2.4. Đánh giá yếu tố nguy cơ
Yếu tố nguy cơ là các yếu tố góp phần thúc đẩy
bệnh xảy ra. Nhiều trại hoặc nhiều đợt nuôi trong
một trại được so sánh để tìm hiểu yếu tố nguy cơ.
Phương pháp khảo sát và cách tính toán để xác định
yếu tố nguy cơ đã được trình bày chi tiết trong sách
dịch tễ học nên không thảo luận ở đây. Những yếu
tố nguy cơ của bệnh hô hấp trên heo có thể là sự
thay đổi thời tiết, chênh lệch nhiệt độ chuồng nuôi,
nhập heo từ nhiều nguồn như đã trình bày trong
các chương trước.
2.5. Xét nghiệm huyết thanh và dịch miệng
Xét nghiệm huyết thanh hoặc dịch miệng (có
kháng thể hoặc vi sinh vật) cho biết trại có nhiễm
hay không, xác định tuổi nhiễm, và tỷ lệ nhiễm ở
các lứa tuổi. Mẫu huyết thanh hoặc dịch miệng cần
lấy lặp lại với khoảng cách tùy theo thời gian ủ bệnh
của mỗi loại bệnh, hoặc lấy định kỳ. Tham khảo các
phương pháp tính số lượng mẫu cần thu thập trong
sách Dịch tễ học thú y (Trần Thị Dân và Lê Thanh
Hiền, 2007) ở 2 trường hợp: tính tỷ lệ huyết thanh
dương tính, hoặc chỉ xác định đàn heo bị nhiễm. Một
thí dụ đơn giản về số mẫu cần lấy khi muốn biết một
đàn heo bị nhiễm hoặc không nhiễm dựa trên ước
tính tỷ lệ mẫu huyết thanh dương tính, số heo trong
đàn và mức tin cậy thống kê (95% tin cậy): lấy 5
mẫu nếu ước lượng 50% dương tính ở đàn > 40 heo,
lấy 10 mẫu nếu ước lượng dương tính 25% trên đàn
40-100 heo hoặc 11 mẫu trên đàn > 120 heo, lấy 25
mẫu (đàn 100 heo), 28 mẫu (đàn 500 heo), 29 mẫu
(đàn >1000) (Janke, 1995). Có thể dựa vào tỷ lệ chết
và số heo trong đàn để xác định số mẫu lấy sao cho
phát hiện ít nhất một heo dương tính (nghĩa là đàn có
nhiễm) với 95% tin cậy:
Gemus (1996) khuyến cáo lấy 30 mẫu ở heo 7-8
tuần tuổi trong trường hợp đàn heo không biểu hiện
lâm sàng của bệnh do APP. Nếu có mẫu huyết thanh
dương tính, đàn heo 7-8 tuần tuổi có thể ở trong 3
trường hợp: mang APP (thường ở hạch hạnh nhân),
đã nhiễm trùng, đang nhiễm trùng. Cũng nghiên
cứu về tuổi nhiễm APP ở một trại có 2000 heo nái,
Brunier và ctv (2012) xét nghiệm kháng thể trong
huyết thanh ở các giai đoạn tuổi (5 mẫu/lứa tuổi,
mỗi heo lấy máu một lần); kết quả cho thấy có sự
tồn tại của kháng thể mẹ truyền và tuổi nhiễm, có lẽ
từ tuần tuổi 15.
Mẫu gộp (3 hoặc 5 mẫu gộp thành 1 mẫu để xét
nghiệm) thường được sử dụng trong mục tiêu phát
hiện đàn heo có nhiễm hay không. Ưu điểm của mẫu
gộp là tăng khả năng phát hiện dương tính, khi ấy
chỉ có thể tính tỷ lệ dương tính theo đàn mà không
theo cá thể.
Tóm lại, trong phòng chống dịch bệnh tại trại
hoặc trong một vùng, các công việc tầm soát và
giám sát một bệnh cần được tiến hành với mục tiêu
cụ thể và theo kế hoạch hợp lý. Kết quả của tầm soát
và giám sát bệnh sẽ được sử dụng trong chiến lược
quản lý sức khỏe đàn heo.
4 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 29 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chương trình tầm soát và giám sát bệnh hô hấp ở heo, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
89
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 1 - 2018
CHÖÔNG TRÌNH TAÀM SOAÙT VAØ GIAÙM SAÙT BEÄNH HOÂ HAÁP ÔÛ HEO
Trần Thị Dân
Chi hội Thú y văn phòng phía Nam, Hội Thú y Việt Nam
Trước khi trình bày chi tiết các bước cụ thể trong
chương trình giám sát bệnh hô hấp, cần nêu lại ba
khái niệm. Đó là tầm soát, giám sát và các nhóm
chiến lược quản lý sức khỏe đàn.
- Tầm soát (sàng lọc, screening) là các biện pháp
và thủ thuật để tìm kiếm các dấu hiệu sớm của một
bệnh. Như vậy, tầm soát bệnh được thực hiện trên cá
thể hoặc đàn heo. Đối với một quần thể nào đó (đàn
heo trong trại, toàn trại, hoặc vùng nuôi heo), tầm
soát là chiến lược để nhận diện một bệnh trên những
cá thể chưa có dấu hiệu bệnh.
- Giám sát bệnh (surveillance) là những ứng dụng
của dịch tễ học để ghi nhận sự lan truyền bệnh sao cho
thấy được kiểu diễn biến bệnh. Vai trò của giám sát
bệnh là tiên đoán, quan sát/theo dõi, và giảm thiểu nguy
hại bởi dịch bệnh cũng như tăng kiến thức về những
yếu tố góp phần xảy ra bệnh. Theo dõi từng ca bệnh
cũng là bước đầu của giám sát bệnh (FAO, 2012). Giám
sát bệnh được thực hiện bởi chủ trang trại và/hoặc cơ
quan/tổ chức chuyên môn.
- Chiến lược quản lý sức khỏe ở một trại có thể
chia thành 3 nhóm (Friendship, 2014). Nhóm 1 là các
chiến lược đối với các bệnh nội vùng. Trong trường
hợp này, (bệnh do Mycoplasma hyopneumonia - MH,
Streptococcus suis, Salmonella), tác nhân gây bệnh có
thể tồn tại trong môi trường và khó loại bỏ, khi ấy
phải tăng miễn dịch đàn và giảm thiểu stress; hoặc tác
nhân hiện diện rộng rãi trong trại và sẽ gây bệnh khi
có thiếu sót về quản lý – môi trường, khi ấy cần chỉnh
sửa những thiếu sót thì sức khỏe đàn phục hồi. Nhóm
2 là chiến lược đối với các tác nhân có thể loại bỏ hoàn
toàn; thí dụ thanh toán bệnh ghẻ do Sarcoptes scabiei
var suis bằng cách dùng ivermectin hoặc doramectin,
hoặc loại bỏ bệnh viêm dạ dày-ruột truyền nhiễm cũng
như bệnh tai xanh (PRRS) bằng cách đóng đàn (không
nhập heo từ ngoài vào, chỉ dùng gieo tinh nhân tạo
cho heo cái sinh sản) và tạo miễn dịch toàn đàn có chủ
đích. Chiến lược này đòi hỏi thời gian dài, và kết quả
của chiến lược có thể giúp giảm sử dụng thuốc thú y
hoặc vắc-xin. Nhóm 3 là chiến lược ngăn ngừa tác
nhân gây bệnh xâm nhập vào trại bằng an toàn sinh
học, và khi tăng đàn thì phải bảo đảm đàn không mang
mầm bệnh quan trọng đang đối phó. Như thế, chương
trình tầm soát và giám sát bệnh phải phục vụ cho chiến
lược quản lý sức khỏe đàn heo.
1. Tầm soát bệnh hô hấp
Tầm soát những cá thể hoặc đàn heo chưa có dấu
hiệu bệnh nghĩa là theo dõi những con heo thuộc một
trong hai trường hợp: mắc bệnh nhưng chưa có triệu
chứng, hoặc mắc bệnh nào đó mà chưa có phương
pháp phát hiện được.
Trên những heo hoặc đàn heo có nguy cơ mắc bệnh
nhưng chưa có triệu chứng, cần ghi chép bệnh sử của
mỗi cá thể qua các giai đoạn tuổi, và sử dụng những
xét nghiệm có độ nhạy cao trên nhiều mẫu máu. Mẫu
máu được thu thập định kỳ theo tuần, tháng hoặc quý
tùy theo bệnh cấp hay mạn. Tầm soát bệnh được xem
là công việc định kỳ của giám sát bệnh (Wilson và
Jungner, 1968) nên các hoạt động này sẽ được trình
bày ở phần giám sát bệnh. Theo dõi hành vi ăn uống,
lượng thức ăn tiêu thụ hằng ngày và năng suất của mỗi
heo cũng góp phần đánh giá heo mắc bệnh chưa có
triệu chứng. Lập phiếu theo dõi cá thể và cập nhật diễn
biến quản lý tại trại (thông tin về các đợt heo nhập vào
trại: ngày, số heo, tuổi và trọng lượng heo, nguồn heo;
về nhập nguyên thực liệu) là các biện pháp hữu ích
giúp đánh giá yếu tố nguy cơ trong lây truyền bệnh.
Nếu chưa có phương pháp phát hiện bệnh, cần
theo dõi và ghi chép mô tả diễn biến lâm sàng của ca
nghi bệnh hoặc chùm ca nghi bệnh trong thời gian
dài ở các đàn heo nuôi trong điều kiện khác nhau.
Có thể xét nghiệm các bệnh hô hấp khác để loại suy
bệnh chưa phát hiện, nhưng tốn kém.
2. Giám sát bệnh
2.1. Mục tiêu và phân loại chương trình giám sát
Như đã nêu trên, giám sát nhằm các mục tiêu:
phát hiện bệnh, chứng minh rằng trại không có bệnh,
mô tả phân bố bệnh qua không gian và thời gian,
đánh giá tiến triển của chương trình kiểm soát bệnh.
Trong mục tiêu, phải cho thấy bệnh nào sẽ được khảo
sát, lý do khảo sát, và đàn heo nào được khảo sát.
Vấn đề này đòi hỏi sự cân nhắc của người chăn nuôi
về tầm quan trọng của bệnh được giám sát.
Đầu ra của chương trình giám sát phải được xác
định. Thí dụ, kết quả giám sát sẽ là gì, quyết định gì và
hành động thế nào sau khi có kết quả giám sát, thông
tin nào sẽ hữu ích để hỗ trợ các quyết định về sức khỏe
đường hô hấp của đàn thú, kể cả sức khỏe cộng đồng.
90
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 1 - 2018
Cần xác định kiểu giám sát. Đó là giám sát chủ động,
giám sát thụ động, phân tích yếu tố nguy cơ, điều tra trên
các mẫu huyết thanh và dịch miệng; hoặc kết hợp 4 loại
giám sát này. Dựa vào kiểu giám sát, cách thu thập mẫu
sẽ được quyết định. Tuy nhiên, cũng cần xác định thế nào
là một ca bệnh dựa trên 3 cách: quan sát thực địa (đặc
điểm dịch tễ như tuổi mắc bệnh, số ca mắc bệnh, số ngày
bệnh) hoặc theo tiêu chí lâm sàng (kiểu ho hoặc thở khó,
chảy nước mũi, sốt, có kèm rối loạn sinh sản không)
hoặc dựa vào kết quả xét nghiệm. Bệnh hô hấp thường ở
dạng phức hợp nên đòi hỏi dựa vào nhiều tiêu chí khi xác
định ca bệnh. Thí dụ về định nghĩa ca bệnh giả dại dựa
vào đặc điểm dịch tễ và lâm sàng: tỷ lệ chết của heo theo
mẹ gần 100% với triệu chứng thần kinh, heo nái có dấu
hiệu bệnh hô hấp và/hoặc rối loạn sinh sản, và heo cai
sữa cũng mắc bệnh hô hấp (với một số triệu chứng thần
kinh hoặc tăng tỷ lệ chết).
2.2. Giám sát chủ động
Giám sát chủ động là tìm ra chứng cứ của một
bệnh hiện diện hoặc để khẳng định rằng đàn heo
hoặc trại không có bệnh. Các công việc của giám sát
chủ động có thể là một hoặc kết hợp giữa: ghi nhận
các biểu hiện lâm sàng, thu thập mẫu để chẩn đoán,
xét nghiệm. Nếu là bác sĩ thú y phụ trách vùng, việc
phỏng vấn chủ trại cũng thuộc giám sát chủ động.
Các biện pháp can thiệp (không nuôi chung các
loài thú khác nhau trong trại heo, cải thiện quy trình
an toàn sinh học và dinh dưỡng, vệ sinh) có thể
được áp dụng khi đã phát hiện biểu hiện lâm sàng (kể
cả trước khi có kết quả xét nghiệm khẳng định). Giải
pháp can thiệp đúng cũng góp phần thể hiện sự chính
xác của kết quả giám sát.
2.3. Giám sát thụ động
Giám sát thụ động là thu thập thông tin hằng ngày
từ các báo cáo tình hình bệnh, từ việc mổ khám heo
chết, hoặc từ thông tin về bệnh tích đường hô hấp trên
heo hạ thịt ở lò mổ. Kiểu giám sát này tương đối ít chi
phí; tuy nhiên, kết quả từ giám sát này thường thấp
hơn thực tế vì bệnh tích đường hô hấp thay đổi theo
giai đoạn bệnh. Do đó, đòi hỏi người chăn nuôi phải
được huấn luyện để nhận diện triệu chứng/bệnh tích
và báo cáo qua kênh thông tin hệ thống. Ngoài ra,
giám sát thụ động nên được kết hợp với giám sát chủ
động, đặc biệt đối với các bệnh đang nổi.
Một thí dụ về giám sát thụ động là nghiên cứu của
Eze và ctv (2015) về tần suất bệnh tích phổi heo ở các lò
mổ trong 3 chương trình giám sát khác nhau tại các vùng
của Anh Quốc. Ba dạng bệnh tích phổi được ghi nhận:
gồm bệnh tích giống viêm phổi địa phương (vùng thùy
đỉnh và thùy giữa của phổi rắn chắc hoặc cứng, màu đỏ
xậm đến hồng tía hơi xám, do vi khuẩn MH hoặc virút
bệnh tai xanh), viêm màng phổi (do nhiều tác nhân: vi
khuẩn APP, Pasteurella multocida, Haemophillus suis,
MH, virút PRRS, PCV2; và quản lý không tốt cũng là
yếu tố nguy cơ), viêm phổi – màng phổi, và ổ mủ (do
APP, phụ nhiễm phổi khi heo bị cắn đuôi). Các tác giả
ghi nhận sự thay đổi tần suất và điểm bệnh tích giữa 3
chương trình giám sát qua thời gian. Bốn dạng bệnh tích
và cách cho điểm ở 3 chương trình khác nhau như sau:
Bệnh tích Bệnh tích
Điểm bệnh tích ở 3 chương trình giám sát
Anh và xứ Wales Scotland Bắc Ireland
Tương tự
viêm phổi
địa phương
Màu xám-rỉ sét-đỏ và
rắn chắc ở vùng thùy
đỉnh và thùy giữa (theo
từng thùy)
Xác định % phổi rắn
chắc. Cho điểm 0 đến
55 theo Goodwin & ctv
(1969)
Xác định % phổi rắn
chắc. Cho điểm 0 đến
55 (Goodwin & ctv,
1969)
Xác định % phổi rắn
chắc. Cho mức điểm 0
đến 55 (Goodwin & ctv,
1969)
Viêm màng
phổi
Viêm dính sợi huyết
trên phổi hoặc dính
phổi với thành ngực
Điểm 0: không có,
1: viêm rải rác,
2: diện tích viêm >
20% của bề mặt phổi
(viêm rộng)
Điểm 0 (không có) đến
5. Điểm 1: bệnh tích cũ
và nhỏ (25mm). Điểm 5:
toàn bộ diện tích phổi
0: không có,
1 (nhẹ): chỉ viêm dính lá
tạng,
2 (nặng): viêm dính cả lá
thành của màng phổi
Bệnh tích
viêm phổi-
màng phổi
Các vùng phổi riêng
lẻ bị rắn chắc với
màng phổi viêm tại đó,
thường ở thùy giữa và
thùy hoành cách mô
0: không có,
1: viêm cấp hoặc mãn
0: không có,
1: viêm cấp hoặc mãn
0: không có,
1: viêm cấp hoặc mãn
Ổ mủ Ổ mủ trong phổi 0: không có,
1: có
0: không có,
1: có
0: không có,
1: có
91
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 1 - 2018
Mặc dù cách cho điểm khác nhau, tần suất và
điểm bệnh tích giảm qua thời gian cho thấy tình trạng
cải thiện bệnh. Nếu kết quả của các chỉ tiêu này tăng
thì cần lưu ý các bệnh đang nổi lên.
2.4. Đánh giá yếu tố nguy cơ
Yếu tố nguy cơ là các yếu tố góp phần thúc đẩy
bệnh xảy ra. Nhiều trại hoặc nhiều đợt nuôi trong
một trại được so sánh để tìm hiểu yếu tố nguy cơ.
Phương pháp khảo sát và cách tính toán để xác định
yếu tố nguy cơ đã được trình bày chi tiết trong sách
dịch tễ học nên không thảo luận ở đây. Những yếu
tố nguy cơ của bệnh hô hấp trên heo có thể là sự
thay đổi thời tiết, chênh lệch nhiệt độ chuồng nuôi,
nhập heo từ nhiều nguồnnhư đã trình bày trong
các chương trước.
2.5. Xét nghiệm huyết thanh và dịch miệng
Xét nghiệm huyết thanh hoặc dịch miệng (có
kháng thể hoặc vi sinh vật) cho biết trại có nhiễm
hay không, xác định tuổi nhiễm, và tỷ lệ nhiễm ở
các lứa tuổi. Mẫu huyết thanh hoặc dịch miệng cần
lấy lặp lại với khoảng cách tùy theo thời gian ủ bệnh
của mỗi loại bệnh, hoặc lấy định kỳ. Tham khảo các
phương pháp tính số lượng mẫu cần thu thập trong
sách Dịch tễ học thú y (Trần Thị Dân và Lê Thanh
Hiền, 2007) ở 2 trường hợp: tính tỷ lệ huyết thanh
dương tính, hoặc chỉ xác định đàn heo bị nhiễm. Một
thí dụ đơn giản về số mẫu cần lấy khi muốn biết một
đàn heo bị nhiễm hoặc không nhiễm dựa trên ước
tính tỷ lệ mẫu huyết thanh dương tính, số heo trong
đàn và mức tin cậy thống kê (95% tin cậy): lấy 5
mẫu nếu ước lượng 50% dương tính ở đàn > 40 heo,
lấy 10 mẫu nếu ước lượng dương tính 25% trên đàn
40-100 heo hoặc 11 mẫu trên đàn > 120 heo, lấy 25
mẫu (đàn 100 heo), 28 mẫu (đàn 500 heo), 29 mẫu
(đàn >1000) (Janke, 1995). Có thể dựa vào tỷ lệ chết
và số heo trong đàn để xác định số mẫu lấy sao cho
phát hiện ít nhất một heo dương tính (nghĩa là đàn có
nhiễm) với 95% tin cậy:
Số heo trong đàn
Tỷ lệ chết
50% 25% 10%
10 4 7 10
50 5 10 22
100 5 10 25
250 5 11 27
500 5 11 28
>1000 5 11 29
Gemus (1996) khuyến cáo lấy 30 mẫu ở heo 7-8
tuần tuổi trong trường hợp đàn heo không biểu hiện
lâm sàng của bệnh do APP. Nếu có mẫu huyết thanh
dương tính, đàn heo 7-8 tuần tuổi có thể ở trong 3
trường hợp: mang APP (thường ở hạch hạnh nhân),
đã nhiễm trùng, đang nhiễm trùng. Cũng nghiên
cứu về tuổi nhiễm APP ở một trại có 2000 heo nái,
Brunier và ctv (2012) xét nghiệm kháng thể trong
huyết thanh ở các giai đoạn tuổi (5 mẫu/lứa tuổi,
mỗi heo lấy máu một lần); kết quả cho thấy có sự
tồn tại của kháng thể mẹ truyền và tuổi nhiễm, có lẽ
từ tuần tuổi 15.
Mẫu gộp (3 hoặc 5 mẫu gộp thành 1 mẫu để xét
nghiệm) thường được sử dụng trong mục tiêu phát
hiện đàn heo có nhiễm hay không. Ưu điểm của mẫu
gộp là tăng khả năng phát hiện dương tính, khi ấy
chỉ có thể tính tỷ lệ dương tính theo đàn mà không
theo cá thể.
Tóm lại, trong phòng chống dịch bệnh tại trại
hoặc trong một vùng, các công việc tầm soát và
giám sát một bệnh cần được tiến hành với mục tiêu
cụ thể và theo kế hoạch hợp lý. Kết quả của tầm soát
và giám sát bệnh sẽ được sử dụng trong chiến lược
quản lý sức khỏe đàn heo.
92
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXV SỐ 1 - 2018
Giai đoạn Tuổi heo (n=5/tuổi) % dương tính theo tuổi
% trung bình dương
tính theo tuổi
Heo nái
(n = 20)
Lứa 1-2 80
90,0
Lứa 3-4 100
Lứa 5-6 80
Lứa >6 100
Heo con
(n = 30)
4 tuần 100
46,67
5 tuần 80
6 tuần 40
7 tuần 20
8 tuần 20
9 tuần 20
Heo thịt
(n = 30)
10 tuần 0
3,3
12 tuần 0
15 tuần 0
18 tuần 20
21 tuần 0
24 tuần 0
Heo hậu bị
(n = 5) 34 tuần 80 80,0
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Brunier E., Dan TT, Nam NTT, Ninh NTP, Tung
LT, and Giang PC, 2012. Cost benefit comparison
between vaccinating against APP and using
specific antibiotic metaphylaxis program.
Proceedings 22nd International Pig Veterinary
Society Congress, Korea, p. 607.
2. Eze IJ, Correla-Gomes, Borobia-Belsue J,
Tucker WA, Sparrow D, Strachan WD and
Gunn JG, 2015. Comparison of respiratory
disease prevalence among voluntary monitoring
systems for pig health and welfare in the UK.
PLoS ONE 10(5):e0128137.doi:10.1371/journal.
pone.0128137.
3. FAO, 2012. Swine health management. Volume
1: Handbook on swine health field surveillance.
RAP Publication 2012/27.
4. Friendship MR, 2014. Overview of health-
management interaction: pigs. Veterinary Merck.
5. Gemus EM, 1996. Treatment and control of
swine respiratory disease. Proceedings of the
North Carolina Healthy Hogs Seminar.
6. Janke HB, 1995. Diagnosis of viral respiratory
disease in swine. Swine health and production
3(3):116-120.
7. Trần Thị Dân và Lê Thanh Hiền, 2007. Dịch tễ
học thú y. NXB Nông nghiệp.
8. Wilson GMJ and Jungner G, 1968. Principles and
practice of screening for disease. WHO.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
chuong_trinh_tam_soat_va_giam_sat_benh_ho_hap_o_heo.pdf