Chuyển hóa sinh học bã sắn trong quá trình sản xuất tinh bột bởi nấm mốc
(Bản scan) Kết qua nhận được trên báng 5 cho thấy hàm lượng nước trong 3 mầu là gần nhau (71 - 72%). Hàm lượng đường tan ơ 2 mầu M2 và MD2 lại thấp hơn mầu Mo, điồu này có thố giãi thích là do vi sinh vật ờ 2 mầu M2 và MD2 được cấy vào đã tham gia vào quá trình phân giái tinh bột, cellulose thành đường. Kct quá trên bang 6 cho thấy hàm lượng N - phiprotein, protein và tông số tăng lên từ Mođến MD,, điều đáng chú ý là N protein trong mầu M, và MD, tăng hơn mầu M(1 có thê là do vi sinh vật đà tông hợp protein trong mầu và số liệu protein thò trong mầu cùng chứng tỏ điều này ( 9.33 và 16,158% so với 7%). c. Hàm lượng triptophan trong protein trong mầu Một axit amin không thay the là triptophan trong mầu M . và MD? gấp 2 và 3 lần trong mầu M(). Phân tích các thành phần khác: - Ket quá phân tích cho thấy trong cà 3 mầu đêu không có Aflatoxin. - Hàm lượng axit cyanhydric ớ mầu M(t là 70 - 90 ppm, ờ mầu M, và MD2 không phát hiện. công nghệ sinh học"), Hà Nội, Tr.452-456. [2] Ghildyal N. p. and Lonsane B. K (1990), Utilization of cassava fibrous residue for the manufacture of value - added product: an economic alternative to waste treatment. Process biochemistry, April, p. 35 - 39. [3] Mehta A. & Mehta P(1985), Production of pecto - cellulolytic enzymes by Fusarium oxysporum & F. moniliforme under
Các file đính kèm theo tài liệu này:
chuyen_hoa_sinh_hoc_ba_san_trong_qua_trinh_san_xuat_tinh_bot.pdf


