Hoá
9 VQG Pù Mát Tỉnh Nghệ An
10 VQG Phong Nha - Kẻ Bảng Tỉnh Quảng Bình
(Nguồn: Khảo sát thực địa, 2018)
Thu thập số liệu sơ cấp: Chúng tôi tiến hành
điều tra khảo sát bằng phiếu khảo sát và phỏng
vấn sâu tại 10 VQG/KBTTN của 03 vùng gồm
trung du và miền núi phía Bắc, đồng bằng Bắc
bộ và Bắc trung bộ, phân bố trên địa bàn 9
tỉnh/thành phố (chi tiết Bảng 1). Nội dung
chính của khảo sát là nhằm làm rõ hơn những
vấn đề quan tâm như khó khăn và khoảng
trống trong thực hiện các chính sách về đầu tư
và cơ chế tài chính đối với các VQG/KBTTN,
đề xuất từ các đơn vị trực tiếp quản lý rừng đặc
dụng nhằm đảm bảo nguồn tài chính ổn định,
bền vững cho hoạt động quản lý, bảo vệ và
phát triển tài nguyên rừng.
Xử lý và phân tích số liệu: Toàn bộ các
phiếu khảo sát và thông tin thu thập được xử lý
và phân tích định tính theo từng nhóm chủ đề
của các nội dung nghiên cứu gồm: (i) Thực
trạng thực hiện chính sách đầu tư và cơ chế tài
chính đối với rừng đặc dụng; (ii) Những bất
cập trong thực thi chính sách đầu tư và cơ chế
tài chính tại các VQG/KBTTN; (iii) Những đề
xuất về chính sách đầu tư và cơ chế tài chính
đối với các VQG/KBTTN.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thực trạng hệ thống rừng đặc dụng và
cơ chế quản lý của các VQG/KBTTB
Tính đến tháng 11 năm 2018, cả nước có
164 khu rừng đặc dụng, trong đó: 33 VQG, 57
khu dự trữ thiên nhiên, 12 khu bảo tồn loài-
sinh cảnh, 53 khu bảo vệ cảnh quan và 9 khu
rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học. Theo
Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2014
của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch hệ
thống rừng đặc dụng đến năm 2020, tầm nhìn
2030, tổng diện tích rừng đặc dụng sẽ là
2.462.000 ha, với 176 khu trong đó có 34 VQG
và 58 KBTTN (Tổng cục Lâm nghiệp, 2018).
Kinh tế & Chính sách
124 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020
Bảng 2. Các VQG/KBTTN thuộc hệ thống rừng đặc dụng
Loại KBT thuộc hệ thống rừng đặc dụng Số lượng Diện tích (ha)
Vườn quốc gia 33 1.152.462,43
Khu BTTN
Khu dự trữ thiên nhiên 57 1.026.085
Khu bảo tồn loài - sinh cảnh 12 34.820,4
Khu bảo vệ cảnh quan 53 86.365,75
Khu rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học 9 10.838,16
Tổng 164 2.310.571,74
(Nguồn: Tổng cục Lâm nghiệp, 2018)
Trước thời điểm 1/1/2019, hệ thống rừng
đặc dụng được quản lý theo quy định tại Nghị
định số 117/2010/NĐ-CP, ngày 24/12/2010
của Chính phủ về tổ chức và quản lý hệ thống
rừng đặc dụng. Hiện tại, theo Nghị định
số156/2018/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm
2018 quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Lâm nghiệp (Nghị định số 117/2010/NĐ-
CP đã hết hiệu lực), trách nhiệm quản lý rừng
đặc dụng gồm 2 cấp: (i) Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm trước
Chính phủ quản lý nhà nước đối với hệ thống
rừng đặc dụng trong phạm vi cả nước; trực tiếp
tổ chức quản lý khu rừng đặc dụng nằm trên
địa bàn 02 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương trở lên; (ii) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
quản lý nhà nước đối với hệ thống rừng đặc
dụng ở địa phương. Như vậy, trong 164 khu
rừng đặc dụng có 06 VQG được phân cấp quản
lý ở Trung ương, 09 khu rừng thực nghiệm
nghiên cứu khoa học được phân cấp cho Viện
khoa học Lâm nghiệp Việt Nam quản lý. Các
khu rừng đặc dụng còn lại được phân cấp cho
UBND cấp tỉnh quản lý theo chỉ đạo của Chính
phủ, nhưng có một số tỉnh giao cho Sở Nông
nghiệp và PTNT hoặc Chi cục Kiểm lâm trực
tiếp quản lý.
Về chính sách đầu tư, theo Nghị định
số156/2018/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm
2018 quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Lâm nghiệp, nhà nước đảm bảo ngân sách
đầu tư cho các hoạt động bảo vệ và phát triển
rừng đặc dụng như hoạt động quản lý của các
ban quản lý rừng; trồng, chăm sóc, bảo vệ và
khoanh nuôi tái sinh rừng; kiểm kê, theo dõi,
giám sát tài nguyên rừng và đa dạng sinh học;
điều tra, kiểm kê và công bố hiện trạng rừng;
quản lý thông tin về lâm nghiệp và cơ sở dữ
liệu về rừng; sưu tập tiêu bản thực vật rừng,
động vật rừng... Ngoài ra, ngày 01/06/2012,
Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số
24/2012/QĐ-TTg về chính sách đầu tư phát
triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011-2020. Đây
là một trong những văn bản thuộc Quy định
chuyển tiếp (Điều 91, Nghị định
số156/2018/NĐ-CP) vẫn còn hiệu lực thi hành
đến hết thời hạn là năm 2020.
3.2. Nguồn và cơ chế tài chính hiện đang áp
dụng tại các VQG/KBTTN
a. Nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước
Theo Quyết định 24/2012/QĐ-TTg, tổng
vốn đầu tư và vốn sự nghiệp từ ngân sách nhà
nước cho chính sách này là 5.500 tỷ đồng,
trong đó vốn đầu tư là 50%, ngân sách nhà
nước đảm bảo cấp kinh phí sự nghiệp thường
xuyên; kinh phí quản lý bảo vệ rừng với mức
trung bình 100.000 đồng/ha/năm; đồng thời hỗ
trợ mỗi cộng đồng dân cư thôn bản ở vùng
đệm của các VQG/KBTTN 40 triệu đồng/năm
cho đầu tư nâng cao năng lực phát triển sản
xuất. Đối với Quyết định số 886/QĐ-TTg, tổng
mức vốn thực hiện chương trình là 59.600 tỷ
đồng, trong đó ngân sách trung ương cho
chương trình là 14.575 tỷ đồng (chi cho đầu tư
phát triển và vốn sự nghiệp), vốn ODA và các
nguồn vốn hợp pháp khác là 45.025 tỷ đồng.
Các BQL rừng đặc dụng được cấp kinh phí
khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình, cộng đồng
dân cư thôn bản với mức bình quân 300.000
đồng/ha/năm.
Kinh tế & Chính sách
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020 125
Bảng 3. Chính sách đầu tư và nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước đang áp dụng cho các
VQG/KBTTN
TT Chính sách/chương trình Cơ chế tài chính áp dụng
1
Quyết định số 886/QĐ-Ttg ngày 16
tháng 6 năm 2017 về phê duyệt
Chương trình mục tiêu phát triển lâm
nghiệp bền vững giai đoạn 2016-
2020
- Đầu tư bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học các
hệ sinh thái rừng đặc dụng.
- Mức khoán bảo vệ rừng bình quân là 300.000
đồng/ha/năm
2
Quyết định 24/2012/QĐ-Ttg ngày
01/06/2012 về Chính sách đầu tư
phát triển rừng rừng đặc dụng giai
đoạn 2011-2020
- Nhà nước cấp kinh phí sự nghiệp thường xuyên;
- Nhà nước cấp kinh phí quản lý bảo vệ rừng ổn định
trung bình 100.000 đồng/ha/năm
- Nhà nước đầu tư cho mỗi cộng đồng dân cư thôn
bản vùng đệm 40 triệu đồng/năm
3
Nghị định 75/2015/NĐ-CP ngày
09/09/2015 về Cơ chế, chính sách
bảo vệ và phát triển rừng gắn với
chính sách giảm nghèo nhanh, bền
vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc
thiểu số giai đoạn 2015-2020
- Hỗ trợ khoán bảo vệ rừng đặc dụng cho hộ gia đình,
cộng đồng dân cư thôn: 400.000 đồng/ha/năm
4
Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày
27/12/2008 của Chính phủ về
Chương trình hỗ trợ giảm nghèo
nhanh và bền vững đối với 61 huyện
nghèo
- Hỗ trợ hộ gia đình nhận khoán chăm sóc, bảo vệ
rừng đặc dụng 200.000 đồng/ha/năm
(Nguồn: Trần Thị Thu Hà và cộng sự, 2018)
Theo Nghị định 75/2015/NĐ-CP, ngân sách
nhà nước đảm bảo các khoản chi cho hoạt
động khoán bảo vệ rừng của các BQL rừng đặc
dụng được bố trí hàng năm trong Kế hoạch bảo
vệ và phát triển rừng và được phân bổ như sau:
(1) Ngân sách trung ương hỗ trợ 100% kinh
phí đối với các địa phương chưa tự cân đối
được ngân sách; (2) Ngân sách trung ương hỗ
trợ 50% kinh phí đối với địa phương có tỷ lệ
điều tiết nguồn thu về trung ương dưới 50%;
ngân sách địa phương đảm bảo 50% nhu cầu
kinh phí. Theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP,
các BQL rừng đặc dụng thuộc danh mục 61
huyện nghèo sẽ được nhận hỗ trợ bình quân
200.000 đồng/ha/năm để giao khoán chăm sóc,
bảo vệ rừng cho các hộ gia đình đối với rừng
đặc dụng.
Thực tế điều tra khảo sát tại các địa phương
cho thấy nguồn ngân sách nhà nước cho hoạt
động của các VQG/KBTTN đều thuộc 04
chương trình/chính sách nêu trên. Tuy nhiên
do đặc thù và khả năng về nguồn ngân sách
của các địa phương nên việc thực hiện chính
sách không giống nhau.
* Đối với nguồn ngân sách cho chi thường
xuyên và công tác bảo vệ rừng:
Ngân sách nhà nước cho chi thường xuyên
là nguồn tài chính chủ yếu đảm bảo cho sự tồn
tại và phát triển của các VQG/KBTTN hiện
nay. Tuy nhiên có sự khác biệt rất lớn giữa các
VQG/KBTTN trực thuộc trung ương và địa
phương, một số VQG trực thuộc Tổng cục
Lâm nghiệp và phần lớn VQG trực thuộc
UBND tỉnh. Trong phạm vi một tỉnh, cùng là
đơn vị quản lý rừng đặc dụng nhưng VQG trực
thuộc UNBD tỉnh, trong khi KBTTN lại trực
thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT. Điểm chung
là hầu hết ngân sách cho chi thường xuyên đều
không đảm bảo theo quy định về biên chế cho
kiểm lâm VQG/KBTTN (500 ha/1 kiểm lâm
viên), nhiều đơn vị có diện tích rừng bình quân
1 kiểm lâm viên từ 1.000 ha trở lên và thiếu
hụt lên đến 50% đều phải ký hợp đồng bảo vệ
rừng và sử dụng kinh phí quản lý bảo vệ rừng
Kinh tế & Chính sách
126 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020
với mức 100.000 đồng/ha/năm cho lực lượng
chuyên trách bảo vệ rừng. Nguồn kinh phí hạn
chế, lực lượng mỏng lại phải duy trì kiểm soát
trên một diện tích tương đối lớn, nguy cơ bị
xâm phạm cao đã gây ra rất nhiều khó khăn và
áp lực cho các BQL rừng đặc dụng trong công
tác bảo vệ rừng. Nhìn chung, định mức chi sự
nghiệp thường xuyên của các tỉnh cho các
VQG/KBTTN hiện nay là khá thấp, về cơ bản
không đủ bù đắp nhu cầu chi phí thiết yếu của
các VQG/KBTTN (Nguyễn Viết Cách, 2018).
* Nguồn chi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
Đây là nguồn tài chính quan trọng để tạo cơ
sở vật chất đảm bảo cho hoạt động quản lý và
thực hiện các dịch vụ của VQG/KBTTN.
Thông qua hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản
các VQG/KBTTN sẽ có được cơ sở vật chất tốt
để làm việc hiệu quả hơn, đồng thời giúp phát
huy khả năng phát triển các dịch vụ du lịch
sinh thái và do đó tăng nguồn thu cho đơn vị.
Tuy nhiên nguồn vốn này khá lớn và phụ thuộc
nhiều vào khả năng ngân sách của trung ương
và địa phương. Ở hầu hết các VQG/KBTTN
ngân sách nhà nước chỉ đảm bảo được các
hạng mục như văn phòng làm việc, trạm quản
lý bảo vệ rừng, đường giao thông, trang thiết bị
dự báo cháy trong khi đối với hạng mục như
vườn sưu tập, trung tâm cứu hộ... thì phụ thuộc
vào khả năng thu hút đầu tư từ các tổ chức
quốc tế và đối với hạng mục phục vụ du lịch
sinh thái thì chỉ có những VQG lớn và có tiềm
năng phát triển du lịch, thu hút các doanh
nghiệp đầu tư vào hoạt động du lịch sinh thái
như Phong Nha - Kẻ Bàng, Bi Đúp - Núi Bà,
Cát Tiên... mới có khả năng phát triển cơ sở hạ
tầng.
* Thực hiện chính sách hỗ trợ cộng đồng
tham gia vào các hoạt động bảo vệ rừng
Một là, hỗ trợ kinh phí giao khoán cho hộ
gia đình và cộng đồng dân cư thôn bản theo 02
chính sách: (i) Các BQL rừng đặc dụng được
nhận kinh phí để thực hiện giao khoán cho hộ
và cộng đồng dân cư thôn bản theo Nghị định
75/2015/NĐ-CP với mức 400.000
đồng/ha/năm; (ii) Những BQL rừng đặc dụng
nằm trên địa bàn 61 huyện nghèo được nhận
kinh phí thực hiện giao khoán theo Nghị quyết
30a/2008/NQ-CP với mức 200.000
đồng/ha/năm. Tại một số địa phương, nếu BQL
rừng đặc dụng đã được hưởng theo Nghị quyết
30a/2008/NQ-CP thì sẽ không được nhận thêm
hỗ trợ theo Nghị định 75/2015/NĐ-CP nữa.
Đây cũng là tình trạng chung của hầu hết các
tỉnh, do hạn chế về ngân sách nên tổng kinh
phí cấp không đủ (chỉ đảm bảo 2/3 hoặc thậm
chí 1/3 diện tích), dẫn đến các BQL rừng đặc
dụng phải chia đều cho diện tích, dẫn đến đơn
giá giảm.
Hai là, ngân sách nhà nước hỗ trợ đầu tư
cho cộng đồng dân cư thôn bản vùng đệm để
đồng quản lý rừng đặc dụng với mức 40 triệu
đồng/thôn bản/năm. Khoản kinh phí này được
chi cho các nội dung đầu tư nâng cao năng lực
phát triển sản xuất và hỗ trợ vật liệu xây dựng
kết cấu hạ tầng của thôn bản.
Như vậy, có thể thấy ngân sách nhà nước là
nguồn tài chính chủ yếu cho các hoạt động và
sự phát triển của các VQG/KBTTN (chiếm tới
trên 90%, theo đánh giá của Bộ NN&PTNT tại
06 VQG thuộc Bộ) nhưng nguồn này lại luôn
thiếu so với định mức và yêu cầu thực tế của
các đơn vị. Kết quả khảo sát 33 VQG/KBTTN
năm 2016 cho thấy, 78,07% tổng nguồn thu có
nguồn từ NSNN, 18,5% có nguồn từ chi trả
DVMTR, chỉ có 3,43% có nguồn từ dịch vụ du
lịch (Trương Tất Đơ, 2018).
b. Nguồn thu từ chi trả dịch vụ môi
trường rừng
Theo báo cáo của Tổng cục Lâm nghiệp,
năm 2018 có 74 BQL rừng đặc dụng được chi
trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) chiếm
45% tổng số BQL, với tổng diện tích rừng nằm
trong lưu vực là 1,148 triệu ha, chiếm khoảng
48% về diện tích rừng đặc dụng, kinh phí chi
trả năm 2018 là 336 tỷ đồng, bình quân
292.000 đồng/ha (thấp nhất là 628 đồng/ha và
cao nhất là 1 triệu đồng/ha). Tuy nhiên nguồn
thu này cũng chủ yếu để chi trả cho các hộ gia
đình và cộng đồng dân cư nhận khoán bảo vệ
rừng, trong khi các VQG/KBTTN chỉ được
nhận phần diện tích tự tổ chức quản lý bảo vệ
và quản lý phí.
Kinh tế & Chính sách
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020 127
Theo báo cáo của Quỹ BV&PTR Việt Nam,
tổng số tiền thu từ DVMTR toàn quốc đến hết
năm 2016 là 6.510 tỷ đồng, trong đó thu từ các
cơ sở thuỷ điện chiếm đến 97,04%, từ cơ sở
sản xuất nước sạch chiếm 2,73%, từ các cơ sở
kinh doanh du lịch chỉ chiếm 0,23%. Như vậy
nguồn thu chính cho chi trả DVMTR đến từ
các nhà máy thuỷ điện, trong khi thu từ nước
sạch và đặc biệt là từ du lịch rất nhỏ. Các tỉnh
có nguồn thu lớn từ DVMTR chủ yếu là có
nhiều thuỷ điện, trong khi các VQG/KBTTN
được nhận chi trả lớn phải nằm trong lưu vực
của các nhà máy thuỷ điện. Như vậy có thể nói
các VQG/KBTTN nếu muốn tăng nguồn thu từ
chi trả DVMTR thì cần phát huy thế mạnh về
hoạt động du lịch sinh thái để tăng nguồn thu.
c. Nguồn thu từ hoạt động du lịch sinh thái
Theo Tổng cục Lâm nghiệp (2018), trong
tổng số 164 khu rừng đặc dụng, có 61 khu có
tổ chức các hoạt động du lịch sinh thái (26/33
VQG; 35/127 KBTTN). Theo hình thức tự tổ
chức là 37 khu; tổ chức liên doanh, liên kết là
11 khu và cho thuê môi trường rừng là 13 khu;
tổ chức theo cả 2 hình thức là 15 khu và cả 3
hình thức là 01 khu. Trong những năm gần
đây, nguồn thu từ DLST tại các VQG/KBTTN
có xu hướng tăng lên, năm 2015 tăng 12% so
với năm 2014, năm 2016 tăng 48% so với năm
2015, năm 2017 tăng 16,3% so với năm 2016,
năm 2018, doanh thu là 175 tỷ đồng, tăng
khoảng 28% so với năm 2017. Tuy nhiên hoạt
động DLST mới chỉ phát triển ở một số VQG
(chiếm tới 99% tổng doanh thu), trong khi từ
các KBTTN là rất hạn chế, chỉ chiếm khoảng
1%. Một số VQG đạt tỷ lệ thu hút du khách
tham quan cao như VQG Phong Nha - Kẻ
Bàng, VQG Ba Vì, VQG Cúc Phương; riêng
số lượng du khách đến VQG Phong Nha - Kẻ
Bàng chiếm tới 30% tổng số du khách đến các
VQG/KBTTN trong cả nước.
d. Nguồn tài chính từ các dự án quốc tế
và đề tài nghiên cứu khoa học
Một phần nguồn tài chính cho hoạt động
bảo tồn ở Việt Nam được huy động từ các dự
án tài trợ ODA. Trong giai đoạn 2006 – 2010,
Việt Nam đã nhận được nguồn hỗ trợ khoảng
64 triệu USD cho hoạt động bảo tồn đa dạng
sinh học từ các nhà tài trợ quốc tế (Lê Thu Hoa
và Vũ Thị Hoài Thu, 2012). Hạn chế của
nguồn hỗ trợ này là không thường xuyên, phân
bổ không đồng đều, chủ yếu tập trung ở số ít
các VQG/KBTTN có quy mô lớn, mà ít chú ý
đến các khu bảo tồn có quy mô vừa và nhỏ
dưới 15.000 ha. Trong 5 năm trở lại đây,
nguồn vốn ODA này đang có xu hướng giảm
mạnh khi Việt Nam chuyển sang nhóm quốc
gia có thu nhập trung bình. Ngoài nguồn ngân
sách đầu tư từ Nhà nước, chỉ có 8/20 vườn
quốc gia trực thuộc tỉnh và 7/23 khu bảo tồn
thiên nhiên có vốn đầu tư từ dự án tài trợ nước
ngoài. Kết quả khảo sát tại các địa phương và
các VQG/KBTTN cho thấy, nguồn tài chính từ
các dự án hoặc chương trình nghiên cứu quốc
tế phụ thuộc rất lớn vào đặc điểm tài nguyên,
mức độ đa dạng sinh học và đặc trưng văn hoá
cũng như phù hợp với mối quan tâm của các tổ
chức quốc tế và khả năng thực hiện các
chương trình/đề tài của các VQG/KBTTN.
3.3. Khó khăn, bất cập về đầu tư và cơ chế
tài chính đối với các VQG/KBTTN
a. Khó khăn, bất cập về ngân sách nhà
nước cho hoạt động bảo tồn thiên nhiên và
đa dạng sinh học
Nguồn tài chính cho hoạt động bảo tồn
thiên nhiên (BTTN) và đa dạng sinh học
(ĐDSH) từ ngân sách nhà nước không đầy đủ,
phân bổ không đều và khó tiếp cận:
Một là, ngân sách nhà nước cấp cho các
hạng mục liên quan đến công tác BTTN và
ĐDSH rất hạn chế, chủ yếu cho các hoạt động
tuần tra bảo vệ rừng và xây dựng cơ sở vật
chất, trong khi các khoản chi cho hoạt động
bảo tồn như: nghiên cứu, điều tra, quan
trắc/giám sát và quản lý thích ứng với các hệ
sinh thái, loài, nguồn gen, xây dựng cơ sở dữ
liệu ĐDSH gần như không có và ước tính bình
quân chỉ dưới 10% tổng chi thường xuyên của
các VQG/KBTTN.
Hai là, bất cập liên quan đến điều tiết vốn
ngân sách nhà nước cho các BQL rừng đặc
dụng trực thuộc địa phương, đặc biệt tại các
khu vực có nhiều KBTTN nhưng thuộc các
Kinh tế & Chính sách
128 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020
tỉnh nghèo mà hàng năm vẫn phải nhận hỗ trợ
từ ngân sách trung ương. Trong khi không phải
VQG/KBTTN hay địa phương nào cũng có đủ
năng lực để tiếp cận và thu hút các nguồn vốn
đầu tư, do đó khả năng tìm kiếm các nguồn
ngân sách là không đồng đều.
Ba là, sự chồng chéo, thiếu phối hợp trong
chức năng và nhiệm vụ giữa Bộ NN&PTNT và
Bộ TN&MT cũng được coi là một trong những
nguyên nhân khiến cho nguồn tài chính cho
rừng đặc dụng khó tiếp cận hơn. Hoạt động
bảo vệ tài nguyên rừng và bảo tồn ĐDSH hiện
chủ yếu được thực hiện tại các VQG/KBTTN,
thuộc quyền quản lý của Bộ NN&PTNT và
nhận nguồn tài chính hoạt động từ ngân sách
sự nghiệp nông, lâm nghiệp cùng các chương
trình mục tiêu quốc gia theo ngành dọc. Trong
khi đó, gần như toàn bộ nguồn tài chính cho
bảo tồn ĐDSH từ ngân sách là do Bộ TN&MT,
cơ quan chịu trách nhiệm chính trong bảo tồn
ĐDSH toàn quốc quản lý.
b. Khó khăn, vướng mắc về kinh phí sự
nghiệp thường xuyên
Một là, kinh phí thường xuyên cho bộ máy
và hoạt động không đảm bảo theo quy định và
yêu cầu thực tế, nhiều đơn vị có diện tích rừng
bình quân 1 kiểm lâm viên từ 1.000 ha trở lên
và lực lượng kiểm lâm viên thiếu hụt lên đến
trên 50%. Khối lượng công việc và mức độ
nguy hiểm của nghề kiểm lâm hiện nay là một
khó khăn rất lớn trong việc thu hút ngành
nghề, nhiều kiểm lâm viên xin thôi việc hoặc
chuyển nghành.
Hai là, sự không thống nhất và thiếu cơ chế
tài chính về kinh phí cho lực lượng bảo vệ
rừng chuyên trách trong các BQL rừng đặc
dụng và kinh phí cho lực lượng này không rõ
ràng và mâu thuẫn giữa các văn bản dưới luật
và Luật Lâm nghiệp.
Ba là, đơn giá khoán bảo vệ rừng đặc dụng
quá thấp so với yêu cầu. Việc áp dụng mức
khoán bảo vệ rừng đối với rừng đặc dụng của
các VQG/KBTTN bằng với mức khoán bảo vệ
của các công ty lâm nghiệp là không phù hợp
do tính chất của hoạt động bảo vệ rừng đặc
dụng không chỉ đơn thuần là bảo vệ, mà còn có
các hoạt động khác như nghiên cứu khoa học,
quan trắc giám sát ĐDSH, giáo dục môi
trường, hỗ trợ phát triển du lịch sinh thái và
phát triển cộng đồng địa phương.
Bốn là, định mức khoán bảo vệ không thống
nhất và chồng chéo giữa các chính sách thực
hiện tại cùng một địa bàn gây khó khăn cho
hoạt động khoán bảo vệ rừng ở các BQL rừng
đặc dụng. Mặt khác, các chính sách khác nhau
lại do các ngành khác nhau tổ chức thực hiện.
Điều này gây khó khăn cho công tác quản lý và
đặc biệt là việc thu hút người dân địa phương
tham gia nhận khoán bảo vệ rừng.
c. Khó khăn trong huy động các nguồn
tài chính ngoài ngân sách nhà nước cho hoạt
động của các VQG/KBTTN
Theo Quyết định 24/2012/QĐ-TTg, ngoài
ngân sách trung ương và địa phương đầu tư
cho rừng đặc dụng, các VQG/KBT còn có thể
thu hút nguồn vốn từ lợi nhuận của các hoạt
động dịch vụ, hoạt động liên doanh, liên kết,
bộ phận kinh doanh, công ty cổ phần kinh
doanh dịch vụ trong rừng đặc dụng (nếu có),
cho thuê môi trường rừng, thu phí dịch vụ môi
trường rừng và các dịch vụ khác của Ban quản
lý rừng đặc dụng. Tuy nhiên, kết quả khảo sát
tại các địa phương và BQL rừng đặc dụng cho
thấy những khó khăn chính trong việc huy
động các nguồn tài chính ngoài ngân sách nhà
nước như sau:
Một là, nguồn tài chính từ hoạt động du
lịch sinh thái hạn chế do bất cập về đầu tư và
cơ chế quản lý tài chính. Hiện tại chỉ có 61/164
đơn vị quản lý rừng đặc dụng có hoạt động du
lịch sinh thái và thường chỉ tập trung vào một
số VQG lớn, có điều kiện phát triển du lịch và
thu hút đầu tư. Kết quả khảo sát tại các
VQG/KBTTN về vấn đề này cho thấy một số
bất cập sau: (i) Các quy định giữa Nghị định và
Thông tư hướng dẫn về đầu tư và kinh doanh
du lịch sinh thái không thống nhất, chồng chéo,
gây khó khăn cho các đơn vị trong thực hiện;
(ii) Không đảm bảo nguyên tắc thị trường
(thoả thuận giữa các bên) trong chi trả dịch vụ
môi trường rừng áp dụng đối với các công ty
du lịch; (iii) Mặc dù có tiềm năng du lịch
Kinh tế & Chính sách
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020 129
nhưng kinh phí thu được từ du lịch là chưa
đáng kể.
Hai là, nguồn tài chính từ chính sách chi trả
dịch vụ môi trường rừng còn hạn chế, mức thu
còn thấp so với tiềm năng; một số quy định đối
với cơ sở du lịch, công nghiệp, thủy sản và cơ
sở sử dụng dịch vụ hấp thụ các bon chưa được
hướng dẫn cụ thể. Hiện tại khoản thu này ở các
VQG/KBTTN đang có xu hướng tăng lên, tuy
nhiên mới chiếm khoảng 2,6% tổng nguồn tài
chính của các đơn vị (Tổng cục Lâm nghiệp,
2018). Điều tra thực tế cho thấy một
số VQG/KBTTN chưa nhận được tiền chi trả
dịch vụ môi trường rừng cho 100% diện tích
mà chỉ nhận được khoản tiền chi trả của diện
tích khoán bảo vệ rừng cho người dân. Như
vậy, chính sách này một mặt không giúp tăng
thêm tài chính cho các VQG/KBTTN, mặt
khác không khuyến khích các VQG/KBTTN
thực hiện cơ chế chi trả dịch vụ môi trường
rừng với cộng đồng dân cư.
d. Khó khăn trong thực hiện các chính
sách đối với cộng đồng vùng đệm các
VQG/KBTTN
Thứ nhất, ngân sách hỗ trợ cho cộng đồng
dân cư vùng đệm các VQG/KBTTN không
đảm bảo thực hiện cho tất cả các thôn bản.
Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg quy định hỗ
trợ cho mỗi thôn bản thuộc vùng đệm là 40
triệu đồng/năm. Tuy nhiên, ở tất cả các BQL
rừng đặc dụng mà chúng tôi khảo sát, khoản
kinh phí này đều không đảm bảo cho tất cả các
thôn bản vùng đệm. Ví dụ, VQG Pù Mát, có 67
thôn bản vùng đệm nhưng chỉ được cấp tối đa
mỗi năm 4 thôn bản, VQG Cúc Phương có 62
thôn bản thuộc vùng đệm nhưng chỉ 29 thôn
bản được cấp. Các BQL rừng đặc dụng đều
phải thực hiện cấp luân phiên hoặc cắt giảm
mức hỗ trợ để đảm bảo tất cả các cộng đồng
đều được nhận kinh phí.
Hai là, việc cấp kinh phí cho các thôn bản
thuộc vùng đệm theo tính chất cào bằng (40
triệu đồng/năm) là chưa thực sự hợp lý và gây
khó khăn trong việc triển khai, vì số hộ trong
các thôn là khác nhau, đặc biệt là đối với các
thôn, bản thuộc vùng khó khăn, vùng đồng bào
dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa. Theo đánh
giá của các BQL rừng đặc dụng, chính sách
này rất có ý nghĩa trong việc giảm áp lực lên
tài nguyên rừng thông qua phát triển sinh kế và
sản xuất của các cộng đồng vùng đệm. Tuy
nhiên do khoản đầu tư quá ít, lại dàn trải nên
hiệu quả không cao.
3.4. Đề xuất về đầu tư và cơ chế tài chính
bền vững đối với rừng đặc dụng
a. Đối với nguồn và cơ chế tài chính
thuộc ngân sách nhà nước
Rừng đặc dụng là đối tượng đặc biệt vì vậy
cần phải có các chính sách đặc thù nhằm bảo
vệ bền vững và lâu dài, nhất là tính đa dạng
sinh học của tài nguyên rừng. Nguồn và cơ chế
tài chính từ ngân sách nhà nước đối với hoạt
động của các VQG/KBTTN trong thời gian tới
cần giải quyết những vấn đề sau:
Thứ nhất, thống nhất đầu mối quản lý nhà
nước đối với các cơ sở bảo tồn, ở đây là
VQG/KBTTN về cả mặt kỹ thuật nghiệp vụ và
quản lý ngân sách, bảo đảm nâng cao hiệu quả
sử dụng ngân sách nhà nước cho hoạt động bảo
tồn, tránh tình trạng ngân sách hạn chế nhưng
lại phân tán và đầu tư dàn trải.
Thứ hai, ngân sách nhà nước cấp cho các
VQG/KBTTN phải được xây dựng dựa trên hệ
thống các tiêu chí đánh giá về tầm quan trọng
và mức độ khó khăn trong thực hiện các hoạt
động BTTN và ĐDSH của các VQG/KBTTN
chứ không đơn thuần chỉ dựa trên diện tích và
mang tính cào bằng.
Thứ ba, xem xét tăng thêm ngân sách nhà
nước cho hoạt động bảo tồn, tương xứng với
đóng góp của tài nguyên rừng và ĐDSH đối
với phát triển kinh tế xã hội, giá trị văn hoá và
môi trường cũng như các chính sách đãi ngộ
đặc thù cho công tác bảo tồn và những người
làm công tác này về lương, phụ cấp thu hút
ngành... Cần nâng cao tỷ lệ ngân sách nhà
nước cho công tác BTTN và ĐDSH trong
nguồn chi thường xuyên hiện nay với mức ít
nhất bằng 40% tổng chi thường xuyên của các
VQG/KBTTN, đảm bảo thực hiện đầy đủ các
hoạt động phục vụ cho công tác bảo tồn với
định hướng dài hơi
Kinh tế & Chính sách
130 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020
Thứ tư, Nhà nước cần đảm bảo nguồn ngân
sách cấp hoặc phân bổ cho các hoạt động sự
nghiệp của các VQG/KBTTN để thực hiện các
chương trình mục tiêu quốc gia về BTTN và
ĐDSH một cách ổn định và có tăng trưởng hợp
lý hàng năm đồng thời đảm bảo rằng nguồn
ngân sách này sẽ không bị khấu trừ khi các
VQG/KBTTN tạo ra các nguồn thu thêm nhằm
khuyến khích sự năng động và linh hoạt của
các đơn vị trong tạo lập các nguồn tài chính
cho sự phát triển lâu dài và bền vững.
Thứ năm, xem xét nâng cao trách nhiệm của
các VQG/KBTTN trong hoạt động bảo tồn
thông qua việc chuyển các cơ quan này từ đơn
vị sự nghiệp thuần túy thành tổ chức quản lý
chuyên ngành, nâng cao trách nhiệm và quyền
tự chủ của VQG/KBTTN trong quản lý, sử
dụng các nguồn tài chính và giải quyết các vấn
đề vi phạm Luật ĐDSH và Luật Lâm nghiệp
trong phạm vi quản lý.
Thứ sáu, Nhà nước cần xem xét xây dựng
chính sách đầu tư dài hạn giai đoạn 2020-2030
tầm nhìn 2050 theo hình thức như một chương
trình mục tiêu quốc gia cho công tác quản lý
bảo vệ rừng đặc dụng và bảo tồn ĐDSH ở Việt
Nam với nguồn tài chính đa dạng, đảm bảo cân
đối giữa các mục tiêu BTTN và ĐDSH với các
mục tiên ưu tiên khác như phát triển nông
thôn, phát triển du lịch, xúc tiến thương mại.
Điều này cũng phù hợp với thực tế là các chính
sách hay chương trình liên quan đến bảo vệ và
phát triển rừng đặc dụng đều có thời hạn kết
thúc vào năm 2020.
Cuối cùng, Chính phủ cần xây dựng cơ chế
giám sát sự phân bổ tài chính cho các
VQG/BTTN để đảm bảo các đơn vị này được
nhận đúng với cam kết hay phân bổ của chính
phủ. Chính phủ cần công bố ngân sách nhà
nước hàng năm theo Danh mục mã số ngành
kinh tế (Quyết định số 33/2008/QĐ-BTC ngày
02/6/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc
Ban hành hệ thống mục lục ngân sách nhà ),
trong đó có khoản 287 về Hoạt động BTTN và
ĐDSH nhằm tăng cường giám sát ngân sách
chi cho hoạt động này. Để hiện thực hóa điều
này, trước tiên cần thiết lập một mã dòng ngân
sách Nhà nước dành riêng cho hoạt động bảo
tồn đa dạng sinh học. Việc phân bổ nguồn ngân
sách này cần căn cứ vào nhu cầu thực tế, đảm
bảo tính minh bạch với tỉ trọng phù hợp cho các
hoạt động nghiên cứu khoa học phục vụ cho
công tác bảo tồn ĐDSH một cách hiệu quả.
b. Đối với nguồn và cơ chế tài chính
ngoài ngân sách nhà nước
Đa dạng hoá các nguồn tài chính với cơ chế
linh hoạt và tôn trọng quy luật thị trường là
yêu cầu cấp bách trong quản lý và bảo vệ rừng
đặc dụng, trong đó một số giải pháp cần tập
trung giải quyết gồm:
Thứ nhất, tăng cường các nguồn lực ngoài
ngân sách nhà nước cho hoạt động BTTN và
ĐDSH thông qua các dự án ODA, các nhà tài
trợ, các tổ chức phi chính phủ; chi trả dịch vụ
môi trường rừng (PFES) áp dụng với tất cả các
đối tượng hưởng lợi của các ngành như thuỷ
điện, nước sạch, carbon, du lịch, công nghiệp;
các dự án phát triển lâm sản ngoài gỗ dưới tán
rừng đặc dụng, các dự án bồi hoàn cácbon,
hoặc bồi hoàn cho các hoạt động chuyển đổi
mục đích sử dụng đất sang các mục đích khác
như thuỷ điện, giao thông, nông nghiệp công
nghệ cao.
Thứ hai, cần có cơ chế thúc đẩy thu hút các
nguồn tài chính ngoài ngân sách nhà nước vào
các hoạt động nghiên cứu khoa học và hợp tác
phát triển các dự án nhằm chuyển giao công
nghệ về lâm sản ngoài gỗ, lưu giữ và phát triển
các nguồn gen quý hiếm, các loài bản địa có
khả năng phát triển trong lĩnh vực y học, thực
phẩm, cảnh quan..., góp phần vào sự phát triển
kinh tế và phù hợp với định hướng phát triển
bền vững hiện nay.
Thứ ba, giao quyền tự chủ thực sự thông
qua cơ chế cho phép các VQG/KBTTN được
quản lý và sử dụng 100% nguồn thu ngoài
ngân sách nhà nước (nguồn thu từ dịch vụ du
lịch sinh thái, chi trả dịch vụ môi trường rừng
và các nguồn thu khác) theo cơ chế tự chủ của
đơn vị sự nghiệp công lập được quy định tại
Nghị định số 141/2016/NĐ-CP ngày 10 tháng
Kinh tế & Chính sách
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020 131
10 năm 2016 quy định cơ chế tự chủ của đơn
vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực sự nghiệp
kinh tế và sự nghiệp khác.
Thứ tư, cần thực hiện các nghiên cứu hoàn
chỉnh về định giá tài nguyên để đưa ra mức thu
áp dụng đối với chi trả dịch vụ môi trường
rừng, cho thuê môi trường rừng, mức phí tham
quan của các VQG/KBTTN đảm bảo tính
đúng, tính đủ, phù hợp với từng đối tượng,
tránh những quy định chung chung áp dụng
cho tất cả các VQG/KBTTN đồng thời khuyến
khích được khu vực tư nhân tham gia đầu tư và
thu hút du khách đến tham quan, du lịch.
Thứ năm, đối với chi trả dịch vụ môi trường
rừng, cần xây dựng cơ chế chi trả phù hợp với
mỗi đối tượng khác nhau và dịch vụ nào thì chi
trả trực tiếp (giữa Ban quản lý rừng đặc dụng
với các đối tượng chi trả), đối tượng nào và
dịch vụ nào thì chi trả gián tiếp thông qua Quỹ
Bảo vệ và Phát triển rừng. Thực hiện được
điều này sẽ góp phần đảm bảo công bằng giữa
các VQG/KBTTN do sự khác biệt về địa lý
(trong hay ngoài lưu vực các nhà máy thuỷ
điện, nước sạch; dù nằm ở đâu thì rừng cũng
đều hấp thụ carbon) và các điều kiện khác để
được nhận chi trả.
Cuối cùng, tôn trọng các nguyên tắc thị
trường về thoả thuận kinh tế trong các hoạt
động liên doanh liên kết cung cấp dịch vụ du
lịch, giao quyền tự chủ của các VQG/KBTTN
trong xây dựng mức phí, các khoản phụ phí
hoặc các khoản thu tiềm năng để tạo thêm
nguồn tài chính cho công tác BTTN và ĐDSH.
4. KẾT LUẬN
Trong những năm gần đây, Chính phủ đã
xây dựng và ban hành nhiều cơ chế, chính sách
quan trọng trong việc hỗ trợ nguồn tài chính
bền vững cho các hoạt động bảo vệ rừng và
bảo tồn đa dạng sinh học. Đây được xem là
những chính sách đột phá cho việc xã hội hóa
các nguồn đầu tư, góp phần tìm kiếm nguồn tài
chính bền vững cho bảo tồn nguồn tài nguyên
thiên nhiên. Các cơ chế tài chính cấp quốc gia
và địa phương tuy có nhiều tiềm năng nhưng
hiện tại hầu như chưa được xây dựng và vận
hành có hiệu quả, vì vậy mà nhiều cơ hội tăng
nguồn tài chính cho công tác bảo tồn đa dạng
sinh học còn hạn chế. Có thể nói hiện nay hầu
hết các đơn vị quản lý rừng đặc dụng vẫn đang
loay hoay trong việc tìm kiếm nguồn tài chính
bền vững cho các hoạt động bảo vệ tài nguyên
rừng và đa dạng sinh học. Các VQG/KBTTN
đều phải đối mặt với rất nhiều thách thức và áp
lực lên nguồn tài nguyên rừng ngày càng tăng.
Mặt khác, hiện tại chưa có một nghiên cứu
đánh giá tổng quan nào về các nguồn thu và cơ
chế tài chính bền vững đối với các
VQG/KBTTN trên phạm vi toàn quốc, trong
khi nhiều chính sách liên quan đến đầu tư và
cơ chế tài chính cho rừng đặc dụng sẽ hết hiệu
lực vào năm 2020.
Đối với hoạt động của các VQG/KBTTN,
nguồn tài chính chủ yếu hiện này là từ ngân
sách nhà nước, một phần nhỏ từ các hoạt động
DLST, chi trả dịch vụ MTR và các chương
trình/dự án khác. Những khó khăn, bất cập về
đầu tư và cơ chế tài chính đối với rừng đặc
dụng thể hiện trên bốn khía cạnh: (i) đầu tư và
cơ chế tài chính từ ngân sách nhà nước cho
hoạt động BTTN và ĐDSH; (ii) kinh phí sự
nghiệp thường xuyên của các VQG/KBTTN;
(iii) huy động các nguồn tài chính ngoài ngân
sách nhà nước cho hoạt động của các
VQG/KBTTN; (iv) thực hiện các chính sách
hỗ trợ đối với cộng đồng dân cư vùng đệm của
các VQG/KBTTN. Các ý kiến đề xuất được
tập trung vào hai nhóm gồm: (i) nguồn và cơ
chế tài chính từ ngân sách nhà nước cho BTTN
và ĐDSH; (ii) nguồn và cơ chế tài chính ngoài
ngân sách nhà nước. Nếu các đề xuất nêu trên
được thực hiện thì khả năng thu hút đầu tư và
nguồn tài chính cho các khu rừng đặc dụng sẽ
được nâng cao, đồng thời hiệu quả quản lý, sử
dụng nguồn tài chính này sẽ được cải thiện,
góp phần bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng
tốt hơn. Tuy nhiên điều này đòi hỏi sự điều
hành của Chính phủ và sự phối hợp giữa các
Bộ, ngành và địa phương trong hoàn thiện cơ
chế tổ chức, quản lý và điều tiết ngân sách cho
các VQG/KBTTN.
Kinh tế & Chính sách
132 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 1 - 2020
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2019). Quyết định số
911/QĐ-BNN-TCLN ngày 19 tháng 3 năm 2019 Công
bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2018. Hà Nội
2. Nguyễn Viết Cách (2018) Chính sách đầu tư, cơ
chế tài chính cho các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam:
Thực trạng, đánh giá và định hướng chính sách đầu tư,
xây dựng cơ chế tài chính bền vững cho các khu bảo tồn.
Báo cáo tham luận trình bày tại Hội thảo “Rà soát, xây
dựng và đề xuất ban hành chính sách đầu tư tài chính
bền vững cho hoạt động của hệ thống các khu rừng đặc
dụng - phòng hộ phù hợp với Luật chuyên ngành, Luật
Ngân sách và Luật Đầu tư công”, ngày 5 tháng 12 tại
Trường Đại học Lâm nghiệp
3. Emerton, L., Phạm Xuân Phương, Hà Thị Mừng
(2011). Cơ chế tài chính dành cho khu bảo tồn thiên
nhiên tại Việt Nam: Bài học kinh nghiệm và định hướng
tương lai. Hà Nội: GIZ Việt Nam.
4. Lê Thu Hoa, & Vũ Thị Hoài Thu (2012). Xây
dựng cơ chế tài chính bền vững cho bảo tồn thiên nhiên
và đa dạng sinh học tại các Vườn Quốc gia của Việt
Nam. Tạp chí Kinh tế và Phát triển, 180(6/2012), 16-22.
5. Tổng cục Lâm nghiệp (2018). Kết quả công tác
quản lý bảo vệ rừng đặc dụng, phòng hộ năm 2018 và kế
hoạch triển khai công tác năm 2019. Báo cáo tại Hội
nghị công tác quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ năm
2018, ngày 22 đến 24 tháng 11 năm 2019 tại thành phố
Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
6. Trần Thị Thu Hà và cộng sự (2018). Rà soát, xây
dựng và đề xuất ban hành chính sách đầu tư tài chính
bền vững cho hoạt động của hệ thống các khu rừng đặc
dụng - phòng hộ phù hợp với Luật chuyên ngành, Luật
Ngân sách và Luật Đầu tư công. Báo cáo tư vấn thuộc
Dự án Tăng cường năng lực quản lý hệ thống rừng đặc
dụng, phòng hộ. Hà Nội
7. Trương Tất Đơ (2018). Cơ chế tài chính bền vững
cho hoạt động của hệ thống các khu rừng đặc dụng và
phòng hộ tại Việt Nam. Báo cáo tham luận trình bày tại
Hội thảo “Rà soát, xây dựng và đề xuất ban hành chính
sách đầu tư tài chính bền vững cho hoạt động của hệ
thống các khu rừng đặc dụng - phòng hộ phù hợp với
Luật chuyên ngành, Luật Ngân sách và Luật Đầu tư
công”, ngày 5 tháng 12 tại Trường Đại học Lâm nghiệp.
INVESTMENT POLICY AND SUSTAINABLE FINANCIAL MECHANISM
FOR THE OPERATION OF NATIONAL PARK AND NATURE RESERVE
Tran Thi Thu Ha1, Phung Van Khoa1, Dao Lan Phuong1
1Vietnam National University of Forestry
SUMMARY
The special-use forest is 2,155,178 ha, accounting for 14.87% of the total forest area, with over 96% of the
natural forest having a high biodiversity level. Most of this special-use forest is managed by special-use forest
management boards throughout the country. The objective of the study is to evaluate the implementation of
investment policies and financial mechanisms, based on which propose investment policies and sustainable
financial mechanisms for the activities of the National Park (NP) and Nature Reserve (NR) in Vietnam. The
results show that there are still many obstacles and limitations related to policy, access opportunities, ability to
mobilize and attract investment and financial management mechanisms of the NP/NR, leading to the
ineffectiveness of forest resources conservation and the financial autonomy of the special-use forest
management boards is limited. The recommendation focus on two groups: (i) financial sources and
mechanisms from state budget with 07 proposals; (ii) non-state financial sources and mechanisms with 06
proposals.
Keywords: Investment policy, national park, nature reserve, special use forests, sustainable financial
mechanism.
Ngày nhận bài : 26/11/2019
Ngày phản biện : 25/02/2020
Ngày quyết định đăng : 02/3/2020
Các file đính kèm theo tài liệu này:
chinh_sach_dau_tu_va_co_che_tai_chinh_ben_vung_cho_hoat_dong.pdf