Cơ chế di truyền tạo nên sự đa dạng của kháng thể ở động vật
Siêu đột biến ở tế bào soma
Một cơ chế đa dạng kháng thể khác là biến đổi kháng
thể do sự cảm ứng của kháng nguyên. Cùng với sự hỗ
trợ của tế bào T, các gen thuộc vùng biến đổi của các tế
bào lympho tiền thân trải qua quá trình siêu đột biến tế
bào soma (SHM) với tần số lên đến 10-5-10-3 đột biến/1
bp/mỗi thế hệ ở chuột và người. Tỷ lệ đột biến này cao
hơn 1 triệu lần so với tỷ lệ đột biến tự nhiên ở hầu hết
các gen khác [8]. Các đột biến chủ yếu là thay thế các
base đơn lẻ, ngoài ra còn có đột biến thêm và mất base.
Những đột biến này xảy ra ở vùng V, từ vị trí 150-200
bp và kéo dài đến gần 1,5kb ngược chiều với promoter,
trước khi kết thúc trình tự tăng cường intron (Eµ). Còn
ở vùng C ít khi xảy ra các đột biến này [10]. Mặc dù các
đột biến có thể xảy ra ở bất kỳ vị trí nào của vùng V và các trình tự khung ngay cạnh, nhưng mục tiêu
của đột biến là các điểm nóng có trình tự đặc
trưng WRCY (W = A hoặc T, R = A hoặc G,
C, Y = T hoặc C) và WA [5]. Khả năng siêu
đột biến ở các vùng mã hóa vị trí liên kết
kháng nguyên có vai trò quan trọng. Nếu
không có khả năng này, sự đa dạng của kháng
thể chỉ đơn thuần phụ thuộc vào sự sắp xếp lại
ADN trong quá trình biệt hóa các tế bào thuộc
hệ miễn dịch. Trong khi đó, virus và tác nhân
gây bệnh vốn có thể biến đổi không ngừng đã
tạo ra vô số các dạng kháng nguyên khác nhau.
Để có hệ thống phòng thủ đủ mạnh chống lại
những biến đổi này, các gen mã hóa kháng thể
được trang bị một cơ chế bổ sung là khả năng
siêu đột biến. Nhờ vậy, cơ chế đáp ứng được
các loại kháng nguyên mới xuất hiện./.
4 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Cơ chế di truyền tạo nên sự đa dạng của kháng thể ở động vật, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí
KH-CN Nghệ AnSỐ 4/2016 [59]
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
1. Sơ lược về cấu trúc kháng thể
Kháng thể gồm có 5 loại cơ bản khác nhau
về chức năng miễn dịch là IgG, IgA, IgM, IgD
và IgE. Mỗi loại kháng thể được cấu tạo bởi 2
chuỗi nặng giống hệt nhau (kí hiệu là H) và 2
chuỗi nhẹ cũng giống hệt nhau (kí hiệu là L)
(Hình 1A). Về mặt chức năng, kháng thể được
chia thành 2 vùng lớn là vùng ổn định C (con-
K háng thể là một glycoprotein miễn dịch (immunoglobulin-Ig) được tạo ra từ tế bàolympho B (chủ yếu là tương bào sản sinh kháng thể có nhiệm vụ “bắt giữ” khángnguyên), có khả năng kết hợp đặc hiệu với kháng nguyên đã kích thích sinh ra nó
[6]. Kháng thể được Von Bering và Kitasato phát hiện từ những năm đầu (1890) của lịch sử
miễn dịch học [2]. Cho đến nay, kháng thể đã được nghiên cứu và hiểu khá rõ ở mức độ phân
tử. Về mặt di truyền học, điểm đáng chú ý của hệ miễn dịch là cách cơ thể tổng hợp các kháng
thể đặc hiệu với mỗi loại kháng nguyên vốn có mức độ đa dạng dường như không giới hạn.
Câu hỏi đặt ra là: bằng cách nào mà một cơ thể động vật có thể tạo ra số loại kháng thể
nhiều hơn số gen trong hệ gen của chúng. Câu trả lời là hệ thống miễn dịch của động vật đã
phát triển các cơ chế di truyền độc đáo cho phép nó tạo ra một số lượng gần như không giới
hạn các chuỗi nặng (Heavy chain - H) và các chuỗi nhẹ (Light chain - L) khác nhau, trong đó,
cơ chế quan trọng nhất chính là “sắp xếp lại” các phân đoạn gen riêng biệt với nhau [1].
CƠ CHẾ DI TRUYỀN
TẠO NÊN SỰ ĐA DẠNG CỦA KHÁNG THỂ Ở ĐỘNG VẬT
n Nguyễn Thị Thảo
Khoa Sinh học, Đại học Vinh
stant region) đáp ứng miễn dịch và vùng V (variable re-
gion) có khả năng biến đổi (thay đổi cấu trúc phù hợp
với cấu hình của kháng nguyên) [2]. Mỗi vùng V gồm
có 7 vùng nhỏ: 3 vùng biến đổi về trình tự (comple-
mentarity determining region - CDR) xác định bổ thể
và 4 vùng khung (FR) ổn định về trình tự. Ba vùng
CDR của chuỗi nặng bắt cặp với 3 vùng CDR của chuỗi
nhẹ tạo thành vị trí liên kết với kháng nguyên [2].
Hình 1. Cấu trúc của một phân tử kháng thể. A. Cấu trúc gồm 2 chuỗi nặng (H) giống hệt nhau và 2 chuỗi nhẹ (L)
giống hết nhau. |—◆—|: liên kết disulfide giữa chuỗi nặng và chuỗi nhẹ; giữa chuỗi nặng và chuỗi nặng. B. VL: vùng
biến đổi của chuỗi nhẹ; CL: vùng ổn định của chuỗi nhẹ; VH: vùng biến đổi của chuỗi nặng; CH1, CH2 và CH3: các
vùng ổn định của chuỗi nặng [9].
A B
vùng khung
Vùng xác định
bổ thể
Tạp chí
KH-CN Nghệ AnSỐ 4/2016 [60]
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
các phân đoạn nhỏ (các đoạn ADN ngắn), những
phân đoạn này có thể tổ hợp lại theo các cách
khác nhau để tạo thành các trình tự phù hợp trong
quá trình biệt hóa các tế bào sinh sản kháng thể.
Có 3 cơ chế chính dẫn đến sự đa dạng
kháng thể ở động vật là: (1) sắp xếp lại các
phân đoạn gen V(D)J (Hình 1B); (2) sự
chuyển đổi loại kháng thể và (3) siêu đột
biến tế bào soma.
2.1. Sắp xếp lại các phân đoạn gen V(D)J
Trong tế bào gốc của cơ thể động vật vốn
đã có một số lượng lớn các phân đoạn gen V, J
và D mã hóa các chuỗi kháng thể đã góp phần
đáng kể vào sự đa dạng kháng thể, nhưng việc
sắp xếp các phân đoạn gen này thông qua quá
trình sắp xếp lại vị trí đặc hiệu được gọi là quá
trình nối V(D)J (nối V và J ở chuỗi nhẹ; nối
V, D và J ở chuỗi nặng) còn làm tăng sự đa
dạng kháng thể lên đến mức gần như vô hạn.
Các đoạn V, J và D có khả năng sắp xếp lại
như vậy là nhờ sự có mặt của các trình tự tín
hiệu sắp xếp lại nằm trong mỗi đoạn đó (Hình
2). Do đó, sự đa dạng hóa tổ hợp các phân
đoạn gen V, J và D là một cơ chế đa dạng hóa
kháng thể [1, 2].
Các kháng thể IgM, IgD, IgA, IgE và IgG lần lượt
mang các chuỗi nặng là µ, δ, α, ε và γ; các chuỗi nhẹ có
thể là κ hoặc λ ở cả 5 loại. Ở người có 2 loại phụ IgA và
4 loại phụ IgG. Các loại phụ này khác biệt nhỏ về cấu
trúc chuỗi nặng. Các chuỗi nặng và nhẹ được nối với
nhau chủ yếu bằng các liên kết (cầu nối) disulfide qua
đó tạo thành kháng thể có hình chữ Y (chạc 3). Số lượng
liên kết disulfide giữa chuỗi nặng và nhẹ khác nhau ở
các loại kháng thể khác nhau. Mỗi chuỗi nặng và chuỗi
nhẹ của một kháng thể đều có vùng biến đổi V (trình tự
axit amin không ổn định) và vùng ổn định C (trình tự
axit amin ổn định). Trong đó, trình tự axit amin của vùng
V xác định đặc trưng kháng thể tương ứng với kháng
nguyên đã kích thích sinh ra nó.
Mỗi tương tác kháng nguyên - kháng thể xảy ra giữa
paratope (là vị trí ở trên kháng thể nhận diện kháng
nguyên) và epitope - quyết định kháng nguyên (là vị trí
trên kháng nguyên liên kết với paratope trên kháng thể).
2. Cơ chế di truyền tạo nên sự đa dạng kháng thể
ở động vật
Các nghiên cứu cho thấy rằng, các tế bào lympho sử
dụng hơn 500 gen khác nhau để mã hóa một số lượng
khổng lồ các thụ thể đặc hiệu kết hợp với kháng nguyên
[4]. Trong hệ gen, thông tin di truyền (trên ADN) mã hóa
cho các chuỗi nặng và nhẹ của kháng thể được lưu giữ trong
Hình 2. Sự định vị của các nhóm gen mã hóa chuỗi nặng H, chuỗi nhẹ κ và λ trên các nhiễm sắc thể [2].
Tạp chí
KH-CN Nghệ AnSỐ 4/2016 [61]
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
nhất 120-144 (30 Vλ × 4 J λ đến 36 Vλ × 4 Jλ)
vùng V-J khác nhau có thể được tạo thành
thông qua quá trình sắp xếp lại để tạo thành
chuỗi nhẹ λ; có ít 6318 (39 VH × 27 DH × 6
JH) vùng V-D-J khác nhau được tạo thành
thông qua quá trình sắp xếp lại để tạo thành
chuỗi nặng [1, 2].
2.2. Sự chuyển đổi loại kháng thể
Hình 2 cho thấy, ở người, các phân đoạn gen liên
quan đến sự tạo thành chuỗi nhẹ κ nằm trên nhiễm sắc
thể số 2 gồm 40 phân đoạn V và 5 phân đoạn J. Trong
quá trình sắp xếp lại các phân đoạn, bất kỳ phân đoạn
nào trong 40 phân đoạn V của gen κ cũng có thể ghép
với bất kì phân đoạn J. Do đó, ít nhất 200 (40 Vκ × 5
Jκ) vùng V-J khác nhau được tạo thành thông qua quá
trình sắp xếp lại biểu hiện chuỗi κ. Tương tự, có ít
Hình 4. Một ví dụ về sự sắp xếp lại ADN xảy ra trong quá trình sắp xếp lại chuyển đổi loại. Một tế bào B tạo
một kháng thể IgM từ một trình tự VDJ (đã được sắp xếp) bị kích thích bởi kháng nguyên và nhờ cytokine (được
tạo bởi tế bào tế bào hỗ trợ T) chuyển đổi tạo kháng thể IgA. Trong quá trình đó, vùng ADN giữa trình tự VDJ và
trình tự mã hóa Cα bị loại bỏ [1].
Hình 3. Sự sắp xếp chuyển đổi loại kháng thể
Nguồn: Elsevier’s Integrated Review Immunology and Microbiology, Ze
Sự sắp xếp các phân đoạn gen
chuỗi nặng trong tế bào B
Chuỗi nặng trưởng
thành (IgG1)
Loại bỏ ADN bằng cách cắt
và nối lại các trình tự ADN
chuyển đổi gần
trình tự chuyển đổi
Phiên mã và dịch mã
Chuỗi nặng trưởng
thành (IgA2)
Chuỗi nặng trưởng
thành (IgE)
Tác động của cytokine
tế bào T
Tạp chí
KH-CN Nghệ AnSỐ 4/2016 [62]
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
các trình tự khung ngay cạnh, nhưng mục tiêu
của đột biến là các điểm nóng có trình tự đặc
trưng WRCY (W = A hoặc T, R = A hoặc G,
C, Y = T hoặc C) và WA [5]. Khả năng siêu
đột biến ở các vùng mã hóa vị trí liên kết
kháng nguyên có vai trò quan trọng. Nếu
không có khả năng này, sự đa dạng của kháng
thể chỉ đơn thuần phụ thuộc vào sự sắp xếp lại
ADN trong quá trình biệt hóa các tế bào thuộc
hệ miễn dịch. Trong khi đó, virus và tác nhân
gây bệnh vốn có thể biến đổi không ngừng đã
tạo ra vô số các dạng kháng nguyên khác nhau.
Để có hệ thống phòng thủ đủ mạnh chống lại
những biến đổi này, các gen mã hóa kháng thể
được trang bị một cơ chế bổ sung là khả năng
siêu đột biến. Nhờ vậy, cơ chế đáp ứng được
các loại kháng nguyên mới xuất hiện./.
Tài liệu tham khảo:
1. Alberts B, Johnson A, Lewis J, et al. (2002).
Molecular biology of the Cell. 4th edition. New York:
Garland Science.
2. Harry W., Schroeder Jr., and Lisa Cavacini
(2010), “Structure and function of immunoglobu-
lins”. Journal of Allergy and Clinical Immunology,
125 (2), pp. S41-S52.
3. Jun-Ming Zhang, MSc, MD and Jianxiong An,
MSc, MD (2007), “Cytokines, Inflammation and
Pain”, Spring, 45(2), pp 27-37.
4. Kathleen Park Talaro and Barry Chess (2012).
Foundations in microbiology. Eighth edition. Mc-
Graw-Hill Companies.
5. Kinoshita, K. and Honjo, T. (2001), “Linking
classwitch recombination with somatic hypermuta-
tion”, Nat. Rev. Mol. Cell.Biol., 2, pp. 493-503.
6. Litman GW, Rast JP, Shamblott MJ, Haire RN,
Hulst M, Roess W, Litman RT, Hinds-Frey KR, Zilch
A, Amemiya CT (1993). "Phylogenetic diversifica-
tion of immunoglobulin genes and the antibody reper-
toire", Mol. Biol. Evol., 10 (1), pp. 60-72.
7. Loeb, L. A. (1989), "Endogenous carcinogen-
esis: Molecular oncology into the twenty-first cen-
tury--presidential address". Cancer Research, 49
(20), pp. 5489-5496.
8. Rajewsky, K., Forster, I., and Cumano, A.
(1987), “Evolutionary and somatic selection of the
antibody repertoire in the mouse”, Science, 238, pp.
1088-1094.
9. Thomas Boenisch (2006). Immunohistochemical
Staining Methods: Antibodies, fifth edition. Dako.
10. Ziqiang Li, Caroline J. Woo, Maria D. Igle-
sias-Ussel (2004), “The generation of antibody diver-
sity through somatic hypermtation and class switch
recombination”, Genes Dev, 18, pp. 1-11.
Trong quá trình phát triển các tế bào B, nhiều tế bào
chuyển từ tạo loại kháng thể này sang tạo loại kháng thể
khác gọi là quá trình chuyển đổi loại kháng thể. Bình
thường, trong tủy xương, tất cả các tế bào B đáp ứng
kháng nguyên đều bắt đầu tổng hợp kháng thể bằng việc
tạo các phân tử IgM và gắn vào màng tế bào B làm các
thụ thể của kháng nguyên. Tế bào B có IgM ở bề mặt sẽ
rời tủy xương đi vào máu, ở đó tế bào B biểu hiện thêm
kháng thể IgD làm các thụ thể gắn với kháng nguyên trên
màng tế bào. Hai kháng thể này chỉ khác nhau ở vùng
đáp ứng miễn dịch (vùng ổn định), còn giống nhau ở
vùng liên kết kháng nguyên (đều là kết quả dung hợp
giữa các phân đoạn VκJκ hoặc VλJλ với các phân đoạn
VHDJH cùng loại) (Hình 3). Sau đó, trong quá trình đáp
ứng miễn dịch, sự kết hợp giữa kháng nguyên và cy-
tokine (là protein nhỏ, được tiết ra bởi nhiều loại tế bào
khác nhau, nhưng chủ yếu là các tế bào hỗ trợ T và đại
thực bào, ảnh hưởng đến sự tương tác và thông tin giữa
hai tế bào với nhau) [2] cùng với kháng nguyên kích
thích tế bào B tạo các kháng thể IgG, IgE hoặc IgA thông
qua thay đổi chuỗi nặng (vì vùng ổn định của chuỗi nặng
quyết định loại của kháng thể). Do đó, các kháng thể
IgG, IgE và IgA được gọi là các loại kháng thể thứ cấp,
bởi vì nó được tạo ra sau khi có sự kích thích của kháng
nguyên và chúng đáp ứng kháng thể thứ cấp [1, 2]. Khi
xảy ra chuyển đổi loại, các đoạn intron (trình tự không
mã hóa) và những gen không dùng đến kể cả gen Cµ và
Cδ (là những gen nằm gần V, D và J) sẽ bị loại bỏ. Loại
kháng thể được tạo ra sau mỗi lần sắp xếp lại được quy
định bởi phân đoạn CH còn lại nằm gần nhất với phân
đoạn LHVHDJH [1] (Hình 3). Hình 4 thể hiện một tế
bào B tạo một kháng thể IgM từ một trình tự VDJ bị kích
thích bởi kháng nguyên và cytokine chuyển đổi tạo
kháng thể IgA. Trong quá trình đó, vùng ADN giữa trình
tự VDJ và trình tự Cα bị loại bỏ.
2.3. Siêu đột biến ở tế bào soma
Một cơ chế đa dạng kháng thể khác là biến đổi kháng
thể do sự cảm ứng của kháng nguyên. Cùng với sự hỗ
trợ của tế bào T, các gen thuộc vùng biến đổi của các tế
bào lympho tiền thân trải qua quá trình siêu đột biến tế
bào soma (SHM) với tần số lên đến 10-5-10-3 đột biến/1
bp/mỗi thế hệ ở chuột và người. Tỷ lệ đột biến này cao
hơn 1 triệu lần so với tỷ lệ đột biến tự nhiên ở hầu hết
các gen khác [8]. Các đột biến chủ yếu là thay thế các
base đơn lẻ, ngoài ra còn có đột biến thêm và mất base.
Những đột biến này xảy ra ở vùng V, từ vị trí 150-200
bp và kéo dài đến gần 1,5kb ngược chiều với promoter,
trước khi kết thúc trình tự tăng cường intron (Eµ). Còn
ở vùng C ít khi xảy ra các đột biến này [10]. Mặc dù các
đột biến có thể xảy ra ở bất kỳ vị trí nào của vùng V và
Các file đính kèm theo tài liệu này:
co_che_di_truyen_tao_nen_su_da_dang_cua_khang_the_o_dong_vat.pdf