Ngộ độc CFP hay tương tự CFP được ghi
nhận khá nhiều tại một số vùng biển khu vực
châu Á [12, 13] nhưng lại rất ít được ghi nhận
tại Việt Nam [2, 10], đặc biệt, chưa có ghi nhận
về độc tố trong các loài cá thu tại Việt Nam.
Theo các thông tin đi kèm mẫu vật (do công ty
chế biến thuỷ sản cung cấp) (bảng 1), 2 mẫu cá
thu này có nguồn gốc từ vùng biển xa bờ Đông
Nam Bộ của nước ta. Các nghiên cứu cho thấy
đã có sự khác biệt về bản chất hoá học của độc
tố được tổng hợp ở loài vi tảo Gambierdiscus
toxicus và trong các loài cá rạn ở các bậc khác
nhau của chuỗi thức ăn biển có tích luỹ độc tố
từ loài vi tảo độc này cũng như rất có thể do sự
chuyển hoá nội cơ thể của các loài cá nhất định
[8, 11]. Điều này gợi ý cho việc có thể tồn tại
một dạng tiền chất hay chất trung gian nào đó
của độc tố CTX trong mẫu vật cá thu ngàng có
nguồn gốc từ vùng biển Việt Nam. Thông tin
này cần được kiểm chứng bằng các nghiên cứu
chuyên sâu về hướng sinh lý và sinh thái học
của độc tố.
KẾT LUẬN
Bước đầu đã phát hiện sự có mặt của độc tố
thuộc nhóm lipophilic có cấu trúc phân tử rất
gần với độc tố ciguatoxin-1B trong hai mẫu vật
cá thu ngàng Acanthocybium solandri có nguồn
gốc từ vùng biển xa bờ Đông Nam Bộ, Việt
Nam vào tháng 4 năm 2019. Độc tính cấp ghi
nhận ở 2 mẫu này lần lượt là 4,0 và 7,5 MU/40
g mẫu tươi, cao hơn 4 và 7,5 lần liều khuyếncáo của FAO đối với độc tố CTX. Với độc tính
này, 130–200 g cá thu nếu tiêu thụ có thể gây
hội chứng ngộ độc cho người. Mặc dù cần có
bước kiểm chứng để xác định bản chất độc tố,
nhưng kết quả nghiên cứu này là cảnh báo đầu
tiên về nguy cơ ngộ độc thực phẩm do tiêu thụ
cá thu ngàng tại Việt Nam và châu Á.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 4 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ciguatoxin-Like toxin in mackerel Acanthocybium soladria in Viet Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
159
Vietnam Journal of Marine Science and Technology; Vol. 19, No. 4A; 2019: 159–166
DOI: https://doi.org/10.15625/1859-3097/19/4A/14611
https://www.vjs.ac.vn/index.php/jmst
Ciguatoxin-like toxin in mackerel Acanthocybium soladria in Vietnam
Dao Viet Ha
*
, Phan Bao Vy
Institute of Oceanography, VAST, Vietnam
*
E-mail: daovietha69@gmail.com
Received: 30 July 2019; Accepted: 6 October 2019
©2019 Vietnam Academy of Science and Technology (VAST)
Abstract
Two processed mackerel products were sent to VAST keylab on “Food and Environmental Safety” in
Institute of Oceanography for Ciguatoxin criteria as exported seafood requirement. The specimens were
caught from offshore region of Vietnam South-Eastern sea in April 2019. By DNA sequencing of COI gene,
both specimens were identified as Acanthocybium solandri, one of high commercial mackerel species which
is well-known to be distributed in Central and South-Eastern sea of Vietnam. In mouse bioassay, both
extracts from 2 samples exhibited acute toxicity, which killed tested mice within 6 and 15 hours after i.p.
injection. In SIM LC/MS-MS analysis, the extracts showed the peak with retention time closed to that in
CTX-1B standard in both cases of optimized and non-optimized solid phases. The result suggested that at
least there was occurrence of CTX-like toxin in these mackerel specimens. The equivalent toxin levels were
estimated as 0.51 ng/g and 0.84 ng/g; 5 and 8 times higher than regulation limit for CTXs in seafood product
(0.1 ng CTX-1B/g). Further verification is in progress to confirm toxin in these mackerel samples in
Vietnam. However, this data is the first alert on potential poisoning by consumption of mackerel, not only in
Vietnam but also in Asia.
Keywords: Mackerel, ciguatera, food poisoning, Vietnam.
Citation: Dao Viet Ha, Phan Bao Vy, 2019. Ciguatoxin-like toxin in mackerel Acanthocybium soladria in Vietnam.
Vietnam Journal of Marine Science and Technology, 19(4A), 159–166.
160
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, Tập 19, Số 4A; 2019: 159–166
DOI: https://doi.org/10.15625/1859-3097/19/4A/14611
https://www.vjs.ac.vn/index.php/jmst
Độc tố tƣơng tự ciguatoxin trong mẫu cá thu ngàng Acanthocybium
soladria tại Việt Nam
Đào Việt Hà*, Phan Bảo Vy
Viện Hải dương học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Việt Nam
*
E-mail: daovietha69@gmail.com
Nhận bài: 30-7-2019; Chấp nhận đăng: 6-10-2019
Tóm tắt
Hai sản phẩm cá thu cắt lát dự kiến xuất khẩu được gửi kiểm định chỉ tiêu độc tố Ciguatoxin (CTX) tại
phòng thí nghiệm trọng điểm cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam về “An toàn thực phẩm
và Môi trường (khu vực miền Trung)”, Viện Hải dương học. Các mẫu vật này có nguồn gốc từ vùng biển xa
bờ Đông Nam Bộ, Việt Nam, được thu mua vào tháng 4/2019. Bằng kỹ thuật sinh học phân tử, hai mẫu vật
này được xác định thuộc loài cá thu ngàng Acanthocybium solandri - một loài cá có giá trị kinh tế phân bố
tại vùng biển miền Trung và Đông Nam Bộ nước ta. Trong thử nghiệm sinh học trên chuột, các dịch chiết từ
2 mẫu này đều biểu hiện độc tính cấp, gây chết đối với 100% chuột thử nghiệm trong 6 h và 15 h sau khi
tiêm phúc mạc. Phân tích sắc ký lỏng gắn đầu dò khối phổ kép (LC/MS-MS) đối với các dịch chiết này, thấy
có sự xuất hiện đỉnh có thời gian lưu rất gần với thời gian lưu của CTX-1B, với hàm lượng tương đương
ước tính là 0,51 ng/g và 0,84 ng/g, cao gấp 5 và 8 lần ngưỡng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm đối với độc tố
CTXs trong sản phẩm thuỷ sản (0,1 ng CTX-1B/g). Bước kiểm chứng đang được thực hiện để có kết luận về
bản chất độc tố trong các mẫu vật của nghiên cứu này. Tuy nhiên, kết quả này đưa ra sự cảnh báo đầu tiên về
nguy cơ ngộ độc thực phẩm do tiêu thụ cá thu ngàng tại Việt Nam và châu Á.
Từ khóa: Cá thu ngàng, ciguatera, ngộ độc thực phẩm, Việt Nam.
MỞ ĐẦU
Hơn 400 loài cá rạn thuộc danh sách các
loài sinh vật biển có thể tích luỹ độc tố
ciguatoxin (CTX), với mức độ nguy hiểm càng
cao khi chúng ở những thang bậc cao trong
chuỗi thức ăn biển. Khi hàm lượng độc tố tích
luỹ đạt đến ngưỡng nhất định, các loài cá này có
nguy cơ gây ngộ độc ciguatera (CFP) đối với
người tiêu thụ với triệu chứng lâm sàng điển
hình là rối loạn cảm giác về nhiệt, đau nhức các
khớp và các khối cơ lớn, suy yếu toàn thân dai
dẳng (vài tuần, thậm chí 2 năm) [1].
Tại Việt Nam, từ năm 2007, luôn ghi nhận
rải rác các vụ ngộ độc thực phẩm do ăn cá
hồng hay chình biển xảy ra tại các địa phương
ven biển và một số đảo xa bờ như Trường Sa,
Phú Quý; thậm chí cả tại thành phố Hồ Chí
Minh hay Hà Nội. Nguy cơ ngộ độc CFP đã
trở thành vấn đề cấp thiết, gây tác động xấu
đến an toàn thực phẩm trong nước và thiệt hại
kinh tế đối với ngành xuất khẩu thuỷ sản của
Việt Nam. Tuy nhiên, hầu như chưa có công
bố khoa học về độc tố CTXs trong các loài cá
rạn từ vùng biển nước ta. Gần đây, Dao et al.,
[2] đã lần đầu tiên xác định CTX-1B là độc tố
gây ra vụ ngộ độc thực phẩm do ăn cá hồng
Lutianus bohar tại Việt Nam năm 2014 và
2016. Báo cáo này công bố kết quả thực
nghiệm phân tích độc tố CTX trong sản phẩm
cá thu cắt khúc thu vào tháng 4/2019 có nguồn
gốc từ vùng biển xa bờ Đông Nam Bộ Việt
Nam. Mặt khác, báo cáo cũng trình bày kết
Độc tố tương tự ciguatoxin trong mẫu cá thu ngàng
161
quả định danh các mẫu vật cá thu bằng kỹ
thuật sinh học phân tử.
MẪU VẬT VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
Mẫu vật
Mẫu vật là sản phẩm chế biến xuất khẩu
của một công ty xuất khẩu thuỷ sản thu mua
vào tháng 4/2019 (bảng 1), được bảo quản bằng
đá lạnh và chuyển về phòng thí nghiệm trọng
điểm cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công
nghệ Việt Nam về “An toàn thực phẩm và môi
trường (Khu vực miền Trung)” tại Viện Hải
dương học. Mẫu vật được bảo quản ở điều kiện
–30 oC cho đến khi phân tích.
Bảng 1. Thông tin mẫu vật trong nghiên cứu
Ký hiệu mẫu Vùng khai thác Mã số lô Ngày sản xuất Khối lượng mẫu (g)
M01 FAO 71-ĐNB2 01040999 09/4/2019 930
M02 FAO 71-ĐNB2 04041019 11/4/2019 1170
Định danh khoa học mẫu cá thu
Do các mẫu vật thu thập đã qua sơ chế (cắt
khúc), nên việc định danh khoa học được thực
hiện bằng kỹ thuật sinh học phân tử, cụ thể:
DNA của mẫu cá thu được tách chiết sử dụng
bộ KIT DNeasy Blood and Tissue Kit (Qiagen,
Hilden, Đức) theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
Phản ứng PCR được thực hiện trong vùng gen
cytochrome c oxidase subunit I (COI) của ty
thể, với 25 μl hỗn hợp dung dịch phản ứng có
chứa 1 l (khoảng 30 ng) DNA khuôn; 1,0
pmol mỗi loại mồi; 12,5 l 2x OneTag®
Master Mix (New England Biolabs, Ipswich,
MA, USA) và 9,6 l nước cất vô trình trên máy
luân nhiệt Applied Biosystems 2720, trình tự
mồi và chu trình nhiệt của phản ứng PCR theo
[3]. Sản phẩm PCR được tinh sạch bằng bộ
KIT GenElute
TM
PCRClean-Up kit (Sigma-
Aldrich, St. Louis, MI, USA) trước khi giải
trình tự. Công đoạn giải trình tự được thực hiện
tại công ty 1ST BASE (Selangor, Malaysia) ở cả
hai chiều xuôi và ngược. Kiểm tra chất lượng
trình tự cũng như chuẩn hóa trình tự cuối cùng
được thực hiện trên phần mềm Clone Manager
9 (Sci-Ed, Cary, NC, USA). Hai trình tự COI
của hai mẫu trong nghiên cứu này và 15 trình
tự COI của các loài khác thuộc họ Scombrinae
đã truy xuất từ ngân hàng gen (GenBank,
https://www.ncbi.nlm.nih.gov/) được sử dụng
cho việc phân tích và xây dựng cây phát sinh
chủng loại. Các trình tự được gióng thẳng
hàng (alignment) bằng phần mềm MEGA 7
[4] theo phương pháp CLUSTAL W tích hợp
trong phần mềm. Trong nghiên cứu này, sử
dụng phương pháp Maximum Likelihood
(ML) [5] bằng phần mềm RAxML version 8
với độ lặp lại là 1.000 để xây dựng cây phát
sinh chủng loại.
Tách chiết độc tố
Độc tố trong các mẫu được chiết rút theo
phương pháp dùng cho thử nghiệm sinh học
trên chuột tại Nhật Bản theo Oshiro et al., [6].
Cụ thể, đồng nhất 120 g mẫu trong 350 ml
acetone (C3H6O), lọc hỗn hợp bằng giấy lọc
Whatman No. 1 (Whatman filter paper No. 1),
thu dịch trong (lặp lại 2 lần). Cô cạn toàn bộ
thể tích dịch trong bằng hệ thống cô chân
không, hoà tan cặn rắn trong 100 ml
diethylether (C4H10O), lắc đều, sau đó để yên
cho đến khi phân lớp hoàn toàn, thu lớp
diethylether phía trên (bước chiết rút với
diethylether được lặp lại hai lần). Bay hơi thể
tích diethylether bằng hệ thống cô chân không
để thu được độc tố thô ở dạng cặn rắn. Hoà tan
cặn độc tố này bằng hỗn hợp 50 ml hexan
(C6H14) và 25 ml methanol (CH3OH) 90%, lắc
đều, sau đó để lắng cho đến khi phân lớp hoàn
toàn và thu lớp methanol. Tiếp tục bay hơi
toàn bộ thể tích methanol này bằng hệ thống
cô chân không để có độc tố dạng cặn rắn, bảo
quản ở –20oC.
Xác định độc tính
Độc tính tổng số có mặt trong dịch chiết
được xác định bằng thử nghiệm sinh học trên
chuột (Mouse Bioassay-MBA) theo Oshiro et
al., [6]; trong đó, một đơn vị chuột (mouse unit
-MU) được tính là lượng độc tố nhỏ nhất trong
Đào Việt Hà, Phan Bảo Vy
162
1 ml dịch tiêm gây chết chuột thử nghiệm (18–
20 g/cá thể) trong vòng 24 giờ khi tiêm phúc
mạc. Cặn rắn chứa độc tố thu nhận từ quy trình
chiết rút được hoà tan bằng 3 ml dung dịch
Tween 60 1% pha trong dung dịch natriclorua
(NaCl) 0,9%. Như vậy, 1 ml dung dịch này
(tương ứng với 40 g mẫu vật ban đầu) được
tiêm phúc mạc chuột nhắt trắng Swiss swiss 20
g/cá thể (n = 3). Theo dõi chuột thử nghiệm và
ghi nhận thời gian chết trong 24 h (nếu có). Kết
quả dương tính được ghi nhận trong trường hợp
2 trong số 3 chuột thử nghiệm chết.
Độc tính được tính toán theo công thức
logMU = 2,3 log(1+T
–1
); Trong đó: MU là đơn
vị chuột được tính là lượng độc tố nhỏ nhất
của CTX có trong 1 ml dịch chiết tiêm chuột
và T là thời gian chết của chuột (tính theo
giờ). Hàm lượng độc tố có mặt trong dịch
chiết được chuyển đổi với giá trị quy đổi của 1
MU là lượng độc tố ở ngưỡng LD50 đối với
chuột nhắt trắng 20 g/cá thể tương ứng với 5
ng P-CTX-1 [7].
Loại bỏ tạp chất
Quy trình loại bỏ tạp chất trong dịch chiết
trước khi phân tích bằng sắc ký lỏng khối phổ
kép LC/MS-MS được thực hiện theo công bố
của Yogi et al., [8]. Cụ thể, dịch chiết từ 5 g
mẫu cá được bay hơi hoàn toàn, hoà tan cặn rắn
(A) bằng 2 ml EtOAc-MeOH (tỉ lệ 9:1, v/v) và
chảy qua cột Florisil (InertSep FL-PR, 500
mg), giải hấp phụ bằng 3 ml EtOAc-MeOH (tỉ
lệ 9:1 v/v), cho bay hơi hoàn toàn thu cặn rắn
(B). Tiếp tục hoà tan cặn rắn (B) bằng 3 ml
MeOH, chảy qua cột Florisil (IntertSep FL-200
mg), rửa bằng 3 ml MeCN, giải hấp phụ bằng 3
ml MeOH, cho bay hơi hoàn toàn thu cặn rắn
(C). Hoà tan cặn rắn (C) trong 200 l MeOH để
sử dụng phân tích LC/MS-MS.
Phân tích sắc ký lỏng khối phổ kép (LC/MS-
MS)
Với điều kiện nuồn chất chuẩn CTX-1B
khan hiếm và hệ thiết bị sắc ký lỏng khối phổ
LCMS 8040 Shimadzu được trang bị tại
phòng thí nghiệm trọng điểm cấp Viện Hàn
lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam về “An
toàn thực phẩm và môi trường (Khu vực miền
Trung)”, trong nghiên cứu này, ion [M+Na]+
được lựa chọn ở chế độ SIM với 2 pha tĩnh
khác nhau (cột Agilent Poroshell 120 EC-18
và cột Wakosil-II 5C18). Cụ thể, ion [M+Na]+
được chọn lọc quan trắc với pha tĩnh là cột
Agilent Poroshell 120 EC-18 (100 × 2,1 mm
i.d.), nhiệt độ 20oC, thể tích mẫu tiêm 5 μl, tốc
độ dòng 0,25 μl/phút của pha động (dung dịch
A: 5 mM ammonium formate có chứa 0,1%
formic acid trong nước cất và B: MeOH), chế
độ thay đổi nồng độ pha động (gradient) từ
80% đến 95% của dung dịch B trong 10 phút,
giữ ổn định trong 10 phút tiếp theo. Pha rắn
Agillent Poroshell 120 EC-18 được xác nhận
là tối ưu cho phân tách độc tố CTXs cho
cường độ đỉnh cao nhất [8, 9]. Tuy nhiên,
nguyên tắc phân tách độc tố này trong quá
trình sắc ký dựa vào liên kết kỵ nước giữa độc
tố CTXs có mặt trong pha động và pha tĩnh
bản chất silica đã alkyl hóa các nhóm –OH
trên bề mặt silica trung tính. Do đó, các cột
sắc ký pha đảo đều có thể phân tách CTXs
mặc dù hiệu quả, độ nhạy rất khác nhau tuỳ
vào đặc tính của cột (pha tĩnh) trong điều kiện
pha động và các thông số khác của quá trình
sắc ký được tối ưu hoá. Chính vì vậy, thay đổi
pha tĩnh kém nhạy hơn là một cách kiểm tra
kết quả nhận diện độc tố CTXs trong dịch
chiết. Do đó, trong nghiên cứu này, ở điều
kiện tối ưu về pha tĩnh, khi xuất hiện đỉnh
tương đồng thời gian lưu với độc tố chuẩn
CTX-1B (Viện Nghiên cứu Thuỷ Sản Nhật
Bản cung cấp), pha tĩnh sẽ được thay thế bằng
cột Wakosil-II 5C18 (4,4 × 250 mm i.d.) với
cùng hệ pha động và các điều kiện trước đó.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Kết quả xác định tên khoa học các mẫu cá
thu
Khi gióng thẳng hàng 17 trình tự COI với
khối dữ liệu có độ dài là 619 bp, không có vị trí
trống (gap). Trong đó, 434 (70,1%) là vị trí bảo
tồn (conserved sites); 185 (29,9%) là vị trí biến
động (variable sites); 184 (29,7%) là vị trí
thông tin tối thiểu (parsimony informative
characters) và 1 (< 0,01%) là vị trí đơn lẻ
(singleton). Kết quả phân tích cây tiến hóa bằng
phương pháp ML (hình 1) cho thấy các mẫu S2
và S1 là cùng một loài, cùng nhánh với trình tự
được biết trước là của loài Acanthocybium
solandri (Cuvier, 1832) số đăng ký trên
Genbank là DQ107694 (cá thu ngàng) với hệ số
tương đồng là 100%.
Độc tố tương tự ciguatoxin trong mẫu cá thu ngàng
163
Hình 1. Cây phát sinh chủng loại của một số loài thuộc họ Scombrinae bằng phương pháp ML dựa
trên độ dài 619 bp của gen chỉ thị COI: Con số trên mỗi nhánh là giá trị; Mã số sau tên khoa học là
mã số trên ngân hàng gen; Cây tiến hóa được thực hiện bằng phần mềm RAxML version 8
Độc tính của mẫu cá thu ngàng
Dịch chiết từ cả 2 mẫu vật cá thu đều biểu
hiện dương tính với chuột thử nghiệm với độc
tính là 4,0 và 7,5 MU/40 g mẫu tươi ban đầu
(bảng 2), cao hơn 4 và 7,5 lần liều khuyến cáo
của FAO đối với độc tố CTX (1 MU/40 g mẫu).
Độc tính của các mẫu cá thu trong nghiên cứu
này hoàn toàn tương đương với độc tính của
mẫu cá hồng trong vụ ngộ độc thực phẩm 2014
và 2016 tại Việt Nam [2, 10]. Tương tự, chỉ cần
tiêu thụ khoảng 130–200 g thực phẩm này sẽ có
nguy cơ gây hội chứng ngộ độc cho người.
Bảng 2. Độc tính của mẫu cá thu đánh bắt vào
tháng 4/2019 tại vùng biển xa bờ Đông Nam
Bộ, Việt Nam trong thử nghiệm sinh học trên
chuột (MBA)
Ký hiệu
mẫu
Độc tính
(MU/40 g)
Khẩu phần ước tính có thể
gây ngộ độc (g)*
M01 4,0 200
M02 7,5 133
Ghi chú: *: [10].
Kết quả xác định độc tố trong mẫu cá thu
ngàng
Kết quả phân tích SIM LC/MS-MS của ion
[M+Na]
+
(m/z 1133,6) trên pha rắn Agillent
Poroshell 120 EC-18, ở dịch chiết của 2 mẫu
cá thu ngàng đều có sự xuất hiện của một đỉnh
với thời gian lưu lần lượt là 10,366 và 10,394
phút, rất gần với thời gian lưu của CTX-1B
chuẩn (10,860 phút) (hình 2). Sự sai khác về
thời gian lưu của độc tố trong 2 dịch chiết cá
thu là khoảng 5% so với CTX-1B chuẩn, có
phần cao hơn sai số cho phép về thời gian lưu
của phương pháp LC/MS-MS đối với độc tố
CTXs [9].
Khi thay đổi quá trình phân tách trên pha
rắn Wakosil 5C18, vẫn xuất hiện các đỉnh có
thời gian lưu gần với thời gian lưu của CTX-
1B chuẩn mặc dù ở cường độ thấp hơn nhiều
(hình 3). Sự sai khác về thời gian lưu của đỉnh
chất này trong 2 dịch chiết từ mẫu cá thu
ngàng đều nhỏ hơn 2% so với thời gian lưu
của CTX-1B chuẩn, trong khoảng cho phép
sai số của phương pháp LC/MS-MS đối với
độc tố CTXs [8]. Kết quả này hoàn toàn phù
hợp với công bố của Suzuki et al., [9] cho
rằng, độc tố CTX hoặc hợp chất nhóm
lipophilic có cấu trúc phân tử gần giống/tương
tự với CTX-1B sẽ được phân tách tốt nhất trên
hệ pha tĩnh Agillent Poroshell 120 EC-18. Tuy
nhiên, với pha tĩnh khác được cho là kém nhạy
hơn, ví dụ Wakosil-II 5C18 nhóm chất này
Đào Việt Hà, Phan Bảo Vy
164
vẫn được nhận diện, dù với cường độ đỉnh
thấp hơn. Do nguồn chất chuẩn CTX-1B rất
hiếm nên nghiên cứu này không tiến hành
bước phân tích tiếp theo ở chế độ MRM để
xác định sự tương đồng của các mảnh ion con
từ ion phân tử mẹ ban đầu [M+NH4]
+
so sánh
với [CTX-1B + NH4]
+
(m/z 1128,7). Tuy
nhiên, từ kết quả này cho phép nhận định, mẫu
cá thu ngàng tại Việt Nam có chứa một độc tố
có cấu trúc phân tử rất gần với CTX-1B.
Hình 2. Phổ đồ SIM ion phân tử [M+Na]+ của độc tố trong dịch chiết từ mẫu cá thu
ngàng M01 (b) và M02 (c) so sánh với CTX-1B chuẩn (a) trên hệ pha rắn Agilent
Poroshell 120 EC-18
c
10,860 mins
10,377 mins
10,394 mins
Hình 2. Phổ đồ SIM ion phân tử [M+Na]+ của độc tố trong dịch chiết từ mẫu cá thu ngàng M01 (b)
và M02 (c) so sánh với CTX-1B chuẩn (a) trên hệ pha rắn Agilent Poroshell 120 EC-18
Độc tố tương tự ciguatoxin trong mẫu cá thu ngàng
165
Hình 3. Phổ đồ SIM ion phân tử [M+Na]+ của độc tố trong dịch chiết từ mẫu cá thu
ngàng M01 (b) và M02 (c) so sánh với CTX-1B chuẩn (a) trên hệ pha rắn Wakosil II
5C18
10,545 mins
min
10,438 mins
10,651 mins
c
Hình 3. Phổ đồ SIM ion phân tử [M+Na]+ của độc tố trong dịch c iết từ mẫu cá thu ngàng M01 (b)
và M02 (c) so sánh với CTX-1B chuẩn (a) trên hệ pha rắn Wakosil II 5C18
Ngộ độc CFP hay tương tự CFP được ghi
nhận khá nhiều tại một số vùng biển khu vực
châu Á [12, 13] nhưng lại rất ít được ghi nhận
tại Việt Nam [2, 10], đặc biệt, chưa có ghi nhận
về độc tố trong các loài cá thu tại Việt Nam.
Theo các thông tin đi kèm mẫu vật (do công ty
chế biến thuỷ sản cung cấp) (bảng 1), 2 mẫu cá
thu này có nguồn gốc từ vùng biển xa bờ Đông
Nam Bộ của nước ta. Các nghiên cứu cho thấy
đã có sự khác biệt về bản chất hoá học của độc
tố được tổng hợp ở loài vi tảo Gambierdiscus
toxicus và trong các loài cá rạn ở các bậc khác
nhau của chuỗi thức ăn biển có tích luỹ độc tố
từ loài vi tảo độc này cũng như rất có thể do sự
chuyển hoá nội cơ thể của các loài cá nhất định
[8, 11]. Điều này gợi ý cho việc có thể tồn tại
một dạng tiền chất hay chất trung gian nào đó
của độc tố CTX trong mẫu vật cá thu ngàng có
nguồn gốc từ vùng biển Việt Nam. Thông tin
này cần được kiểm chứng bằng các nghiên cứu
chuyên sâu về hướng sinh lý và sinh thái học
của độc tố.
KẾT LUẬN
Bước đầu đã phát hiện sự có mặt của độc tố
thuộc nhóm lipophilic có cấu trúc phân tử rất
gần với độc tố ciguatoxin-1B trong hai mẫu vật
cá thu ngàng Acanthocybium solandri có nguồn
gốc từ vùng biển xa bờ Đông Nam Bộ, Việt
Nam vào tháng 4 năm 2019. Độc tính cấp ghi
nhận ở 2 mẫu này lần lượt là 4,0 và 7,5 MU/40
g mẫu tươi, cao hơn 4 và 7,5 lần liều khuyến
Đào Việt Hà, Phan Bảo Vy
166
cáo của FAO đối với độc tố CTX. Với độc tính
này, 130–200 g cá thu nếu tiêu thụ có thể gây
hội chứng ngộ độc cho người. Mặc dù cần có
bước kiểm chứng để xác định bản chất độc tố,
nhưng kết quả nghiên cứu này là cảnh báo đầu
tiên về nguy cơ ngộ độc thực phẩm do tiêu thụ
cá thu ngàng tại Việt Nam và châu Á.
Lời cảm ơn: Kết quả nghiên cứu này thuộc đề
tài nghiên cứu Khoa học Công nghệ mã số
KHCBBI.02/18–20. Tác giả chân thành cảm ơn
TS. Nguyễn Xuân Vị, phòng Thực vật biển,
Viện Hải dương học đã hỗ trợ trong việc định
danh mẫu vật.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Ahmed, F. E., 1991. Seafood safety.
National Academy Press. 768 p.
[2] Ha, D. V., Uesugi, A., Uchida, H., Ky, P.
X., Minh, D., Watanabe, R., Matsushima,
R., Oikawa, H., Nagai, S., Iwataki, M.,
Fukuyo, Y., and Suzuki, T., 2018.
Identification of causative ciguatoxins in
red snappers Lutjanus bohar implicated in
ciguatera fish poisonings in Vietnam.
Toxins, 10(10), 420.
[3] Ward, R. D., Zemlak, T. S., Innes, B. H.,
Last, P. R., and Hebert, P. D., 2005. DNA
barcoding Australia's fish species.
Philosophical Transactions of the Royal
Society B: Biological Sciences, 360(1462),
1847–1857. doi: 10.1098/rstb.2005.1716.
[4] Kumar, S., Stecher, G., and Tamura, K.,
2016. MEGA7: molecular evolutionary
genetics analysis version 7.0 for bigger
datasets. Molecular biology and evolution,
33(7), 1870–1874.
[5] Darriba, D., Taboada, G. L., Doallo, R.,
and Posada, D., 2012. jModelTest 2: more
models, new heuristics and parallel
computing. Nature Methods, 9(8), 772.
[6] Oshiro, N., Yogi, K., Asato, S., Sasaki, T.,
Tamanaha, K., Hirama, M., Yasumoto, T.,
and Inafuku, Y., 2010. Ciguatera
incidence and fish toxicity in Okinawa,
Japan. Toxicon, 56(5), 656–661.
https://doi.org/10.1016/j.toxicon.2009.05.
036.
[7] Lewis, R. J., and Sellin, M., 1992.
Multiple ciguatoxins in the flesh of fish.
Toxicon, 30(8), 915–919. https://doi.org/
10.1016/0041-0101(92)90390-Q.
[8] Yogi, K., Oshiro, N., Inafuku, Y., Hirama,
M., and Yasumoto, T., 2011. Detailed LC-
MS/MS analysis of ciguatoxins revealing
distinct regional and species
characteristics in fish and causative alga
from the Pacific. Analytical Chemistry,
83(23), 8886–8891. DOI:
10.1021/ac200799j.
[9] Suzuki, T., Ha, D. V., Uesugi, A., and
Uchida, H., 2017. Analytical challenges to
ciguatoxins. Current Opinion in Food
Science, 18, 37–42.
[10] Đào Việt Hà. 2017. Độc tính của mẫu cá
hồng gây ngộ độc thực phẩm tại Việt
Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ
biển, 17(4A), 331–337.
[11] EFSA Panel on Contaminants in the Food
Chain, 2010. Scientific Opinion on marine
biotoxins in shellfish-Emerging toxins:
Ciguatoxin group. EFSA Journal, 8(6),
1627. https://doi.org/10.2903/j.efsa.2010.
1627.
[12] Oshiro, N., Matsuo, T., Sakugawa, S.,
Yogi, K., Matsuda, S., Yasumoto, T., and
Inafuku, Y., 2011. Ciguatera Fish
Poisoning on Kakeroma Island,
Kagoshima Prefecture, Japan. Tropical
Medicine & Health, 39(2), 53–57. DOI:
10.2149/ tmh.2011-03.
[13] Yogi, K., Oshiro, N., Matsuda, S.,
Sakugawa, S., Matsuo, T., and Yasumoto,
T., 2013. Toxin profiles in fish implicated
in ciguatera fish poisoning in Amami and
Kakeroma islands, Kagoshima prefecture,
Japan. Shokuhin eiseigaku zasshi. Journal
of the Food Hygienic Society of Japan,
54(6), 385–391. DOI: 10.3358/shokueishi.
54.385.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
ciguatoxin_like_toxin_in_mackerel_acanthocybium_soladria_in.pdf