Công nghệ sản xuất Omega-3
Ti-plasmid mang gen mới gắn vào nhiễm sắc thể
tế bào thực vật đó. Qua nuôi cấy tế bào cây Camelina
mang vector chứa rADN sinh trưởng, phát triển thành
vô số cây mới mang những gen mới. Việc sử dụng
cây Camelina hoang dại là rất khôn ngoan bởi nó là
loài hoang dại nên không những dễ sống, dễ sinh
trưởng, phát triển, có khả năng chống chịu cao đối
với nắng hạn, mưa lũ, sâu bệnh, không phải chăm
sóc, phun thuốc trừ sâu bệnh, thuốc trừ cỏ, mà còn
có khả năng nhân lên được nhiều, qua gieo hạt
hàng năm.
Bằng cách đó những cây Camelina sản xuất
omega-3 nhờ biểu hiện gen. Sau đó thu hoạch
cây này, tách chiết ra omega-3 với khối lượng
lớn. Những hạt giống sau khi được biến đổi gene
sẽ cung cấp lượng dầu tinh khiết chứa khoảng
12% EPA và 14% DHA - tỷ lệ tương tự như
trong dầu cá.
Nhà nghiên cứu Johnathan Napier chia sẻ nếu
mọi việc diễn ra suôn sẻ, dầu thực vật có thể
cung cấp một khối lượng đủ để thương mại trong
10 năm. Dù khó có thể thay thế sản lượng dầu
thu được từ một triệu tấn cá đánh bắt mỗi năm ở
biển nhưng nó cũng đủ cung cấp 10% số lượng
dầu đó. Điều này sẽ giảm áp lực đáng kể ở việc
đánh bắt cá [7]./.
3 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Công nghệ sản xuất Omega-3, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tạp chí
KH-CN Nghệ AnSỐ 8/2015 [19]
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
1. Axit béo omega-3 là gì?
Omega-3 là loại axit béo thiết yếu bao gồm
Axit eicosapentaenoic (EPA), Axit docosa-
hexaenoic (DHA), Docosapentaenoic (DPA,
axit clupanodonic)... rất cần thiết cho sự trao
đổi chất của cơ thể, giúp chống lại bệnh tật.
Cơ thể chúng ta không tự tổng hợp được
omega-3, do đó phải bổ sung trong các loại
thức ăn hằng ngày.
Có thể nói omega-3 là loại axit béo không
no kỳ diệu vì nó có nhiều tác dụng tích cực với
cơ thể.
- Giảm trầm cảm sau sinh: Lượng omega-
3 trong phụ nữ mang thai thường giảm xuống
vì các axit thiết yếu được chuyển từ mẹ sang
thai nhi trước khi sinh để giúp em bé phát
triển. Sau khi sinh, người mẹ lại cho con bú,
vì thế một lần nữa chuyển omega-3 cho em bé
và làm cạn kiệt nguồn cung của người mẹ. Kết
quả nghiên cứu cho thấy, phụ nữ sau khi sinh
có thể tự bảo vệ mình khỏi chứng trầm cảm
bằng cách bổ sung hàm lượng axit omega-3
lên đến bình thường.
- Giảm quá trình ung thư vú: omega-3 có
thể chống lại tất cả các loại tế bào ung thư,
nhưng chúng đặc biệt hiệu quả gấp ba lần đối
với tế bào ung thư vú.
- Đối với phụ nữ mang thai, việc hấp thu
omega-3 là tất yếu trong thai kỳ để duy trì sự
cân bằng hormone gọi là prostaglandin, giúp
điều chỉnh rất nhiều chức năng thể chất quan
trọng bao gồm huyết áp, lưu chuyển máu, sự
truyền dẫn trong hệ thần kinh, kháng viêm, dị
ứng, các chức năng của thận, hệ thống tiêu hoá
cùng với các chức năng quan trọng khác của
cơ thể.
- Ngăn ngừa ung thư da: các nhà khoa
học tại Anh đã đưa ra kết quả sau khi
nghiên cứu cho thấy omega-3 làm tăng khả
năng chống tác động của tia tử ngoại (UV) từ ánh
sáng mặt trời đối với da. Họ phát hiện ra rằng, những
người tiêu thụ một liều dầu cá có omega-3 thường
xuyên đã tăng khả năng miễn dịch với các tác động
có hại của tia UV sau khi tiếp xúc với ánh nắng mặt
trời từ 8-15 phút.
- Chống lại bệnh Alzhemer và chống mất thị lực:
Một nghiên cứu từ Đại học California, Los Angeles cho
thấy omega-3 có thể giúp làm sạch mảng amyloid não
bộ. Một nghiên cứu năm 2012 trên động vật (chuột)
được đăng trên Tạp chí Investigative Ophthalmology
& Visual Science cho thấy, axit béo omega-3 DHA (do-
cosahexaenoic acid) có thể ngăn ngừa mất thị lực do
tuổi tác.
2. Nguồn thu nhận omega-3
Những loại thực phẩm chứa nhiều axit béo omega-3
là gan và dầu mỡ cá hồi, gan cá tuyết. Đây là những loại
thực phẩm bổ dưỡng quan trọng và người ta cho ra dưới
dạng thực phẩm chức năng. Ngoài ra, omega-3 có ít
trong dầu hạt Macadamia thuộc họ Proteaceae (ở Aus-
tralia), cây hắc mai biển (Sea-buckthorn-Hippophae sali-
cifolia) - một loại cây bụi, họ Elaeagnaceae ở núi
Himalayas, dầu vừng, lạc...
Mọi người đều biết rằng, dầu cá omega-3 là sự lựa
chọn sáng suốt giúp tăng cường phát triển trí não ở trẻ,
giúp trẻ thông minh hơn, tư duy sáng tạo hơn, nhờ đó
CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT OMEGA-3
n Nguyễn Dương Tuệ
Tạp chí
KH-CN Nghệ AnSỐ 8/2015 [20]
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
học tập tốt hơn. Với áp lực học tập mỗi ngày
một tăng như ngày nay, nếu không bổ sung
đầy đủ dưỡng chất cho trẻ thì nguy cơ trẻ
thiếu hụt các dưỡng chất quan trọng, trong
đó có omega-3 là rất cao, ảnh hưởng lớn đến
kết quả học tập. Nếu trẻ có những biểu hiện
như: học hành kém tiếp thu, dễ bị cận thị, thể
chất suy yếu thì nên cân nhắc bổ sung thêm
dưỡng chất omega 3 cho trẻ.
Nhu cầu sử dụng omega-3 của con người
là rất lớn nhưng tìm kiếm cá hồi, cá tuyết xứ
lạnh hay các cây Macadamia, Hippophae
salicifolia để sản xuất thì không khả thi. Bởi
thế, con người phải sản xuất omega-3 bằng
con đường công nghệ sinh học.
3. Sản xuất omega-3 trong công nghệ
sinh học
3.1. Công nghệ nuôi cấy vi tảo
Việc nuôi cấy vi tảo với chủng chọn lọc
có hàm lượng omega-3 đã được triển khai,
dễ thực hiện và có hiệu quả cao. Sinh khối
những vi tảo được lựa chọn không những
cho omega-3 cao mà còn có hàm lượng pro-
tein cao nên nhiều nước dùng nó trong sản
xuất thức ăn cho chăn nuôi thủy sản [2]. Ở
Tây Ban Nha đã có sự hợp tác của các nhà
nghiên cứu sản xuất omega-3, 6 và 9 từ hai
loài vi tảo. Tập đoàn này bao gồm các nhà
khoa học từ Trung tâm Công nghệ Ainia
Iberdrola Kỹ thuật và Xây dựng, Công nghệ
Sinh học tảo Instituto de la Grasa của Hội
đồng Điều tra Quốc gia, Khoa học và
Nghiên cứu (CSIC). Họ tin rằng đây là một
bước đột phá, vì nó liên quan đến việc giải
quyết một trong những trở ngại chính để sản
xuất công nghiệp và tiếp thị các sản phẩm có
nguồn gốc từ vi tảo. Trong nghiên cứu, nhóm
các nhà khoa học sử dụng tảo Nannocloropsis gaditana
và Scenedesmus sp. Sinh khối Nannocloropsis gaditana
có một lượng chất béo đặc biệt giàu omega-3, axit eicos-
apentaenoic (EPA). Trong khi đó, trong thành phần acid
béo của Scenedesmus sp có nhiều omega-9 [3].
Việc sử dụng vi tảo như tảo lục là một lợi thế bởi nó có
cường độ quang hợp cao, là một trong những con đường
hứa hẹn nhất để giảm bớt hiệu ứng nhà kính [3]. Sử dụng
nguồn carbon tập trung như khí thải công nghiệp và đặc
biệt sử dụng cả nước thải để nuôi cấy vi tảo là cách làm
hiệu quả để đạt được cả hai mục tiêu: cố định CO2 và xử
lý nước thải [5]. Nannochloropsis là vi tảo có đường kính
khoảng 2-3 micromet gồm 6 loài. Các loài đã được biết
đến có ở nước ngọt và nước lợ, nhưng chủ yếu từ môi
trường biển. Các loài tảo của chi Nannochloropsis có
chlorophyll a (không có chlorophyll b và c) và có một hàm
lượng cao của một loạt các sắc tố như astaxanthin, zeax-
anthin, canthaxanthin cần thiết cho quang hợp [6]. Ở thời
điểm hiện tại, nó được sử dụng chủ yếu như là một nguồn
thực phẩm giàu năng lượng cho ấu trùng cá và luân trùng.
Song Nannochloropsis được coi là một loại tảo đầy hứa
hẹn cho các ứng dụng công nghiệp vì nó có khả năng tích
lũy hàm lượng cao các axit béo không bão hòa đa. Hơn
nữa, Nannochloropsis thực sự là transfectable và đã có
bằng chứng cho thấy một số chủng có khả năng để thực
hiện tái tổ hợp tương đồng [1].
3.2. Công nghệ ADN tái tổ hợp
Nhà nghiên cứu Johnathan Napier và các đồng nghiệp
tại Viện nghiên cứu Rothamsted ở Harpenden (Anh) đã
tìm ra một nguồn cung cấp EPA và DHA bền vững khác.
Người ta tách gen từ hệ enzim điều hòa tổng hợp omega-
3 của cá hồi, ghép vào Ti-plassmid của vi khuẩn Agroto-
bacter vinelandii để tạo ra Plassmid lai (Hybrid plasmid)
chứa ADN tái tổ hợp (rADN). Hybrid plasmid vector được
đưa vào tế bào thực vật Camelina là một loài cây hoang
dại họ cải - Brassicaceae. Các loài Camelina có nguồn gốc
từ Địa Trung Hải của khu vực châu Âu và châu Á. Hầu hết
Tạp chí
KH-CN Nghệ AnSỐ 8/2015 [21]
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
các loài của chi này đã được nghiên cứu rất ít, ngoại
trừ Camelina sativa, trong lịch sử được trồng làm cây
lấy dầu. Heinrich Johann Nepomuk von Crantz là nhà
Thực vật học đầu tiên sử dụng các chi Camelina
trong phân loại vào năm 1762. Trình tự bộ gen đầu
tiên của Camelina được nghiên cứu đầy đủ bởi một
nhóm khoa học gia Canada công bố vào ngày
01/8/2013, sau đó được công bố chi tiết trên Tạp chí
khoa học Nature Communications (23/4/2014). Các
nhà khoa học nghiên cứu tại Viện Rothamsted ở Anh
đã phát triển biến đổi gen Camelina sativa để tích lũy
ở mức độ cao của dầu cá omega-3 EPA và DHA trong
hạt của nó. Họ đã biến cây Camelina trở thành một
“nhà máy” có thể cung cấp nguồn dầu cá omega-3
bền vững đầy tiềm năng và có lợi cho sức khỏe con
người và môi trường.
Ti-plasmid mang gen mới gắn vào nhiễm sắc thể
tế bào thực vật đó. Qua nuôi cấy tế bào cây Camelina
mang vector chứa rADN sinh trưởng, phát triển thành
vô số cây mới mang những gen mới. Việc sử dụng
cây Camelina hoang dại là rất khôn ngoan bởi nó là
loài hoang dại nên không những dễ sống, dễ sinh
trưởng, phát triển, có khả năng chống chịu cao đối
với nắng hạn, mưa lũ, sâu bệnh, không phải chăm
sóc, phun thuốc trừ sâu bệnh, thuốc trừ cỏ, mà còn
có khả năng nhân lên được nhiều, qua gieo hạt
hàng năm.
Bằng cách đó những cây Camelina sản xuất
omega-3 nhờ biểu hiện gen. Sau đó thu hoạch
cây này, tách chiết ra omega-3 với khối lượng
lớn. Những hạt giống sau khi được biến đổi gene
sẽ cung cấp lượng dầu tinh khiết chứa khoảng
12% EPA và 14% DHA - tỷ lệ tương tự như
trong dầu cá.
Nhà nghiên cứu Johnathan Napier chia sẻ nếu
mọi việc diễn ra suôn sẻ, dầu thực vật có thể
cung cấp một khối lượng đủ để thương mại trong
10 năm. Dù khó có thể thay thế sản lượng dầu
thu được từ một triệu tấn cá đánh bắt mỗi năm ở
biển nhưng nó cũng đủ cung cấp 10% số lượng
dầu đó. Điều này sẽ giảm áp lực đáng kể ở việc
đánh bắt cá [7]./.
Tài liệu tham khảo
1. AlgaeIndustry Magazine.com, May 24, 2013, Spanish researchers extracting Omega-3, 6 and 9.
2. Bucolo C, Caraci F, Drago F, Galvano F, Grosso G, Malaguarnera M, Maryentano S (2014), "Omega-3 fatty acids
and depression: Scientific evidence and biological mechanisms".
3, Cederholm T, Palmblad J (March 2010), "Are omega-3 fatty acids options for prevention and treatment of cognitive
decline and dementia?".
4. Lgado-Lista J, Per-ez-Martinez P, Lopez-Miranda J, Perez-Jimenez F (June 2012), "Long chain omega-3 fatty acids
and cardiovascular disease: a systematic review".
5. Richardson AJ (2006), "Omega-3 fatty acids in ADHD and related neurodevelopmental disorders".
6. Scorletti E, Byrne CD (2013), "Omega-3 fatty acids, hepatic lipid metabolism, and nonalcoholic fatty liver disease",
Annual review of nutrition 33.
7. Wall R, Ross RP, Fitzgerald GF, Stanton C (2010), "Fatty acids from fish: the anti-inflammatory potential of long-
chain omega-3 fatty acids".
Các file đính kèm theo tài liệu này:
cong_nghe_san_xuat_omega_3.pdf