Bốn là, đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp xây dựng phong trào toàn dân bảo
vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng và nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến theo hướng
xã hội hóa ngày càng cao, với nhiều hình thức tự phòng, tự quản, tự bảo vệ, tự hòa giải;
vận động nhân dân tích cực tham gia xây dựng khu dân cư, thôn, xóm, làng, bản, ấp, xã,
nhà trường, cơ quan doanh nghiệp an toàn về an ninh, trật tự; phát hiện, tố giác tội phạm,
giáo dục, giúp đỡ, cảm hóa người vi phạm pháp luật, tái hòa nhập cộng đồng ở khu vực
nông thôn. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao ý thức cảnh giác cho các tầng lớp nhân dân;
đồng thời có chủ trương, giải pháp giúp nhân dân phát triển kinh tế, cải thiện đời sống,
qua đó góp phần củng cố thế trận lòng dân vững chắc. Gắn phong trào thi đua “Vì an
ninh Tổ quốc” với phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” và cuộc
vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”.
Năm là, phát hiện, xử lý kịp thời các "điểm nóng" từ cơ sở, không để phát triển
thành vụ việc lớn, phức tạp. Tập trung đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả những vấn đề
phức tạp nổi lên về ANTT tại các địa bàn khu vực nông thôn, nhất là các vụ khiếu kiện
đông người, phức tạp, kéo dài, các vụ giết người do nguyên nhân xã hội, trộm cắp tài
sản, chống người thi hành công vụ, ma túy, mua bán người, vi phạm pháp luật về bảo
vệ môi trường, sai phạm, tiêu cực trong triển khai các công trình, dự án, chương trình,
kế hoạch xóa đói, giảm nghèo; triệt xóa các tụ điểm phức tạp về tệ nạn xã hội; nâng cao
chất lượng công tác điều tra, khám phá tội phạm; tăng cường công tác truy bắt, vận động
đối tượng truy nã lẩn trốn ở khu vực nông thôn.
Sáu là, tăng cường các điều kiện làm việc, trang bị phương tiện phù hợp với thực
tế chiến đấu ở cơ sở nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ công an và các lực
lượng khác tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở; xây dựng và thực hiện chế độ, chính sách
phù hợp cho đội ngũ cán bộ công an và các lực lượng khác tham gia bảo vệ ANTT ở cơ
sở, đặc biệt là lực lượng trực tiếp công tác chiến đấu ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên
giới, hải đảo./.
75 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 6 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Chuyên đề Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trong xây dựng nông thôn mới, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ị,
hội thảo, các lớp tập huấn nghiệp vụ mà tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật
chuyên ngành và kỹ năng tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho đội ngũ cán bộ làm công
tác TTPBPL cho người dân nông thôn.
2.3.4. Các giải pháp cụ thể vận dụng hương ước trong quản trị xã hội nông thôn
a) Nhóm giải pháp liên quan tới các cơ quan quản lý
Cần cụ thể hóa các quy định của nhà nước về hương ước
Cần cụ thể hóa hơn nữa các quy định của Chính phủ, các bộ có liên quan về vấn
đề này để khắc phục những chỗ còn chưa rõ ràng, chưa cụ thể dẫn đến gây hiểu nhầm
và vận dụng sai.
Tránh những điểm thiếu nhất quán trong các văn bản pháp lý liên quan tới phê
duyệt hương ước
Thủ tục phê duyệt hương ước còn có những bất cập về nguyên tắc giữa các cấp
ban hành chính sách. Ví dụ có sự thiếu nhất quán trong các văn bản: tại Nghị định 29/CP
của Chính phủ quy định hương ước do Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã đề nghị và Chủ
tịch Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt, nhưng tại Thông tư liên tịch số 03/TTLT lại quy
định hương ước do Ủy ban nhân dân cấp xã đề nghị?
Đơn giản hóa thủ tục phê duyệt
Cần xem xét đơn giản hóa thủ tục thông qua và phê duyệt hương ước, quy ước.
Nên bỏ bớt quy trình phải có sự thảo luận của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
đối với hương ước vì hương ước là của thôn, làng. Hội nghị thông qua hương ước chỉ
cần quá nửa số cử tri hoặc đại diện chủ hộ là đủ, nhất là khi sửa đổi, bổ sung.
Khắc phục trình trạng các ngành chức năng chậm chễ trong việc hướng dẫn cơ
sở
Nêu cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc thẩm định, phê duyệt
hương ước. Khắc phục tình trạng các ngành chức năng chậm chạp trong việc hướng dẫn
cơ sở về vấn đề này.
b) Nhóm giải pháp về soạn thảo hương ước
Xác định rõ “chủ thể”hương ước.
Cần xác định rõ vai trò của cộng đồng làng (thôn, bản, buôn) trong việc biên soạn
hương ước, phân biệt với vai trò chính quyền cấp xã, thực chất ở đây là việc xác lập rõ
“chủ thể” của hương ước.
Phát huy “vai trò chủ thể” của nông dân trong soạn thảo và thực hiện hương
ước
52
Việc xác định chủ thể biên soạn hương ước là cộng đồng làng có nghĩa là cần huy
động sự tham gia của toàn bộ cộng đồng dân cư, với sự hướng dẫn bằng văn bản các thủ
tục từ phía chính quyền. Phát huy “vai trò chủ thể” của nông dân trong biên soạn hương
ước, đặc biệt sự tham gia của các nhân vật “có uy tín” trong cộng đồng.
Xác định rõ tên gọi và đối tượng điều chỉnh của các bản hương ước
Nội dung các hương ước hay bị lẫn lộn với quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Quy chế thực hiện dân chủ ở xã do Chính phủ ban hành cho chính quyền cấp xã thực
hiện bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Đây là văn bản mà cơ quan quản lý nhà nước
địa phương có trách nhiệm thi hành. Tránh tình trạng còn lẫn lộn hiện nay trong quá
trình soạn thảo văn bản hương ước, trùng về tên gọi và đối tượng điều chỉnh với Quy
chế thực hiện dân chủ ở xã.
Tránh tình trạng lăp lại nội dung của các văn bản chính sách nhà nước.
Nội dung nhiều ương ước mới còn sơ sài, lặp lại pháp luật và chủ trương chính
sách của Nhà nước một cách khô khan, thiếu cụ thể, chưa sát thực với điều kiện và đặc
điểm của từng làng. Do vậy, tính thiết thực và tính khả thi rất thấp. Đây cũng là một xu
hướng cần tránh trong công tác biên soạn hương ước tại các làng xã hiện nay.
Việc biên soạn rập khuôn theo các nội dung pháp lý không chỉ khiến bản hương
ước lầm lẫn về chức năng của nó, mà còn khiến không thể vận dụng trong công tác quản
lý của làng xã. Là vì công dụng của hương ước là tạo ra giá trị về đạo đức, bổ sung cho
tuân thủ pháp luật, có điểm dừng trong việc giải quyết mâu thuẫn.
Hương ước nói chung là bản điều lệ tự quản của làng, thôn, ấp, bản, không nên
chỉ nặng về quy định hành vi và chế tài.
Cần có quy định cả về tổ chức các thiết chế tự quản để dân cư tham gia quản lý
nhà nước, quản lý xã hội ở cơ sở. Nâng dần vai trò của hương ước để có thể trở thành
một văn bản tự quản của cấp chính quyền mới có thể sẽ được nghiên cứu lập ra theo mô
hình chính quyền tự quản trong tương lai.
Tránh việc lặp lại theo một nguyên mẫu một cách thiếu bản sắc trong công tác
biên soạn hương ước của các làng (thôn, bản, buôn).
Việc biên soạn hương ước theo mẫu tại các địa phương do chính quyền cơ sở
cung cấp, một mặt có thể tạo nên sự thống nhất và quy củ, mặt khác, rất có thể lại dẫn
tới tình trạng nội dung và hình thức kết cấu, lời văn diễn đạt giống nhau. Những nét
riêng mang tính “bản sắc” riêng của từng làng vốn là thuộc tính đầu tiên của hương ước
lại rất mờ nhạt. Điều này làm cho các bản hương ước rất ít giá trị áp dụng thực tế tại địa
phương.
c) Nhóm giải pháp về thực hiện hương ước
Vận dụng phù hợp cho các đối tượng điều chỉnh của hương ước
Hiện nay trong nông thôn phát sinh nhiều hiện tượng cần xử lý (tranh chấp đất
đai, mâu thuẫn trong gia đình, trong quan hệ hôn nhân). Cần xác định những sự kiện
phù hợp với tính chất của hương ước (với tư cách là “bộ luật” tự quản của cộng đồng
dân cư) để vận dụng trong việc xử lý các hành vi vi phạm.
Ví dụ ở Tây Nguyên, vai trò của cộng đồng làng (thông qua luật tục và các nhân
vật có uy tín) rất quan trọng và có hiệu quả trong việc quản lý đất rừng, bảo vệ rừng.
Hương ước cần có thiết chế và cơ chế vận hành, tác nghiệp
53
Cần quy định các cơ chế vận hành và thực hiện hương ước để có thể phối kết hợp
giữa các thể chế quản lý xã hội , giữa chính quyền và các tổ chức tự quản. Đặc biệt, cần
chú ý tới các thiết chế hòa giải, có tác dụng vừa áp dụng luật pháp vừa vận dụng hương
ước, đảm bảo xử lý theo tinh thần “vừa có lý vừa có tình”, thích hợp với tính chất của
xã hội nông thôn hiện nay.
Tránh việc quy định trong bản hương ước các hình thức phí, lệ phí, xử phạt một
cách tùy tiện, bừa bãi.
Về nội dung hương ước cần tránh việc biên soạn các điều khoản không đúng với
tinh thần của pháp luật, can thiệp quá sâu vào đời sống cá nhân, đi ngược lại cả những
phong tục truyền thống từ lâu đời.
Có các biện pháp nâng cao trình độ của cán bộ cấp thôn, xã.
Có thể thấy các sai sót của các bản hương ước, quy ước là do yếu kém về nhận
thức của cán bộ nói chung và cán bộ được phân công làm việc đó. Nâng cao trình độ
của cán bộ cấp thôn xã là giải pháp để khắc phục các sai phạm.
Cộng đồng dân cư ở nông thôn hiện nay đã và đang có những biến động lớn. Từ
cộng đồng còn mang nhiều dấu ấn tùy tiện, pháp luật chưa thật sự được tuân thủ sang
cộng đồng công dân- cộng đồng sống và hoạt động theo pháp luật.
Do đặc điểm về địa hình, về truyền thống văn hóa, tập quán nên các cộng đồng
có những nhu cầu về hương ước không hẳn là giống nhau. Vấn đề đặt ra hiện nay là cần
hài hòa hóa giữa pháp luật và hương ước trong quản trị xã hội nông thôn. Với tham luận
này, chúng tôi muốn góp một phần vào việc trao đổi về chủ đề lí thú này.
54
55
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI NÔNG THÔN MỚI:
THỰC TRẠNG, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP
GS.TS Lê Ngọc Hùng34
1. HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI: MỤC TIÊU, THÀNH PHẦN, CẤU TRÚC
Từ năm 2012 đến nay, Việt Nam chủ trương xây dựng hệ thống an sinh xã hội
toàn diện, đa dạng, linh hoạt với các trụ cột thành phần nhằm những mục tiêu nhất định,
cụ thể như sau:
(i) Tạo việc làm, thu nhập và giảm nghèo với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020,
tỉ lệ thất nghiệp chung dưới 3%, tỉ lệ thất nghiệp thành thị dưới 4%; thu nhập bình quân
đầu người của hộ nghèo tăng trên 3,5 lần so với năm 2010, tỉ lệ hộ nghèo cả nước giảm
1,5 - 2%/năm; các huyện, xã có tỉ lệ nghèo cao giảm 4%/năm theo chuẩn nghèo từng
giai đoạn.
(ii) Bảo hiểm xã hội: năm 2012 xác định mục tiêu đến năm 2020 có khoảng 50%
lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội, 35% lực lượng lao động tham gia bảo
hiểm thất nghiệp.
(iii) Trợ giúp xã hội những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: Phấn đấu
đến năm 2020 có khoảng 2,5 triệu người được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên,
trong đó trên 30% là người cao tuổi.
(iv) Bảo đảm mức tối thiểu về một số dịch vụ xã hội cơ bản cho người
dân: đặc biệt là người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn và đồng bào dân tộc thiểu
số. Trụ cột này có 5 cấu phần với một số mục tiêu cụ thể là:
Bảo đảm giáo dục tối thiểu: xây dựng đề án phổ cập mầm non cho trẻ dưới 5 tuổi,
phấn đấu đến năm 2020 có 99% trẻ em đi học đúng độ tuổi ở bậc tiểu học, 95% ở bậc
trung học cơ sở, 98% người trong độ tuổi từ 15 trở lên biết chữ, trên 70% lao động qua
đào tạo.
Bảo đảm y tế tối thiểu: Đến năm 2020, trên 90% trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng
đầy đủ; tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi thể nhẹ cân 10%. Đến năm 2020 trên
80% dân số tham gia bảo hiểm y tế.
Bảo đảm nhà ở tối thiểu: Cải thiện điều kiện nhà ở cho người nghèo,
Bảo đảm nước sạch: Đến năm 2020, 100% dân cư nông thôn được sử dụng nước
sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó 70% sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia.
Bảo đảm thông tin: Tăng cường thông tin truyền thông đến người dân nghèo,
vùng nghèo, vùng khó khăn. Đẩy mạnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia đưa
thông tin về cơ sở, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo.
2. HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI
Theo nghĩa hẹp, từ góc độ chi ngân sách nhà nước, chính sách an sinh xã hội chỉ
bao gồm các khoản trợ cấp bằng tiền, lương hưu, trợ cấp và khoản khác cho những người
có công và những người trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. An sinh xã hội theo nghĩa
hẹp chỉ bao gồm các khoản trợ cấp bằng tiền, lương hưu và trợ cấp đã tăng về giá trị
34 Đại học quốc gia Hà Nội
56
tuyệt đối tính theo giá hiện hành và tăng tỉ trọng trong GDP và tổng chi thường xuyên.
Tuy nhiên, trong tổng chi xã hội, khoản chi cho an sinh xã hội với tỉ trọng 31,3% năm
2004, chiếm vị trí thứ hai sau chi giáo dục và đào tạo, đã giảm xuống còn gần 30% năm
2012. Ở vị trí thứ ba là chi y tế, tăng từ gần 11,0% lên gần 17,0% trong cùng thời kỳ
này. Tỉ trọng chi an sinh xã hội trong GDP tăng từ 2,2% năm 2004 lên 3,0% năm 2012,
đồng thời tỉ trọng chi an sinh xã hội trong tổng chi thường xuyên cũng tăng từ 9,2% lên
11,4% năm 2004-2012.
Theo nghĩa rộng, từ góc độ chi ngân sách nhà nước, chính sách an sinh xã hội
theo nghĩa rộng bao gồm an sinh xã hội theo nghĩa hẹp, các chương trình giảm nghèo,
các chương trình điều tiết thị trường lao động và các chương trình khác. Theo nghĩa
rộng, an sinh xã hội bao gồm chín hợp phần chính sách, cụ thể như sau: (i) Các chương
trình giảm nghèo (Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, Chương trình
135 và Chương trình 30a) và chính sách giảm nghèo (trừ hỗ trợ giáo dục và bảo hiểm y
tế; (ii) Các chương trình điều tiết thị trường lao động (dạy nghề, xuất khẩu lao động và
việc làm); (iii) Bảo hiểm xã hội và thất nghiệp (ngân sách chi trả lương hưu cho người
nghỉ hưu trước 1995 và hỗ trợ bảo hiểm tự nguyện; (iv) Hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế;
(v) Hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo; (vi) Hỗ trợ giáo dục (miễn giảm học phí, học bổng,
hỗ trợ học nội trú và ăn trưa); (vii) Chăm sóc xã hội; (viii) Trợ giúp đột xuất; (ix) Trợ
giúp xã hội (hỗ trợ tiền mặt hàng tháng theo Nghị định 67, 13, 136).
Tổng chi tiêu ngân sách nhà nước cho tất cả chín loại chương trình an sinh xã hội
theo nghĩa rộng này đã tăng từ 2.6% GDP năm 2008 lên tới mức cao nhất là 3.36% GDP
năm 2010 và sau đó đã giảm xuống còn 2.8% GDP năm 2013. Nếu tính cả chi tiêu 1.07%
GDP cho chính sách đối với người có công thì mức chi cho an sinh xã hội theo nghĩa
rộng là 3.87% GDP năm 2013. So với các nước trong khu vực, mức chi ngân sách cho
an sinh xã hội của Việt Nam thuộc loại thấp. Trên thực tế, theo nghĩa hẹp, cấu trúc tổng
chi an sinh xã hội của Việt Nam bao gồm bốn khoản lần lượt như sau:
(i) Các khoản trợ cấp bằng tiền gồm phúc lợi trợ cấp bằng tiền hàng tháng, trợ
cấp đột xuất trong trường hợp thảm họa thiên tai; trợ cấp cho người có thu nhập thấp;
trợ cấp tiền điện (kể từ năm 2011); (ii) Phúc lợi bảo hiểm xã hội bao gồm lương hưu
trong đó có lương hưu cho những người nghỉ hưu trước tháng 7 năm 1995 (do ngân sách
nhà nước chi trả) và lương hưu cho những người nghỉ hưu sau tháng năm 1995 (do Bảo
hiểm Việt Nam chi trả); (iii) Trợ cấp cho người có công với cách mạng; (iv) Miễn phí
thủy lợi: đóng góp vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp do Bảo hiểm Việt Nam quản lý (kể từ
năm 2009), hỗ trợ công chức làm việc tại các vùng khó khăn (kể từ năm 2011), hỗ trợ
xây dựng công trình ngăn lũ, tái định cư cá nhóm đồng bào dân tộc thiểu số (kể từ năm
2009); hỗ trợ xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn (kể từ
2009); trợ cấp cho các xã biên giới với Lào và Cămpuchia (kể từ 2009); hỗ trợ xây dựng
nông thôn mới (kể từ 2010), hỗ trợ sản xuất, nuôi trồng thủy sản ở hải đảo (kể từ 2010).
Trên thực tế ở Việt Nam hiện nay, định nghĩa hẹp về an sinh xã hội cũng cũng có
xu hướng mở rộng bao gồm cả hợp phần chương trình giảm nghèo, hợp phần hỗ trợ xây
dựng cơ sở hạ tầng và “hỗ trợ xây dựng nông thôn mới”. Tổng chi an sinh xã hội theo
nghĩa hẹp này chiếm 4,0% GDP và hầu như không thay đổi trong giai đoạn 2007 – 2011.
Trong tổng chi an sinh xã hội, khoản chi “phúc lợi bảo hiểm xã hội gồm lương hưu”
chiếm quá nửa với tỉ trọng 2,7% vào năm 2007 sau đó giảm xuống còn 2,3% năm 2011;
khoản chi trợ cấp cho người có công giảm từ 1,0% xuống còn 0,9%; trong khi đó các
khoản trợ cấp bằng tiền chiếm tỉ trọng nhỏ nhưng đã tăng gấp đôi từ 0,2% lên 0,5% và
57
các khoản chi khác gồm các chương trình giảm nghèo tăng gấp ba: từ 0,1% lên 0,3%
trong giai đoạn 2007-2011.
Cần đặc biệt lưu ý là việc thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia
giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 được ghi nhận là một nội dung hàng đầu, nội
dung số 1 của “giảm nghèo và an sinh xã hội” trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây
dựng nông thôn mới năm 2016-2020.
3. MỘT SỐ KẾT QUẢ CỦA HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI
3.1. Tạo việc làm, thu nhập và giảm nghèo
Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2018 ước
tính 54,3 triệu người, tăng 579,7 nghìn người so với năm 2017. Tỷ lệ thất nghiệp
chung của cả nước năm 2018 là 2.0%, trong đó khu vực thành thị là 2,95%; khu vực
nông thôn là 1,55%. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ước tính là 1,46%,
trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 0,69%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực
nông thôn là 1,85%.
Năm 2018, thu nhập bình quân một người một tháng ước tính đạt 3,76 triệu
đồng (tăng 660 nghìn đồng so với năm 2016), bình quân giai đoạn 2016-2018 tăng
10,2%/năm. Tỷ lệ hộ nghèo theo tiếp cận đa chiều năm 2018 ước tính là 6,8%, giảm
1,1 điểm phần trăm so với năm 2017.
3.2. Bảo hiểm xã hội
Năm 2018, số người tham gia bảo hiểm xã hội là 14,724 triệu người, chiếm
khoảng 30,4% lực lượng lao động trong độ tuổi, trong đó có 271.000 người tham gia
bảo hiểm xã hội tự nguyện. Số người tham gia bảo hiểm y tế tăng nhanh đạt 88,5% dân
số (tương ứng với 83,515 triệu người), vượt 3,3% so với chỉ tiêu được giao. Trong năm
2018, giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho gần 10,7 triệu lượt
người; thanh toán chi phí khám chữa bệnh bỏa hiểm y tế cho trên 177,6 triệu lượt người;
phối hợp giải quyết cho 768.739 người hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp. Năm 2019
là năm khởi đầu cho việc thực hiện Nghị quyết số 28/2018-NQ/TW về cải cách chính
sách bảo hiểm xã hội.
3.3. Trợ giúp xã hội những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Đến đầu năm 2019, Chính phủ đã hỗ trợ trên 5.7 triệu tấn gạo cứu đói cho 42.756
hộ, 194.220 nhân khẩu bị ảnh hưởng bởi thiên tai năm 2018. Về trợ cấp xã hội hàng
tháng cho đối tượng bảo trợ xã hội, đến nay cả nước đã thực hiện trợ cấp xã hội hàng
tháng và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho 2.863.318 người, trong đó: 42.734 trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt; 1.634.367 người cao tuổi; 1.012.623 người khuyết tật đang hưởng trợ cấp
và 172.844 đối tượng khác. Tuy nhiên, hiện cả nước còn 4,6 % là người già chưa có
BHYT. Rất ít người khuyết tập (2,3% trong tổng số 6.2 triệu người khuyết tật, chiếm
7% tổng dân số) tiếp cận được với dịch vụ phục hồi chức năng khi bị ốm hoặc bị thương.
3.4. Bảo đảm mức tối thiểu về một số dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân
Bảo đảm giáo dục tối thiểu: Năm 2016, ở nông thôn, tỉ lệ trẻ em thiếu hụt giáo
dục là trên 11%, và thiếu hụt về vui chơi, giải trí là trên 72%. Đến năm 2017 Việt Nam
đã đạt phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi. Năm 2017, tỉ lệ đi học đúng tuổi
tiểu học đạt 98%, trung học cơ sở 91.7% và trung học phổ thông đạt 71.5%, nhiều hơn
hẳn so với năm 2009 với các tỉ lệ tương ứng là 96%, 83% và 57%. Tuy nhiên, tỉ lệ đi
học tiểu học và trung học cơ sở của trẻ em đồng bào dân tộc thiểu số còn rất thấp so với
58
người Kinh. Đến năm 2018, công tác xóa mù chữ và phổ cập giáo dục đạt được kết quả
cao: 100% các đơn vị cấp tỉnh, huyện và 99,9% đơn vị cấp xã đạt chuẩn xóa mù chữ
mức độ 1 và 80,3% đơn vị cấp xã được công nhận đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 2. Tỉ
lệ biết chữ của dân số 15-35 tuổi đạt 98.87% và trong dân số 15-60 tuổi là 97.57%. Tỷ
lệ người dân tộc thiểu số biết chữ độ tuổi 15-60 là 93,44%. Từ năm 2019, trẻ em mầm
non 5 tuổi ở những vùng đặc biệt khó khăn và học sinh tiểu học trong trường công lập
được miễn học phí; trẻ em mầm non 5 tuổi ở những nơi khác và học sinh trung học cơ
sở được miễn học phí theo lộ trình của Chính phủ.
Bảm đảm y tế tối thiểu: Năm 2016, ở nông thôn, tỉ lệ trẻ em thiếu hụt về y tế là
47%. Năm 2017, tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi vẫn còn cao 23,8%
và thể nhẹ cân là 13,4%, đồng thời có sự khác biệt giữa các vùng miền, khu vực35; tình
trạng thiếu vi chất dinh dưỡng chưa được cải thiện, tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi
là 27,8%, ở phụ nữ có thai là 32,8%, ở phụ nữ không có thai là 25,5%; tỷ lệ thiếu kẽm
còn rất cao: ở trẻ em dưới 5 tuổi là 69,4% và phụ nữ có thai còn đặc biệt cao 80,3%;
57,2% số người trưởng thành (18 đến 69 tuổi) ăn ít rau/trái cây (tức là ăn ít hơn 5 suất
rau/trái cây trung bình trong 1 ngày - theo định nghĩa của WHO); mức tiêu thụ muối
hiện nay của người Việt Nam cao gấp 2 lần mức khuyến nghị (theo khuyến nghị WHO
là 5gam muối/người/ngày, tương đương với 8g bột canh, hoặc 25ml nước mắm, hoặc
35ml xì dầu), có đến 28,1% số người thiếu hoạt động thể lực (dưới 150 phút hoạt động
thể lực cường độ trung bình/ 1 tuần hoặc tương đương). Mô hình bệnh tật của người dân
Việt Nam đang chuyển tiếp từ các bệnh lây nhiễm là chủ yếu sang các bệnh không lây
nhiễm, theo ước tính của WHO tại Việt Nam năm 2017 cả nước có trên 541.000 trường
hợp tử vong do tất cả các nguyên nhân, trong đó tử vong do các bệnh không lây nhiễm
chiếm tới 76% (411.600 ca), trong đó đứng đầu là các bệnh tim mạch, đái tháo đường,
ung thư, loãng xương, gout. Đến năm 2018, tỉ lệ người tham gia bảo hiểm y tế đạt 87,5%
xa và vượt trước 2 năm so với mục tiêu đề ra (2020 trên 80%). Năm 2018 là năm thứ
hai, Việt Nam đạt tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ tám loại vaccine cho trẻ dưới một tuổi trên
quy mô toàn quốc tăng từ 90% lên 95%.
Bảo đảm nhà ở tối thiểu: Tỉ lệ nhà tạm được giảm mạnh từ 16% năm 2006 xuống
còn 2.6% năm 2016. Tuy nhiên, năm 2016, ở nông thôn tỉ lệ nhà tạm là 3.5% nhiều gấp
5 lần so với tỉ lệ 0.7% ở thành thị. Tỉ lệ nhà tạm ở Đồng bằng sông Hồng là 0.1% nhưng
ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc là 6.1% và ở Đồng bằng sông Cửu Long là 6.8%.
Bảo đảm nước sạch: Năm 2016, có 87,5% dân số được sử dụng nước hợp vệ
sinh; trong đó, gần 49% đạt quy chuẩn Việt Nam. Tỉ lệ hộ gia đình có nước máy riêng,
nước máy công cộng tăng từ 23.5% năm 2006 lên 39.3% năm 2016. Ở thành thị tỉ lệ này
là 77.4% và ở nông thôn là 21.4%; tỉ lệ trẻ em thiếu hụt về nước sạch và vệ sinh là
47.6%.
Tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sạch chưa cao là do các công trình
cấp nước tập trung hoạt động chưa hiệu quả. Trong số 16.342 công trình cấp nước tập
trung hiện nay, chỉ có 33,5% công trình hoạt động bền vững; tỷ lệ hoạt động ở mức
trung bình là 37,8%; kém hiệu quả là 16,7% và 12% công trình ngừng hoạt động.
Đã xuất hiện các mô hình quản lý nước sạch cần được đánh giá, tổng kết và đổi
mới: Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn thuộc Sở NN&PTNT quản
35
ngay-16---23102018.html.
59
lý chiếm 9,8%; doanh nghiệp quản lý chiếm 5,3%; cộng đồng quản lý chiếm 40%;
UBND xã quản lý chiếm 30,3%. Mỗi mô hình có những ưu, nhược điểm khác nhau, tuy
nhiên, mô hình do UBND xã và cộng đồng quản lý đã bộc lộ những hạn chế cần có sự
chuyển đổi cho phù hợp. Nhóm hộ nghèo 20% có tỉ lệ nhà tạm 8.1%. Một số địa phương
có tỉ lệ nhà tạm rất cao như tỉnh Tuyên Quang 16/1% và tỉnh Kiên Giang 16.2%.
Về xử lý rác thải, năm 2016 trên 55% các hộ gia đình Việt Nam có rác thải được
người khác đến lấy đi để xử lý. Tỉ lệ này ở thành thị là 85.6% và ở nông thôn là gần 41%.
Bảo đảm thông tin, trợ giúp pháp lý
Đến năm 2016, ở nông thôn Việt Nam gần 95% các hộ gia đình có ti vi và trên
13% hộ gia đình có máy vi tính. Đây là điều kiện thuận lợi để truyền thông đến được
các hội gia đình thông qua kênh nghe nhìn. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu thông tin phổ biến
khoa học và công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn.
Hiện nay đã có 63 Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước trực thuộc Sở Tư pháp
được thành lập ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 151 chi nhánh của Trung
tâm trợ giúp pháp lý đặt tại các huyện hoặc liên huyện. Đến 31/12/2018 đã có 166 tổ
chức hành nghề luật sư tham gia trợ giúp pháp lý (15 tổ chức ký hợp đồng với Sở Tư
pháp, 141 tổ chức đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý), 45 tổ chức tư vấn pháp luật tham
gia trợ giúp pháp lý (13 tổ chức ký hợp đồng với Sở Tư pháp, 32 tổ chức đăng ký tham
gia trợ giúp pháp lý).
4. AN SINH XÃ HỘI TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
4.1. Mục tiêu xây dựng nông thôn mới phản ánh mục tiêu an sinh xã hội
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 xác
định mục tiêu chung bao gồm “Xây dựng nông thôn mới để nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần cho người dân”. Mục tiêu cụ thể bao gồm: “Cơ bản hoàn thành các công
trình thiết yếu đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và đời sống của cư dân nông thôn:
giao thông, điện, nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế xã; Nâng cao chất lượng cuộc
sống của cư dân nông thôn; thu nhập tăng ít nhất 1,8 lần so với năm 2015. Như vậy, mục
tiêu có phản ánh nội dung an sinh xã hội và đối tượng thụ hưởng là người người dân và
cộng đồng dân cư trên địa bàn nông thôn. Do vậy, mục tiêu cuối cùng xây dựng nông
thôn mới phải là đảm bảo an sinh xã hội để phát triển con người ở nông thôn.
4.2. Nội dung và tiêu chí “Giảm nghèo và an sinh xã hội”
Chương trình này dành 1/11 nội dung thành phần cho nội dung số 4 “Giảm nghèo
và an sinh xã hội” nhằm mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 11 về hộ nghèo trong Bộ tiêu
chí quốc gia về nông thôn mới. Đến năm 2020, có 60% số xã đạt chuẩn tiêu chí số 11
về hộ nghèo; giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân của cả nước từ 1,0% - 1,5%/năm (riêng các
huyện, các xã đặc biệt khó khăn giảm 4%/năm) theo chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn
2016 - 2020. Thành phần này có hai nội dung là: (i) Thực hiện có hiệu quả Chương trình
mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020. (ii) Thực hiện các Chương
trình an sinh xã hội ở xã, thôn. Cơ quan chủ trì thực hiện thành phần “giảm nghèo và an
sinh xã hội” là Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Tuy nhiên, các báo cáo đánh giá
kết quả thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới thường chỉ
nêu hai tiêu chí là tỉ lệ hộ nghèo và tỉ lệ lao động có việc làm mà thiếu thông tin về các
tiêu chí của cả một hệ thống an sinh xã hội gồm bốn trụ cột thành phần. Đây là một “vấn
đề hệ thống” về thực hiện “các Chương trình an sinh xã hội ở xã, thôn” cần được tính
đến trong xây dựng nông thôn mới.
60
4.3. Các nội dung và tiêu chí khác về an sinh xã hội
Ngoài nội dung trực tiếp, cụ thể “giảm nghèo và an sinh xã hội” trong Chương
trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới còn có các nội dung khác với các tiêu
chí khác về an sinh xã hội. Cụ thể như sau:
Về lao động, thu nhập, việc làm, giảm nghèo: Chương trình đề ra mục tiêu đến
năm 2020 80% xã đạt yêu cầu tiêu chí số 10 về thu nhập, tiêu chí số 12 về tỷ lệ lao động
có việc làm thường xuyên. Đào tạo nghề cho 5,5 triệu lao động nông thôn (bình quân
1,1 triệu lao động/năm), trong đó, hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng
cho 3,84 triệu lao động nông thôn, người khuyết tật, thợ thủ công, thợ lành nghề gắn với
nhu cầu của thị trường lao động
Về đảm bảo giáo dục tối thiểu: thực hiện tiêu chí số 5 về cơ sở vật chất trường
học, ví dụ “đến năm 2020, có 80% số xã đạt chuẩn tiêu chí số 5 về cơ sở vật chất trường
học”; 80% số xã đạt chuẩn tiêu chí số 14 về giáo dục (phổ cập giáo dục mầm non, xóa
mù chữ và chống tái mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, thực hiện phổ cập giáo dục
trung học cơ sở)
Về đảm bảo y tế tối thiểu: đến năm 2020, có 90% trạm y tế xã có đủ điều kiện
khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế; 70% số xã đạt chuẩn tiêu chí số 15 về Y tế.
Về đảm bảo nước sạch và vệ sinh: Đến năm 2020, có 70% số xã đạt tiêu chí số
17 về môi trường; 75% số hộ gia đình ở nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh; 100% trường
học, trạm y tế xã có nhà tiêu hợp vệ sinh được quản lý và sử dụng tốt.
Về đảm bảo thông tin và truyền thông cơ sở: Đến năm 2020, có 95% số xã đạt
chuẩn các nội dung khác của tiêu chí số 8 về Thông tin - Truyền thông.
4.4. Cơ quan chủ trì và thực hiện các mục tiêu, nội dung, tiêu chí về an sinh
xã hội
Có thể phát hiện một số “vấn đề hệ thống” của an sinh xã hội trong xây dựng
nông thôn mới. Đó là: thứ nhất, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn
mới giai đoạn 2016-2020 chưa nêu rõ những nội dung và tiêu chí của một số trụ cột của
hệ thống an sinh xã hội, ví dụ chưa nói đến “bảo hiểm xã hội và trợ giúp xã hội”. Thứ
hai, trong phân công quản lý và tổ chức thực hiện Chương trình Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn là Cơ quan chủ trì Chương trình. Nhưng trong việc thực hiện từng mục
tiêu, nội dung và tiêu chí của Chương trình thì Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
chỉ xuất hiện 4 lần trong tổng số 27 lần xuất hiện tên các bộ, ngành ở mục “cơ quan chủ
trì, thực hiện”. Cụ thể, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được giao chủ trì và
hướng dẫn thực hiện nội dung phát triển sản xuất và tăng thu nhập; chỉ đạo và chịu trách
nhiệm về đào tạo nghề; chủ trì và hướng dẫn thực hiện nội dung liên quan đến môi
trường; chủ trì và hướng dẫn thực hiện nội dung về nâng cao năng lực và truyền thông.
Thứ ba, các nội dung chủ yếu của an sinh xã hội do các bộ, ngành khác chủ trì, ví dụ nội
dung giảm nghèo và an sinh xã hội do bộ Lao động, thương binh và xã hội chủ trì, nội
dung an sinh xã hội về giáo dục do bộ Giáo dục và đào tạo chủ trì, nội dung an sinh xã
hội về y tế, chăm sóc sức khỏe do Bộ Y tế chủ trì. Điều này có nghĩa là nhiều bộ ngành
trực tiếp chủ trì, hướng dẫn, phối hợp thực hiện Chương trình.
61
5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
5.1. Kết luận
Từ năm 2012 đến nay, Việt Nam định hướng xây dựng hệ thống an sinh xã hội
toàn diện, đa dạng, đa tầng và linh hoạt, hiện đại và hội nhập quốc tế đảm bảo công
bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững. Hiện nay hệ thống an sinh xã hội đã được định
hình và phát triển với bốn trụ cột an sinh xã hội là tạo lao động, việc làm, thu nhập; bảo
hiểm xã hội, bảo trợ xã hội và bảo đảm các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu. Hệ
thống an sinh xã hội theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp là hệ thống các chương trình, chính
sách an sinh xã hội đã được ban hành và thực hiện đạt nhiều thành tựu nhất định như
giảm nghèo, tăng thu nhập, tăng mức độ bao phủ của bảo hiểm xã hội, mở rộng cơ hội
và nâng cao chất lượng bảo trợ xã hội và các dịch vụ xã hội cơ bản. Chương trình mục
tiêu quốc xây dựng nông thôn đã góp phần trực tiếp đảm bảo giảm nghèo và an sinh xã
hội đối với người dân và cộng đồng dân cư ở nông thôn. Kết quả thực hiện xây dựng
NTM là cơ sở để tiếp tục xây dựng, phát triển hệ thống an sinh xã hội ở nông thôn.
Tuy nhiên, một số vấn đề hệ thống của an sinh xã hội có thể cần tính đến để có
giải pháp phù hợp và hiệu quả. Đó là Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông
thôn mới có cả một nội dung thành phần “giảm nghèo và an sinh xã hội” nhưng lại do
Bộ Lao động, thương binh và xã hội chủ trì thực hiện. Đồng thời, nhiều yếu tố của hệ
thống an sinh xã hội nằm rải rác trong các mục tiêu, nội dung và tiêu chí xây dựng nông
thôn mới và do các bộ ngành khác chủ trì thực hiện. Trong khi đó, trụ cột bảo hiểm xã
hội và trụ cột bảo trợ xã hội rất ít thậm chí khó tìm thấy trong mục tiêu, nội dung và tiêu
chí xây dựng nông thôn mới. Hệ thống an sinh xã hội nông thôn mới được xây dựng có
hiệu quả như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức, đánh giá thực trạng và những
vấn đề đặt ra trong xây dựng nông thôn mới.
5.2. Khuyến nghị
Từ những điều trình bày trên, có thể khuyến nghị ưu tiên nghiên cứu cơ sở lý luận
và đề xuất giải pháp thực tiễn xây dựng có hiệu quả hệ thống an sinh xã hội nông thôn
mới. Cụ thể là nghiên cứu tổng kết và đề xuất giải pháp xây dựng các mô hình xây dựng
nông thôn mới gắn với xây dựng hệ thống an sinh xã hội toàn diện, đa dạng, đa tầng,
linh hoạt, mang tính chia sẻ, công bằng và bền vững ở cấp xã. Nghiên cứu xây dựng bộ
tài liệu hướng dẫn thực hiện các mục tiêu, nội dung, tiêu chí của hệ thống an sinh xã hội
trong xây dựng nông thôn mới. Mọi sự thành bại, tốt xấu do do công tác cán bộ, do vậy
rất có thể cần phải nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao năng lực chủ trì, hướng dẫn,
phối hợp và thực hiện các mục tiêu, nội dung và tiêu chi về an sinh xã hội trong xây
dựng nông thôn mới. Đặc biệt, cần nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hệ thống
an sinh xã hội trong xây dựng nông thôn mới để làm căn cứ đánh giá, kiểm tra, giám sát
từ đó đề xuất giải pháp kịp thời có hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả và
tính bền vững của các kết quả xây dựng nông thôn mới.
Một khuyến nghị khác bắt nguồn từ những phát hiện đã nêu ở trên. Đó là vấn đề
mở rộng độ bao phủ của bảo hiểm xã hội đến các đối tượng trong đó có người dân ở
nông thôn. Do đó, rất có thể cần nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp để Chương
trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới có thể trực tiếp góp phần thực hiện cải
cách chính sách bảo hiểm xã hội.
62
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nghị quyết 15-NQ/TW Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa XI
một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020.
2. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020, Ban
hành kèm theo Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16 tháng 8 năm 2016 của Thủ
tướng Chính phủ.
3. Quyết định số 1980/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Về việc ban hành Bộ tiêu
chíquốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020.
4. Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành
Trung ương Đảng (khóa XII) về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.
5. Nguyễn Thị Lan Hương và các đồng sự. Phát triển hệ thống an sinh xã hội ở Việt
Nam đến năm 2020. Viện Khoa học Lao động và Xã hội. Hà Nội. 2013.
6. Lê Ngọc Hùng. Chính sách xã hội. Nxb Đại học quốc gia Hà Nội. 2017.
63
GIỮ GÌN AN NINH TRẬT TỰ NÔNG THÔN: THỰC TRẠNG, ĐỊNH
HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP
Trung tướng, TS Trần Thị Ngọc Đẹp36
Nghiên cứu về an ninh, trật tự (ANTT) nông thôn Việt Nam là vấn đề lớn, trong
khuôn một bài tham luận hội thảo sẽ không thể giải quyết được mọi khía cạnh của vấn
đề. Ở đây, mục đích bài viết với góc nhìn từ phong trào và công tác xây dựng phong
trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, tôi chỉ đánh giá, phân tích những nét chính về yếu
tố tác động của tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong thời kỳ đổi mới đối với
tình hình ANTT ở nông thôn và đề nghị một số giải pháp gắn với công tác xây dựng
phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc góp phần giữ vững ANTT ở địa bàn nông
thôn trong tình hình hiện nay.
Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã,
thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã; ANTT nông thôn
là sự ổn định và phát triển vững chắc về chính trị, kinh tế, tư tưởng- văn hóa, xã hội ở
nông thôn, các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng hoạt động hiệu quả,
không để xảy ra các vụ việc phức tạp gây mất ổn định. Chiếm 2/3 diện tích quốc gia,
gần 70% dân số (theo thống kê hiện nay toàn quốc có 8.978 xã/11.162 đơn vị hành chính
cấp xã, chiếm 80,43%), nông thôn Việt Nam (NTVN) là địa bàn rộng lớn, chiến lược về
an ninh quốc gia. Xuất phát từ cội nguồn văn minh lúa nước, với hàng ngàn năm lịch sử
dựng nước và giữ nước, NTVN có đặc trưng hết sức cơ bản là tính cộng đồng và tính tự
trị. Hai đặc trưng này đều có mặt tích cực và mặt tiêu cực, tùy theo từng hoàn cảnh tác
động mà sự thể hiện của các mặt đó đó ở mức độ khác nhau. Sau hơn ba thập niên đổi
mới, thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, cấu
trúc làng xã, đặc điểm văn hóa, cơ cấu hành chính của NTVN hiện nay đang có biến
đổi nhanh chóng với nhiều sắc thái mới. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp và nông thôn là một quá trình kinh tế - xã hội phức tạp, chứa đựng cả yếu tố tích
cực và tiêu cực tác động đến ANTT.
Thứ nhất, sự biến đổi về kinh tế có tác động rất lớn đến an ninh, trật tự. Công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn kèm theo đó lực lượng sản xuất phát
triển theo hướng hiện đại; kinh tế thuần nông dần bị phá vỡ, năng suất lao động nông
nghiệp tăng lên; cơ cấu nông nghiệp có sự dịch chuyển mạnh mẽ từ nền kinh tế nông
nghiệp chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa, quy luật thị trường chi phối quá trình sản
xuất. Từ đó, kinh tế nông nghiệp tăng trưởng, đời sống của người nông dân được cải
thiện, đã tạo ra những điều kiện thuận lợi củng cố quốc phòng và an ninh. Tuy nhiên,
mặt trái của kinh tế thị trường trong sản xuất nông nghiệp bộc lộ rõ nét và tác động mạnh
mẽ đến sự ổn định và phát triển lành mạnh của nền kinh tế, cơ cấu kinh tế nông nghiệp
thuần nông truyền thống bị phá vỡ, nhường chỗ cho các quan hệ kinh tế nông nghiệp
thời kinh tế thị trường ngày càng sâu rộng. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế quá nhanh,
quá nóng trong nông nghiệp đã bộc lộ sự thiếu bền vững và dẫn đến hệ lụy về an ninh,
trật tự. Bức tranh nông thôn chuyển sang đa sắc màu của đô thị hóa, với mật độ dân cư
đông đúc, phần lớn diện tích đất nông nghiệp chuyển đổi mục đích cho phát triển đô thị,
cho các dự án đã gây nên những khó khăn, bất cập về chuyển đổi nghề nghiệp, định
hướng sản xuất, kinh doanh, về công tác quản lý xã hội, bảo đảm an ninh, trật tự. Tình
36 Cục trưởng Cục Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc (V05), Bộ Công an
64
trạng khiếu kiện đông người do mất đất canh tác, do chính sách đền bù ruộng đất chưa
thỏa đáng, do đâu đó việc sử dụng tùy tiện, lãng phí ruộng đất, sự yếu kém trong quản
lý, quy hoạch và sử dụng đất nông nghiệp đã gây ra những bất bình trong nhân dân;
những mâu thuẫn lợi ích giữa nông dân và doanh nghiệp cũng từ đó phát sinh xung
đột
Thứ hai, sự biến đổi về xã hội tác động đến ANTT. Kinh tế thị trường, đã mang
lại sự đổi thay tích cực của bức tranh NTVN, đó là sự nhộn nhịp, sầm uất, đời sống vật
chất được cải thiện... Bên cạnh đó, một thực tế cho thấy mặt trái kinh tế thị trường đã và
đang tác động dữ dội đến làng xã Việt Nam; tính cộng đồng, tương trợ giúp nhau trong
sản xuất, trong những công việc chung, trong bảo đảm ANTT trong các bản, làng
dường như có xu hướng giảm đi; lối sống “đèn nhà ai rạng nhà ấy” tăng lên, vai trò gia
đình được chú trọng hơn là tính cộng đồng làng xã. Bên cạnh đó, nhiều nơi, nhiều lúc
tính tự trị làng xã bị đẩy đến mức cực đoan theo kiểu “phép vua thua lệ làng”, cục bộ,
bè phái, gia trưởng, thậm chí kích động tâm lý người dân đối lập với chính quyền, bất
tuân Hiến pháp, pháp luật, gây mất ANTT ở nông thôn. Sự tác động của mặt trái kinh tế
thị trường cũng làm cho chủ nghĩa cá nhân phát triển, lối sống thực dụng gia tăng, đề
cao cái tôi, các quan hệ vật chất, tiền bạc đã len lỏi vào trong tâm hồn và lối sống của
một bộ phận không nhỏ nông dân nhất là thanh, thiếu niên; tâm lý gia trưởng bị đẩy lên
thành tâm lý cục bộ, bản vị, địa phương, bè phái ích kỷ, hương ước lấn át pháp quốc. Sự
phân hóa giàu nghèo ở nông thôn có xu hướng ngày càng lớn (có tới 90% hộ nghèo của
cả nước sống ở các vùng nông thôn); tình trạng ô nhiễm môi trường gia tăng đang hàng
ngày, hàng giờ tác động, hủy hoại sức khỏe, tinh thần của người dân, dồn tụ thành những
bức xúc tác động trực tiếp đến ANTT nông thôn.
Thứ ba, biến đổi về văn hóa tác động đến ANTT: Sau hơn 30 năm đổi mới, từ
góc nhìn văn hóa, tâm lý, ý thức đã có rất nhiều biến đổi. Trong đó có quá trình biến đổi
tích cực, tạo động lực cho sự thay đổi tích cực thì cũng đang gặp phải những biến đổi
văn hóa theo xu hướng tiêu cực. Như sự trỗi dậy các hủ tục vốn đã lạc hậu lỗi thời, sự
phục dựng thái quá những yếu tố văn hóa cổ, sự du nhập ồ ạt văn hóa đô thị thiếu chắt
lọc, tiếp nhận các sản phẩm phản văn hóa ngoại lai Chương trình xây dựng nông thôn
mới là chương trình quốc gia mang tính tổng thể về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,
an ninh quốc phòng. Tuy nhiên, sau 10 năm thực hiện, đã cho thấy có những vấn đề xã
hội phức tạp nảy sinh. Theo thống kê các tiêu chí nông thôn mới đã đạt được nhưng
chưa thật bền vững, xuất hiện ngày càng nhiều hơn tình trạng thiếu công ăn việc làm,
hiện tượng ly nông, ly hương vẫn tiếp tục diễn ra, thậm chí còn phổ biến hơn so với giai
đoạn trước năm 2008; đời sống người dân thu nhập bấp bênh, phương thức làm ăn mới
chưa thật ổn định, lối làm ăn cũ bị phá sản, sự tích tụ ruộng đất tăng lên, nỗi ám ảnh của
người dân về các “quy hoạch treo”, người nông dân không còn đất đai để canh tác là
một thực tế; tình trạng ly nông, ly hương mức độ diễn ra đáng kể hơn; bên cạnh đó, việc
tiếp thu lối sống công nghiệp, tâm lý hiện đại và văn minh đô thị do thiếu sự chuẩn bị,
thiếu chọn lọc và do cả những bất cập về quản lý văn hóa mà dẫn tới những vấn nạn xã
hội đó theo về nông thôn..., môi trường, cấu trúc tâm lý văn hóa nông thôn theo đó phần
nào cũng bị phá vỡ, bào mòn. Hệ thống chính trị ở nông thôn đã có những đổi mới nhưng
dường như chưa theo kịp và chưa đáp ứng được với yêu cầu của thực tiễn. Quá trình
triển khai chương trình quốc gia về xây dựng nông thôn mới có lúc, có nơi còn nặng căn
bệnh thành tích, thiếu thực chất, chưa đặt lợi ích chính đáng của người dân lên hàng đầu.
Từ những tác động nêu trên, tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội (TNXH) ở địa
bàn nông thôn đã có những diễn biến phức tạp; tội phạm, TNXH và các vi phạm pháp
65
luật khác có xu hướng ngày càng gia tăng; tình hình ANTT tại các khu công nghiệp, khu
chế xuất, cửa khẩu, khu vực biên giới cũng có những diễn biến xấu như: tội phạm xâm
phạm sức khỏe, tính mạng, tài sản của người lao động và các loại TNXH khác; tội phạm
buôn lậu, tội phạm về ma túy; xuất, nhập cảnh trái phép, xâm nhập lãnh thổ, mua bán
phụ nữ và trẻ em ở các địa bàn khu vực biên giới có xu hướng gia tăng; đã xuất hiện các
"điểm nóng", các vụ khiếu kiện đông người, các mâu thuẫn, tranh chấp kéo dài dẫn đến
xung đột xảy ra ở một số nơi với tính chất nghiêm trọng. Đáng chú ý là các loại tội phạm
lợi dụng tôn giáo, dân tộc, lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân để kích động, biểu tình
gây rối; tội phạm môi trường, tệ nạn ma túy, mại dâm, cờ bạc ở các vùng nông thôn
đã và đang có những diến biến phức tạp tác động không nhỏ đến ổn định và phát triển
đất nước. (theo thống kê 6 tháng đầu năm 2019, toàn quốc xảy ra 21.147 vụ phạm pháp
hình sự, giảm 1,54% so với cùng kỳ năm 2018. Tuy nhiên hoạt động của tội phạm có
chiều hướng manh động, nguy hiểm hơn; có nhiều vụ gây hậu quả đặc biệt nghiêm như:
giết người, giết người thân, giết người để cướp tài sản với hành vi dã man, mất nhân
tính do mâu thuẫn cá nhân, ghen tuông, mê tín dị đoan, sử dụng chất kích thích; tội
phạm núp bóng doanh nghiệp bảo kê bến bãi, “tín dụng đen”, cầm đồ, siết nợ, đòi nợ
thuê gắn với hành vi bắt giữ người trái pháp luật; tội phạm chống người thi hành công
vụ cũng diễn biến phức tạp; xảy ra nhiều vụ tại nạn giao thông, cháy, nổ gây hậu quả
nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng làm chết nhiều người, thiệt hại lớn về tài sản)
Từ tình hình trên luôn đặt ra cho chúng ta những yêu cầu nhiệm vụ bảo đảm
ANTT ở nông thôn. Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã đặc biệt quan tâm đến sự
phát triển phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội và củng cố an ninh, quốc phòng ở địa
bàn nông thôn. Ngày 05/8/2008, Nghị quyết số 26-NQ/TƯ Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp
hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X “về nông nghiệp, nông dân, nông
thôn” đã được ban hành. Với tinh thần đó, Thủ tướng Chính phủ ban hành các Quyết
định như: Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 về việc ban hành bộ tiêu chí Quốc
gia về nông thôn mới, trong đó tiêu chí số 19 đặt ra đối với xã là “An ninh, trật tự xã hội
được giữ vững”; Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2010 phê duyệt Chương trình
mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010- 2020, trong đó mục tiêu
đặt ra là “an ninh trật tự được giữ vững”; Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016
phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-
2020, trong đó mục tiêu đặt ra là “quốc phòng, an ninh, trật tự được giữ vững”; Quyết
định số 1980/QĐ-TTg, ngày 17/10/2016 về việc ban hành bộ tiêu chí Quốc gia về xã
nông thôn mới giai đoạn 2016- 2020, trong đó tiêu chí số 19.2 đặt ra là “Xã đạt chuẩn
an toàn về an ninh, trật tự xã hội và bảo đảm bình yên” Như vậy chúng ta thấy, ở các
giai đoạn, Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới đặt ra rất nhiều mục
tiêu, các mục tiêu đều có mối liên hệ lẫn nhau, trong đó mục tiêu ANTT được giữ vững
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó có mối quan hệ khăng khít, tác động, ảnh hưởng qua
lại đến tất cả các mục tiêu khác.
Trong những năm qua, Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới
đã đạt được những thành tựu quan trọng, trong đó đời sống vật chất, tinh thần của nhân
dân được nâng lên; an ninh, quốc phòng được giữ vững. Tuy nhiên, như phân tích ở trên,
bên cạnh những tác động của thời kỳ đổi mới thì xu thế phát triển, hội nhập toàn cầu,
tình hình an ninh khu vực và trên thế giới hàng ngày, hàng giờ đã và đang tác động
đến tình hình ANTT của đất nước; các thế lực thù địch trong và ngoài nước luôn tìm
mọi cách chống phá công cuộc cách mạng của nước ta trên mọi lĩnh vực, đối tượng, địa
bàn, trong đó đặc biệt là đại bàn nông thôn; hoạt động của các loại tội phạm, TNXH ở
66
nông thôn có xu hướng gia tăng với nhiều phương thức, thủ đoạn mới, tính chất nguy
hiểm, liều lĩnh, manh động; tội phạm phi truyền thống cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ phức
tạp. Việc tiếp tục thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông
thôn mới là tất yếu, đây cũng chính là định hướng của nhiệm vụ giữ gìn ANTT ở nông
thôn trong thời gian tới. Giữ gìn ANTT nông thôn vừa là mục tiêu, vừa là nhiệm vụ rất
lớn đặt ra không chỉ đối với một ngành, một lực lượng, mà đặt ra đối với toàn Đảng,
toàn quân và toàn dân. Tuy nhiên, với góc nhìn về phong trào và công tác xây dựng
phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, tôi xin nêu quan điểm và đề nghị một số
giải pháp công tác góp phần bảo đảm ANTT nông thôn trong thời gian tới như sau:
1. Về mặt đường lối, quan điểm phát triển đất nước, chúng ta phải từng bước thu
hẹp và xử lý hài hòa giữa đô thị và nông thôn. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp và nông thôn, xây dựng nông thôn mới chính là nhằm đến mục tiêu xóa bỏ sự
cách biệt, làm cho nông thôn phát triển cả về kinh tế, xã hội ngang tầm với sự phát triển
chung của đô thị, đồng thời công tác giữ gìn ANTT nông thôn cũng cần đặt ra yêu cầu,
nhiệm vụ mới để đáp ứng với tình hình thực tiễn. Để ANTT ở nông thôn được vững
chắc, cần nâng cao sức mạnh của quản lý nhà nước, trong đó có quản lý nhà nước về
ANTT và phải được kết hợp với sức mạnh tự trị của làng xã thì khi đó nền tảng ANTT
mới được bảo vệ vững chắc. Nhiệm vụ giữ gìn ANTT trên toàn quốc nói chung và địa
bàn nông thôn nói riêng là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân mà lực lượng
Công an nhân dân là nòng cốt trong tham mưu và tổ chức thực hiện.
2. Một số nhiệm vụ, giải pháp cụ thể:
Một là, xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh. Phát
huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc,
các đoàn thể nhân dân và các tổ chức tự quản tại địa phương trong bảo vệ an ninh, trật
tự. Cấp ủy, chính quyền các cấp quán triệt, tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước để phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, tạo công ăn
việc làm, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là tại những vùng
nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội
với bảo đảm quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội; nâng cao ý thức, trách nhiệm, năng
lực của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân, tạo sự chuyển biến tích cực
về nhận thức và thực hiện quyền lợi, nghĩa vụ của công dân trong công tác bảo đảm an
ninh, trật tự và xây dựng nông thôn mới.
Hai là, thường xuyên xây dựng, kiện toàn các lực lượng bảo vệ ANTT ở cơ sở
bao gồm: lực lượng chuyên trách, nòng cốt (công an cấp cơ sở), dân quân tự vệ, các tổ
chức quần chúng (bảo vệ cơ quan doanh nghiệp, các tổ chức tự quản: dân phòng, thanh
niên xung kích an ninh, tổ tự quản...) và sự tham gia tích cực của đông đảo các tầng lớp
nhân dân. Thực tiễn cho thấy, trước mắt và cả lâu dài, phải tập trung củng cố, kiện toàn,
nâng cao chất lượng hoạt động của các lực lượng này. Việc bố trí Công an xã chính quy
mà Bộ Công an đang triển khai thực hiện là một chủ trương lớn trong đổi mới, sắp xếp
tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo hướng: “Bộ
tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở” (theo báo cáo của 63 địa phương, đến
nay đã bố trí Công an chính quy đảm nhiệm chức danh Công an xã tại 1.667 xã, tổng
số 4.647 đồng chí). Việc chính quy công an xã chính là tăng cường sức mạnh đối với
công tác bảo đảm ANTT ở cơ sở, góp phần nâng cao năng lực quản lý nhà nước ở nông
thôn. Tuy nhiên triển khai việc bố trí Công an chính quy về xã cần có lộ trình, bước đi
thích hợp; theo đó đồng thời cần tăng cường củng cố, kiện toàn lực lượng quần chúng
tự nguyện nòng cốt trong phong trào bảo vệ ANTT ở cơ sở.
67
Ba là, tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 48-CT/TW ngày
22/10/2010 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác
phòng, chống tội phạm trong tình hình mới; Kết luận số 44-KL/TW ngày 22/01/2019
của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào toàn dân bảo vệ
an ninh Tổ quốc trong tình hình mới; Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP, ngày 31/7/1998
của Chính phủ, về tăng cường công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới; Nghị
quyết số 37/2012/QH12 ngày 23/11/2012 của Quốc hội về công tác phòng, chống vi
phạm pháp luật và tội phạm; Nghị quyết số 63/2013/QH13 ngày 27/11/2013 của Quốc
hội về tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm; các chương trình
quốc gia về phòng, chống tội phạm, về phòng chống ma túy, mại dâm; phòng chống
buôn bán phụ nữ và trẻ em; các đề án về phòng, chống tội phạm; các chương trình phối
hợp về công tác dân vận và xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc...
Bốn là, đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp xây dựng phong trào toàn dân bảo
vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng và nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến theo hướng
xã hội hóa ngày càng cao, với nhiều hình thức tự phòng, tự quản, tự bảo vệ, tự hòa giải;
vận động nhân dân tích cực tham gia xây dựng khu dân cư, thôn, xóm, làng, bản, ấp, xã,
nhà trường, cơ quan doanh nghiệp an toàn về an ninh, trật tự; phát hiện, tố giác tội phạm,
giáo dục, giúp đỡ, cảm hóa người vi phạm pháp luật, tái hòa nhập cộng đồng ở khu vực
nông thôn. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao ý thức cảnh giác cho các tầng lớp nhân dân;
đồng thời có chủ trương, giải pháp giúp nhân dân phát triển kinh tế, cải thiện đời sống,
qua đó góp phần củng cố thế trận lòng dân vững chắc. Gắn phong trào thi đua “Vì an
ninh Tổ quốc” với phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” và cuộc
vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”.
Năm là, phát hiện, xử lý kịp thời các "điểm nóng" từ cơ sở, không để phát triển
thành vụ việc lớn, phức tạp. Tập trung đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả những vấn đề
phức tạp nổi lên về ANTT tại các địa bàn khu vực nông thôn, nhất là các vụ khiếu kiện
đông người, phức tạp, kéo dài, các vụ giết người do nguyên nhân xã hội, trộm cắp tài
sản, chống người thi hành công vụ, ma túy, mua bán người, vi phạm pháp luật về bảo
vệ môi trường, sai phạm, tiêu cực trong triển khai các công trình, dự án, chương trình,
kế hoạch xóa đói, giảm nghèo; triệt xóa các tụ điểm phức tạp về tệ nạn xã hội; nâng cao
chất lượng công tác điều tra, khám phá tội phạm; tăng cường công tác truy bắt, vận động
đối tượng truy nã lẩn trốn ở khu vực nông thôn.
Sáu là, tăng cường các điều kiện làm việc, trang bị phương tiện phù hợp với thực
tế chiến đấu ở cơ sở nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ công an và các lực
lượng khác tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở; xây dựng và thực hiện chế độ, chính sách
phù hợp cho đội ngũ cán bộ công an và các lực lượng khác tham gia bảo vệ ANTT ở cơ
sở, đặc biệt là lực lượng trực tiếp công tác chiến đấu ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên
giới, hải đảo./.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
chuyen_de_bao_ton_va_phat_huy_cac_gia_tri_van_hoa_trong_xay.pdf