Coral reef fishes in the banks and rocky islands in the offshore waters of Binh Thuan province

KẾT LUẬN Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận được oài thuộc 6 giống và họ cá rạn san hô trong các rạn ngầm và xung quanh đảo đá vùng biển ngoài khơi tỉnh Bình Thuận. Trong đó có 4 oài lần đầu tiên ghi nhận cho Việt Nam bao gồm Helcogramma striata Hansen, 1986 (Tripterygiidae), Pseudanthias squamipinnis (Peters, 1855) (Serranidae), Bodianus bilunulatus (Lacepède, 1801) và Coris aygula Lacepède, 1801 (Labridae). Trong 2 khu vực khảo sát, khu vực rạn ngầm Bishop kém đa dạng hơn so với rạn san hô ven đảo đá ở khu vực Catwick, đồng thời Catwick 1 là trạm có số loài nhiều nhất và Bishop 1 là trạm có số loài ít nhất. Mật độ trung bình tổng số cá rạn san hô tại khu vực khảo sát khá cao . 4 6 cá thể m2 và chủ yếu thuộc về nhóm cá có kích thước nhỏ (chiếm 86%) và nhóm cá cảnh. Nhóm cá có kích thước > 21 cm và nhóm cá thực phẩm có mật độ thấp hơn nhiều so với nhóm cá cảnh, tuy nhiên so với khu vực ven bờ tỉnh Bình Thuận thì ở đây mật độ nhóm cá này lại cao hơn nhiều. Kết quả phân tích nhóm và chỉ số đa dạng cho thấy sự tương đồng khá rõ và chỉ số đa dạng khá cao của các trạm tại sinh cư rạn san hô ven đảo đá ở khu vực Catwick, trong khi sinh cư rạn ngầm lại có sự khác biệt giữa hai trạm Bishop 1 và Bishop 2.

pdf13 trang | Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Coral reef fishes in the banks and rocky islands in the offshore waters of Binh Thuan province, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
259 Vietnam Journal of Marine Science and Technology; Vol. 19, No. 4A; 2019: 259–271 DOI: https://doi.org/10.15625/1859-3097/19/4A/14590 https://www.vjs.ac.vn/index.php/jmst Coral reef fishes in the banks and rocky islands in the offshore waters of Binh Thuan province Mai Xuan Dat Institute of Oceanography, VAST, Vietnam E-mail: maixuandat2014@gmail.com Received: 30 July 2019; Accepted: 6 October 2019 ©2019 Vietnam Academy of Science and Technology (VAST) Abstract Binh Thuan province is located in the South Central Coast of Vietnam with favorable conditions for living coral reefs. The coral reefs were mainly investigated in coastal water areas and Phu Quy island, meanwhile other areas such as the banks and rocky islands seem to lack information. This study was conducted to evaluate the species composition and distribution of coral reef fish communities in the Royal Bishop banks and around rocky islands in Julia shoal in the offshore waters of Binh Thuan province in April 2019. A total of 151 species belonging to 86 genera and 33 families of coral reef fishes were recorded. Among them, 4 species for the first time recorded in Vietnam are Helcogramma striata (Hansen, 1986) (Tripterygiidae), Pseudanthias squamipinnis (Peters, 1855) (Serranidae), Bodianus bilunulatus (Lacepède, 1801) and Coris aygula (Lacepède, 1801) (Labridae). The total average density of coral reef fish in the offshore waters of Binh Thuan is quite high at 1,104.9 ± 617 individuals/250 m 2 , most of them are small sized fish and ornamental fish group, the large sized fish and target fish group accounts for a relatively low rate, but their density here is much higher compared to that in the coastal waters of Binh Thuan province. The comparative analysis also shows that sites in coral reef around rocky islands have species richness and density of coral reef fish higher than the bank area. Keywords: Coral reef fishes, Royal Bishop banks, Julia shoal, Binh Thuan, Vietnam. Citation: Mai Xuan Dat, 2019. Coral reef fishes in the banks and rocky islands in the offshore waters of Binh Thuan province. Vietnam Journal of Marine Science and Technology, 19(4A), 259–271. 260 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, Tập 19, Số 4A; 2019: 259–271 DOI: https://doi.org/10.15625/1859-3097/19/4A/14590 https://www.vjs.ac.vn/index.php/jmst Cá rạn san hô trong các bãi ngầm và đảo đá ở vùng biển ngoài khơi tỉnh Bình Thuận Mai Xuân Đạt Viện Hải dương học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Việt Nam E-mail: maixuandat2014@gmail.com Nhận bài: 30-7-2019; Chấp nhận đăng: 6-10-2019 Tóm tắt Tỉnh Bình Thuận nằm ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ, với điều kiện thuận lợi cho các rạn san hô sinh sống. Các nghiên cứu về rạn san hô nơi đây tập trung chủ yếu ở khu vực ven bờ và đảo Phú Quý, các khu vực bãi cạn và xung quanh các đảo đá ở ngoài khơi chưa có điều kiện để khảo sát. Nghiên cứu này được tiến hành nhằm đánh giá được thành phần và phân bố của quần xã cá rạn san hô trong bãi ngầm Royal Bishop và quanh các đảo đá tại bãi cạn Julia ở vùng biển ngoài khơi tỉnh Bình Thuận vào tháng 4/2019. Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận oài thuộc 6 giống và họ cá rạn san hô. Trong đó có 4 oài ần đầu tiên ghi nhận cho Việt Nam là các loài Helcogramma striata Hansen, 1986 (Tripterygiidae), Pseudanthias squamipinnis (Peters, 1855) (Serranidae), Bodianus bilunulatus (Lacepède, 1801) và Coris aygula Lacepède, 1801 (Labridae). Mật độ trung bình tổng số của cá rạn san hô tại vùng biển ngoài khơi Bình Thuận à khá cao . 4 6 cá thể m2 trong đó đa số à nhóm cá có kích thước nhỏ và nhóm cá cảnh, nhóm cá kích thước lớn và cá thực phẩm chiếm tỉ lệ khá thấp tuy nhiên so với vùng ven bờ tỉnh Bình Thuận thì mật độ của chúng tại đây ại cao hơn nhiều. Các phân tích so sánh cũng cho thấy các trạm khu vực rạn san hô ven đảo đá có độ giàu có về loài và mật độ cá rạn san hô cao hơn so với khu vực rạn ngầm. Từ khóa: Cá rạn san hô, bãi ngầm Royal Bishop, bãi cạn Julia, Bình Thuận, Việt Nam. MỞ ĐẦU Bình Thuận là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, có tọa độ địa lý từ 10 o 33‟42” đến 11o33‟18” vĩ độ Bắc, từ 107 o 23‟41” đến 108o52‟18” kinh độ Ðông. Phía bắc giáp với tỉnh Lâm Đồng, phía đông bắc giáp tỉnh Ninh Thuận, phía tây giáp tỉnh Đồng Nai, và phía tây nam giáp Bà Rịa-Vũng Tàu ở phía đông và nam giáp Biển Đông với đường bờ biển dài khoảng 192 km. Bình Thuận có vùng lãnh hải rộng hơn 52 nghìn km² và đây là một trong ba ngư trường lớn của cả nước. Vùng biển Bình Thuận có đảo chính, lớn nhất là đảo Phú Quý với diện tích 17,4 km², cách thành phố Phan Thiết 56 hải lý về phía tây bắc đảo còn lại là Cù Lao Cau với diện tích khoảng 140 ha, cách bờ chừng 9 km. Ngoài ra, vùng biển này còn một số bãi ngầm và đảo đá nằm ở ngoài thềm lục địa của Việt Nam cách bờ biển khoảng hơn km. Tập hợp các kết quả nghiên cứu cho thấy, vùng biển Bình Thuận có sự phân bố của các hệ sinh thái đặc thù, đặc biệt là hệ sinh thái rạn san hô, chủ yếu tập trung ở khu vực biển ven bờ và đảo Phú Quý. Kết quả nghiên cứu sơ bộ đã xác định được khu vực Vĩnh Hảo và xung quanh đảo Cù Lao Cau có 134 loài san hô thuộc 48 giống san hô cứng, 28 loài san hô mềm, 2 loài san hô sừng và 2 loài thủy tức san hô [1]. Nguồn lợi cá rạn san hô cũng bước đầu ghi nhận tại khu vực này có 211 loài thuộc 87 giống và 35 họ cá rạn san hô [2]. Tại đảo Phú Cá rạn san hô trong các bãi ngầm và đảo đá 261 Quý, quần xã san hô cứng cũng đã được nghiên cứu bước đầu ghi nhận có 220 loài thuộc 50 giống và 15 họ san hô đã được tìm thấy [3]. Tuy nhiên, vẫn chưa có công bố chi tiết nào về cá rạn san hô ở vùng biển quanh đảo Phú Quý nói riêng và các bãi ngầm đảo đá ở vùng biển ngoài khơi tỉnh Bình Thuận nói chung. Mặc dù nguồn lợi cá rạn san hô ở đảo Phú Quý và Cù Lao Cau đã được tập hợp khá đầy đủ trong đề tài nghiên cứu cơ bản của Nguyễn Văn Long năm 4, sau khi tập hợp các nghiên cứu trước đó của chính nhóm tác giả, kết quả đã ghi nhận được tại vùng biển xung quang đảo Cù Lao Cau có 314 loài, 121 giống và 41 họ cá rạn san hô; quanh đảo Phú Quý có 170 loài, 86 giống và 33 họ cá rạn san hô phân bố (báo cáo tổng kết đề tài NAFOSTED: Quần xã cá rạn san hô và san hô tạo rạn vùng biển ven bờ phía nam Việt Nam, mã số: 106.14-2010.67 ưu trữ tại Viện Hải dương học). Có thể thấy, mặc dù các nghiên cứu về rạn san hô ở những vùng nước và các đảo ven bờ ở nước ta đã được tiến hành khá nhiều. Tuy nhiên, về các đảo đá và vùng bãi cạn xa bờ nằm trên thềm lục địa của nước ta vẫn chưa có điều kiện để nghiên cứu. Đặc biệt ở vùng biển Bình Thuận, các nghiên cứu về rạn san hô còn khá khiêm tốn, chủ yếu tập trung ở vùng biển ven bờ và đảo Phú Quý. Chưa có một nghiên cứu nào về rạn san hô xung quanh các đảo đá và bãi cạn ở vùng biển xa bờ nơi đây. Vì vậy để có được nguồn tư iệu đầy đủ hơn của quần xã cá rạn rạn san hô ở vùng biển ngoài khơi tỉnh Bình Thuận. Bài báo này sẽ cung cấp những dẫn liệu bước đầu về cá rạn san hô từ chuyến khảo sát bổ sung vào 4/2019, thuộc nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ giữa Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học Nga trên tàu Viện sĩ OPARIN lần thứ 6. Nguồn tư iệu này sẽ góp phần đánh giá đầy đủ hơn giá trị nguồn lợi cá rạn san hô nói riêng và đa dạng sinh học cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên vùng biển này trong tương ai. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu được tiến hành tại 4 điểm ở các khu vực bãi ngầm Roya Bishop và các đảo đá khu vực bãi cạn Julia ở vùng biển ngoài khơi tỉnh Bình Thuận vào tháng 4/2019 bao gồm: Bishop 1 và Bishop 2 (thuộc bãi rạn ngầm Royal Bishop), Catwick 1 và Catwick 2 (thuộc khu vực bãi cạn Julia). Vị trí và tọa độ của các trạm khảo sát được trình bày trong bảng 1 và hình 1. Bảng 1. Tọa độ vị trí các trạm khảo sát rạn san hô ở vùng biển ngoài khơi tỉnh Bình Thuận STT Trạm khảo sát Khu vực Kinh độ Vĩ độ Độ sâu 1 Bishop 1 Royal Bishop Banks 108,300752o 09,814549o 25 m 2 Bishop 2 Royal Bishop Banks 108,097689o 09,727826o 14,5 m 3 Catwick 1 Julia Shoal 108,901168o 10,055941o 15 m 4 Catwick 2 Julia Shoal 109,049877o 09,995735o 22 m Đánh giá quần xã cá rạn san hô được thực hiện trên ba mặt cắt, mỗi mặt cắt dài m đặt cách nhau 10 m trên cùng một đới. Tại mỗi trạm, sau khi mặt cắt đã được cố định khoảng phút người khảo sát cá tiến hành thu thập số liệu theo phương pháp của English et al., (1997) [4], Hodgson et al., (2003) [5]. Người khảo sát tiến hành bơi chậm theo đường zíc zắc dọc theo mặt cắt để ghi nhận thành phần loài, số ượng cá thể và kích thước (đến từng cm theo chiều dài tổng - total length) của từng loài trong phạm vi 250 m2 (50 m dài và 5 m rộng). Sau khi hoàn thành công việc thu thập số liệu trên mặt cắt người khảo sát tiến hành bơi xung quanh vùng bên ngoài mặt cắt để ghi nhận những oài cá chưa bắt gặp trên mặt cắt nhằm bổ sung vào danh mục thành phần loài của trạm khảo sát. Thời gian điều tra trên mỗi mặt cắt dài 50 m dao động từ 35–40 phút tùy thuộc vào điều kiện của rạn và được tiến hành trong khoảng từ 9:00–14:00 giờ. Bên cạnh đó chúng tôi kết hợp với việc chụp ảnh các loài cá trong từng trạm khảo sát để so sánh và đối chiếu sau này. Việc định loại cá rạn được dựa theo các tài liệu phân loại của Carcasson (1977), Randall et al., (1990), Myers (1991), Kuiter (1992), Allen et al., (2002, 2012) [6–11]. Danh mục thành phần oài được rà soát và chỉnh lý theo World Register of Marine Speacies (WORMS). Mai Xuân Đạt 262 Hình 1. Sơ đồ các trạm khảo sát rạn san hô vùng biển ngoài khơi tỉnh Bình Thuận Xác định loài mới cho Việt Nam thông qua đối chiếu danh mục thành phần loài của nghiên cứu này với các danh mục đã được công bố như: A check ist of the marine and freshwater fishes of Vietnam của Orsi [12], danh mục cá biển Việt Nam - tập 4 của Nguyễn Hữu Phụng [13], thành phần cá rạn san hô biển Việt Nam của Nguyễn Hữu Phụng [14] đa dạng sinh học và giá trị nguồn lợi cá rạn san hô biển Việt Nam của Nguyễn Nhật Thi và nnk., [15], danh mục thành phần loài cá rạn san hô vùng biển ven bờ Nam Trung Bộ của Nguyễn Văn Long [16], nguồn lợi cá rạn san hô xung quanh đảo Cù Lao Cau - tỉnh Bình Thuận của Nguyên Văn Long và nnk., [2], nguồn lợi cá rạn san hô vùng biển ven bờ Phú Yên của Nguyễn Văn Long [ ] đa dạng sinh học và tiềm năng nguồn lợi cá rạn san hô vùng biển quần đảo Trường Sa của Nguyễn Nhật Thi và nnk., [18]. Việc phân chia cá rạn san hô thành các nhóm cá chính dựa vào tính chất sử dụng phổ biến của chúng trong đó nhóm cá có giá trị thực phẩm là những họ cá có kích thước lớn và thường được khai thác làm thức ăn gồm các họ cá hồng (Lutjanidae), cá hè (Lethrinidae), cá mú (Serranidae), cá kẽm (Haemulidae), cá mó (Scaridae), cá đuôi gai (Acanthuridae), cá miền (Caesionidae), cá khế (Carangidae), cá đổng (Nemipteridae), cá phèn (Mullidae), cá dìa (Siganidae), cá bò da (Balistidae) và cá bò giấy (Monacanthidae); và nhóm cá cảnh là những họ cá còn lại có kích thước bé, ít có giá trị thực phẩm và thường được khai thác để trưng bày trong các bể nuôi cá cảnh. Thống kê và xử lý số liệu bằng phần mềm Excel 2010. Phân tích nhóm quần xã dựa trên ma trận giống nhau với số liệu thành phần loài tại các trạm nghiên cứu. Việc tính toán các chỉ số độ giàu có về oài (d) độ đa dạng (H‟) chỉ số cân bằng (J‟) trong quần xã giữa các trạm cũng được thực hiện trên phần mềm PRIMER 6.0. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Thành phần loài và phân bố Kết quả khảo sát đã ghi nhận được 51 oài cá rạn san hô thuộc 6 giống và 3 họ (bảng 1). Trong đó họ cá bàng chài (Labridae) có số ượng loài nhiều nhất với 30 loài (chiếm 19,9% tổng số loài), tiếp đến là họ cá thia (Pomacentridae) có 19 loài (12,6%), họ cá Bướm (Chaetodontidae) có 17 loài (11,3%), họ cá đuôi gai (Acanthuridae) có 11 loài (7,3%), họ cá mó (Scaridae) có 9 loài (6%), họ Cá rạn san hô trong các bãi ngầm và đảo đá 263 cá mú (Serranidae) có 6 loài (4%), họ cá thiên thần (Pomacanthidae) có 5 loài (3,3%), các họ cá còn lại mỗi họ chỉ có từ 1–4 loài (bảng 2). Trong thành phần cá rạn san hô ở vùng biển ngoài khơi tỉnh Bình Thuận đã bổ sung 4 loài mới ghi nhận cho danh mục cá rạn san hô biển Việt Nam là loài Helcogramma striata Hansen, 1986 (Tripterygiidae), Pseudanthias squamipinnis (Peters, 1855) (Serranidae), Bodianus bilunulatus (Lacepède, 1801) và Coris aygula Lacepède, 1801 (Labridae) (phụ lục 1 và 2). Ngoài ra khi đối chiếu với các nghiên cứu trước đây tại khu vực vùng biển Bình Thuận cho thấy, nghiên cứu này bổ sung 37 loài mới cho danh mục cá vùng biển Bình Thuận. ảng . Số ượng họ giống và oài cá rạn san hô tại các trạm khảo sát Taxon Bishop 1 Bishop 2 Bishop Catwick 1 Catwick 2 Catwick Tổng Họ 19 24 26 21 25 26 33 Giống 33 51 56 52 55 68 86 Loài 49 79 93 84 80 111 151 Tỉ lệ % 32,5 52,3 61,6 55,6 53,0 73,5 100,0 Bảng 2. Cấu trúc thành phần loài cá rạn san hô tại các trạm khảo sát STT Họ Bishop 1 Bishop 2 Bishop Catwick 1 Catwick 2 Catwick Tổng Tỉ lệ (%) 1 Labridae 8 17 20 17 16 22 30 19,9 2 Pomacentridae 10 14 15 10 10 14 19 12,6 3 Chaetodontidae 5 7 9 13 8 14 17 11,3 4 Acanthuridae 1 5 5 6 7 10 11 7,3 5 Scaridae 6 5 8 4 5 5 9 6,0 6 Serranidae 0 2 2 3 4 4 6 4,0 7 Pomacanthidae 1 3 3 3 3 4 5 3,3 8 Blenniidae 0 4 4 3 2 2 4 2,6 9 Caesionidae 1 1 1 4 1 4 4 2,6 10 Holocentridae 2 1 2 0 3 3 4 2,6 11 Monacanthidae 0 2 2 3 1 3 4 2,6 12 Mullidae 2 3 3 3 3 4 4 2,6 13 Apogonidae 3 2 3 0 0 0 3 2,0 14 Lethrinidae 1 1 1 2 1 3 3 2,0 Các họ còn lại 9 12 15 13 16 18 28 18,5 Tổng 49 79 93 84 80 110 151 100,0 Trong 4 trạm khảo sát, số loài nhiều nhất thuộc về trạm Catwick 1 với 84 loài, (chiếm hơn % tổng số loài), tiếp đến là trạm Catwick 2 với 80 loài, trạm Bishop cũng có tới 79 loài và thấp nhất là trạm Bishop 1 chỉ với 49 loài. Xét riêng 2 khu vực có thể thấy, Catwick (với 111 loài) là khu vực có số oài cao hơn khu vực Bishop (với 93 loài). So sánh theo từng họ lại cho thấy tổng số họ ở hai khu vực à như nhau (cùng có 26 họ) tuy nhiên khu vực Catwick có số giống nhiều hơn so với khu vực Bishop (nhiều hơn giống) (bảng ). Như vậy có thể thấy, khu vực rạn ngầm Bishop kém đa dạng hơn so với rạn san hô ven đảo đá ở khu vực Catwick. Điều này có thể do rạn san hô khu vực bãi ngầm khá bằng phẳng độ phủ san hô sống khá thấp (trung bình 17,9 %) và độ phủ đá khá thấp (trung bình 15,8%); trong khi tại các rạn san hô ven đảo đá độ phủ san hô sống cao hơn (trung bình 35,4%) đồng thời lại có nhiều hang hốc và dốc đá (độ phủ của đá trung bình lên tới 41,3%) đây à điều kiện thuận lợi cho các loài cá rạn san hô kiếm ăn và ẩn náu. Xét về số ượng loài theo các họ ưu thế cho thấy, họ cá bàng chài (Labridae) và cá bướm (Chaetodontidae) tại khu vực ven đảo đá à nhiều nhất (lần ượt 22 loài và 14 loài), trong khi họ cá thia (Pomacentridae) và họ cá mó (Scaridae) nhiều nhất ở khu vực rạn ngầm (lần ượt 15 loài và 8 loài) (bảng 2). Các họ còn lại sự chênh lệch về số loài giữa hai khu vực không đáng kể. Kết quả phân tích nhóm về thành phần loài cá ghi nhận tại các trạm khảo sát cho thấy sự Mai Xuân Đạt 264 hình thành 3 tập hợp khác nhau, bao gồm sinh cư rạn ven các đảo đá (trạm Catwick 1 và Catwick 2), sinh cư rạn ngầm ở Bishop 1 và sinh cư rạn ngầm ở Bishop 2. Có thể thấy mức tương đồng của hai trạm ở khu vực Catwick là khá cao (trên 6 %) đây đều là những trạm rạn san hô ven các đảo đá nên điều kiện môi trường sống và thành phần loài cá rạn san hô ở đây cũng khá tương đồng. Riêng hai trạm của khu vực Bishop, mặc dù đều là sinh cư rạn ngầm tuy nhiên mức tương đồng giữa 2 trạm Bishop 1 và Bishop 2 là rất thấp (chỉ hơn %). Điều này có thể vì Bishop là trạm có độ sâu lớn nhất (25 m) và mật độ cá ở đây cũng thấp nhất, so với Bishop 2 lại là trạm có độ sâu thấp hơn khá nhiều (chỉ 14,5 m) và mật độ cá rạn tại đây ại cao nhất trong các trạm khảo sát, Trong khi chỉ số tương đồng của trạm Bishop 2 so với khu vực Catwick lại cao hơn ( ên đến hơn 4 %), mặc dù đây à hai sinh cư khác nhau tuy nhiên độ sâu khảo sát giữa các trạm không chênh lệch quá nhiều, dẫn đến thành phần loài ở các trạm này đều khá đa dạng và có sự tương đồng cao hơn so với trạm Bishop 1 (hình 2). Hình 2. Kết quả phân tích chỉ số giống nhau giữa các trạm khảo sát Mật đ á ạn an h Kết quả khảo sát cho thấy, mật độ trung bình tổng số của cá rạn san hô tại vùng biển ngoài khơi Bình Thuận là khá cao 1.104,9 ± 617 cá thể m2 trong đó chiếm đa số là nhóm cá có kích thước nhỏ từ 1–10 cm (với 944,4 ± 579,1 cá thể m2, chiếm 85,5%) và từ 11–20 cm (với 130,9 ± 67,7 cá thể m2, chiếm 11,8%). Nhóm cá có kích thước > 21 cm có mật độ khá thấp với hơn 21 cá thể m2 (chiếm khoảng 2,7%). Trong số các trạm khảo sát có thể thấy, mật độ cao nhất thuộc về trạm Bishop 2 với 1.696,5 cá thể m2, chủ yếu là cá có kích thước nhỏ từ 1–10 cm (1.587,0 cá thể m2 chiếm hơn %). Tiếp đến là 2 trạm khu vực Catwick (Catwick 1 và Catwick 2) với mật độ lần ượt là 1.391,0 và 1.069,0 cá thể m 2 . Trạm Bishop 1 có mật độ thấp nhất chỉ với 263,0 cá thể m2. Đối với nhóm cá có kích thước từ 21–30 cm, mật độ cao nhất thuộc về trạm Catwick 2 với 57,5 cá thể m2, trong khi ở nhóm cá kích thước > 30 cm mật độ cao nhất thuộc về trạm Catwick 1 (với 34,0 cá thể m2). Nhìn chung, mật độ của nhóm cá có kích thước lớn tại các trạm ở khu vực Catwick cao hơn so với khu vực Bishop, trong khi đó mật độ nhóm cá kích thước nhỏ cao nhất lại thuộc về trạm Bishop 2, còn trạm Bishop 1 lại là trạm có mật độ tất cả các nhóm cá thấp nhất (bảng 3). Kết quả khảo sát cũng cho thấy, mật độ trung bình tổng số của nhóm cá cảnh à khá cao 4 6 cá thể 250 m2. Cao hơn rất nhiều so với vùng biển ven bờ xung quanh đảo Cù Lao Cau (với chỉ 69,8 cá thể/500 m2) [2]. Trong đó mật độ chủ yếu thuộc về họ cá Thia (Pomacentridae: Trung bình 705 ± 549,0 cá thể 250 m2), tiếp đến là họ cá bàng chài (Labridae: Trung bình 6 6 cá thể 250m2), họ cá thù lù (Zanclidae) và họ cá bướm (Chaetodontidae) có mật độ không quá cao (lần ượt cá thể 250 m2 và 13,0 cá thể 250 m2), trong khi họ cá thiên thần (Pomacanthidae) và họ cá sơn đá (Holocentridae) có mật độ rất thấp (lần ượt 3,6 ± 1,4 và cá thể 250 m2). Trong các trạm khảo sát thì Bishop 2 là trạm có mật độ nhóm cá cảnh cao nhất và đây cũng à trạm có Cá rạn san hô trong các bãi ngầm và đảo đá 265 mật độ họ cá thia (Pomacentridae) cao nhất, trong khi Catwick 2 là trạm có mật độ họ cá bàng chài (Labridae) và cá bướm (Chaetodontidae) cao nhất. Trạm Bishop 1 là trạm có mật độ các họ cá chủ yếu trong nhóm cá cảnh rất thấp, thấp nhất trong các trạm đã khảo sát (bảng 4). ảng . Mật độ (cá thể m2) theo kích thước cá rạn san hô tại các trạm khảo sát Trạm khảo sát Nhóm kích thước Tổng 1–10 11–20 21–30 > 30 Bishop 1 207,0 53,0 3,0 0 263,0 Bishop 2 1.587,0 98,5 9,0 2,0 1.696,5 Catwick 1 1.141,5 202,5 13,0 34,0 1.391,0 Catwick 2 842,0 169,5 57,5 0 1.069,0 Trung bình ± SD 944,4 ± 579,1 130,9 ± 67,7 20,6 ± 24,9 9,0 ± 16,7 1.104,9 ± 617,0 Tỉ lệ % 85,5 11,8 1,9 0,8 100,0 ảng 4. Mật độ (cá thể 0 m2) một số họ cá cảnh chủ yếu tại các trạm khảo sát Trạm khảo sát Cá Bướm Cá Sơn đá Cá Bàng chài Cá Thiên thần Cá Thia Cá Thù lù Tổng Bishop 1 5,0 2,0 44,0 2,0 125,0 2,0 217,0 Bishop 2 21,0 7,5 86,5 4,5 1.447,5 2,5 1.580,0 Catwick 1 21,5 0,0 405,0 3,0 665,0 16,5 1.152,5 Catwick 2 35,5 11,0 147,0 5,0 582,5 31,0 849,0 Trung bình 20,8 5,1 170,6 3,6 705,0 13,0 949,6 SD 12,5 5,0 161,9 1,4 549,0 13,8 573,1 Đối với nhóm cá thực phẩm, mật độ trung bình tổng số thấp hơn nhiều so với nhóm cá cảnh với cá thể m2, tuy nhiên so với khu vực ven bờ xung quanh đảo Cù Lao Cau lại cao hơn rất nhiều (chỉ 96,9 cá thể 500 m 2 ) [2]. Trong đó mật độ cao nhất của nhóm cá thực phẩm thuộc về họ cá đuôi gai (Acanthuridae: 4 cá thể m2), tiếp đến là cá phèn (Mullidae: 44,2 ± 19,1 cá thể m2), cá mó (Scaridae: 6 cá thể m2) và cá miền (Caesionidae: cá thể m2). Các họ cá dìa (Siganidae), cá mú (Serranidae), cá đổng (Nemipteridae) và cá hè có mật độ khá thấp (mật độ trung bình chỉ từ – cá thể m2), riêng các họ cá hồng (Lutjanidae), cá kẽm (Haemulidae) mật độ cực thấp, chỉ bắt gặp một vài cá thể ở một số trạm. Trong các trạm khảo sát, mật độ nhóm cá thực phẩm cao ở các trạm khu vực Catwick, cao nhất ở trạm Catwick 1 với cá thể m2, tiếp đến là Catwick 2 với cá thể m2 và thấp nhất ở trạm Bishop 1 với chỉ 46 cá thể m2. Trong đó trạm Catwick 1 và Catwick à nơi tập trung các loài thuộc họ đuôi gai, cá phèn, cá mó và cá mú nhiều nhất. Họ cá miền có mật độ cao nhất tại trạm Bishop 1 và họ cá dìa ở trạm Bishop 2 (bảng 5). Nhìn chung, nhóm cá thực phẩm có mật độ cao và tập trung chủ yếu tại các rạn san hô ven đảo đá ở khu vực Catwick. ảng 5. Mật độ (cá thể 250 m2) một số họ cá thực phẩm tại các trạm khảo sát Trạm khảo sát Cá đuôi gai Cá miền Cá hè Cá phèn Cá đổng Cá mó Cá mú Cá dìa Tổng Bishop 1 0,0 30,0 2,0 0,0 11,0 2,0 0,0 0,0 46,0 Bishop 2 24,0 10,0 0,0 36,0 6,5 11,0 1,5 25,0 116,5 Catwick 1 109,5 12,5 4,0 66,0 0,0 27,0 10,5 0,0 238,5 Catwick 2 119,5 7,5 1,0 30,5 1,5 40,0 5,0 0,5 220,0 Trung bình 84,3 15,0 1,8 44,2 4,8 20,0 5,7 8,5 155,3 SD 52,5 10,2 1,7 19,1 5,0 16,9 4,5 14,3 90,5 Có thể thấy, mật độ trung bình cá rạn san hô trong các bãi ngầm và đảo đá ở vùng biển ngoài khơi tỉnh Bình Thuận cao hơn nhiều so với khu vực ven bờ xung quanh đảo Cù Lao Mai Xuân Đạt 266 Cau đặc biệt là mật độ các loài cá có kích thước lớn và cá có giá trị thực phẩm. Vì vậy, cần thiết phải có những định hướng, quy hoạch nhằm bảo tồn và sử dụng hợp lý giá trị nguồn lợi đa dạng sinh học của cá rạn san hô ở vùng biển này trong tương ai. Chỉ số đa dạng của quần xã cá rạn san hô Các chỉ số trong quần xã cá rạn san hô tại vùng biển ngoài khơi tỉnh Bình Thuận được thể hiện trong bảng 6. Nhìn chung, các chỉ số về đa dạng oài (H‟) độ giàu có về loài (d) và chỉ số cân bằng (J‟) của quần xã cá rạn tại 2 trạm khu vực rạn ven đảo đá Catwick à khá cao và tương đồng. Trong khi có sự chênh lệch khá rõ giữa hai trạm ở khu vực rạn ngầm Bishop. Một điều khá đặc biệt là mặc dù trạm Bishop 1 có số ượng loài thấp nhất nhưng ại có chỉ số đa dạng (H‟ = 64) và chỉ số cân bằng (J‟ = ) cao nhất trong số các trạm khảo sát, trong khi trạm Bishop 2 là trạm có mật độ cao nhất lại là trạm có chỉ số đa dạng (H‟ = ) và chỉ số cân bằng (J‟ = 4) thấp nhất. Chỉ số độ giàu có về loài cao đều thuộc về các trạm khu vực rạn ven đảo đá cao nhất là trạm Catwick 1 (d = 10,48), tiếp đến là Catwick 2 (d = 10,3), thấp nhất thuộc về trạm Bishop 1 (d = 8,61) (bảng 6). Bảng 6. Các chỉ số trong quần xã cá rạn san hô tại các trạm khảo sát STT Trạm khảo sát S N d J‟ H‟ 1 Bishop 1 49 263 8,61 0,93 3,64 2 Bishop 2 79 3393 9,59 0,40 1,75 3 Catwick 1 84 2757 10,48 0,63 2,78 4 Catwick 2 80 2138 10,30 0,66 2,90 KẾT LUẬN Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận được oài thuộc 6 giống và họ cá rạn san hô trong các rạn ngầm và xung quanh đảo đá vùng biển ngoài khơi tỉnh Bình Thuận. Trong đó có 4 oài lần đầu tiên ghi nhận cho Việt Nam bao gồm Helcogramma striata Hansen, 1986 (Tripterygiidae), Pseudanthias squamipinnis (Peters, 1855) (Serranidae), Bodianus bilunulatus (Lacepède, 1801) và Coris aygula Lacepède, 1801 (Labridae). Trong 2 khu vực khảo sát, khu vực rạn ngầm Bishop kém đa dạng hơn so với rạn san hô ven đảo đá ở khu vực Catwick, đồng thời Catwick 1 là trạm có số loài nhiều nhất và Bishop 1 là trạm có số loài ít nhất. Mật độ trung bình tổng số cá rạn san hô tại khu vực khảo sát khá cao . 4 6 cá thể m2 và chủ yếu thuộc về nhóm cá có kích thước nhỏ (chiếm 86%) và nhóm cá cảnh. Nhóm cá có kích thước > 21 cm và nhóm cá thực phẩm có mật độ thấp hơn nhiều so với nhóm cá cảnh, tuy nhiên so với khu vực ven bờ tỉnh Bình Thuận thì ở đây mật độ nhóm cá này lại cao hơn nhiều. Kết quả phân tích nhóm và chỉ số đa dạng cho thấy sự tương đồng khá rõ và chỉ số đa dạng khá cao của các trạm tại sinh cư rạn san hô ven đảo đá ở khu vực Catwick, trong khi sinh cư rạn ngầm lại có sự khác biệt giữa hai trạm Bishop 1 và Bishop 2. Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được thực hiện trong khuôn khổ: “Nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ giữa Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học Nga, mã số nhiệm vụ: QT.RU.04.02/18–19”. Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến Viện Hải dương học và Phòng Nguồn lợi Thủy sinh đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để chúng tôi hoàn thành nghiên cứu này. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Võ Sĩ Tuấn, Nguyễn Huy Yết, Nguyễn Văn Long . Hệ sinh thái rạn san hô biển Việt Nam. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, 208 tr. [2] Nguyễn Văn Long Nguyễn Hữu Phụng, Nguồn lợi cá rạn san hô xung quanh đảo Cù Lao Cau - tỉnh Bình Thuận. Tuyển tập Báo cáo Khoa học Hội nghi sinh học biển toàn quốc lần thứ I. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội. Tr. 141–151. [3] Phan Kim Hoàng, 2013. San hô cứng vùng biển Phú Quý - tỉnh Bình Thuận. Kỷ yếu Hội nghị Quốc tế “ iển Đông 20 2, Cá rạn san hô trong các bãi ngầm và đảo đá 267 Nha Trang, 12-14/9/2012. Nxb. Khoa học tự nhiên và Công nghệ. Tr. 130–140. [4] English, S., Wilkinson, C., and Baker, V., 1997. Survey manual for tropical marine resources, 2nd Edition. Australian Institute of Marine Science, 390 p. [5] Hodgson, G., Maun, L., and Shuman, C., 2004. Reef Check Survey Manual. Reef Check, Institute of the Environment, University of California, Los Angeles, CA. [6] Carcasson, R. H., 1977. A field guide to the coral reef fishes of the Indian and West Pacific Oceans. Collins London, 320 p. [7] Randall, J. E., Allen, G. R., and Steene, R. C., 1990. Fishes of the Great Barrier Reefand coral sea. The completedivers and fisherman guide to fishes. Crawford House, Bathurst Australia. [8] Ferraris Jr, C. J., 1990. Micronesian Reef Fishes; A Practical Guide to the Identification of the Coral Reef Fishes of the Tropical Central and Western Pacific. USA: Coral Graphics Production, 298 p. [9] Kuiter, R. H., 1992. Tropical reef-fishes of the western Pacific. Indonesia and Adjacent Waters. PT Gramedia Pustaka Utama, Jakarta. xiii314. [10] Allen, G. R., and Werner, T. B., 2002. Cora reef fish assessment in the „cora triang e‟of southeastern Asia. Environmental Biology of Fishes, 65(2), 209–214. [11] Allen, G. R., Steene, R., Humann, P., and DeLoach, N., 2003. Reef fish identification: tropical Pacific. New World Publications Incorporated. [12] Orsi, J. J., 1974. A check list of the marine and freshwater fishes of Vietnam. Publications of the Seto Marine Biological Laboratory, 21(3), 153–177. [13] Nguyễn Hữu Phụng, 1997. Danh mục cá biển Việt Nam, Tập 4: Bộ cá Vược (Perciformes). Nxb. Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội, 424 tr. [14] Nguyễn Hữu Phụng, 2002. Thành phần cá rạn san hô biển Việt Nam. Tuyển tập báo cáo khoa học Hội nghị khoa học “ iển Đông 2002”. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội. Tr. 274–307. [15] Nguyễn Nhật Thi, Nguyễn Văn Quân . Đa dạng sinh học và giá trị nguồn lợi cá rạn san hô biển Việt Nam. Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, 120 tr. [16] Nguyễn Văn Long . Cá rạn san hô vùng biển ven bờ Nam Trung Bộ. Tạp chí Khoa học Công nghệ biển, 9(3), 38–66. [17] Nguyễn Văn Long . Nguồn lợi cá rạn san hô vùng biển ven bờ Phú Yên. Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển, 13(1), 31–40. [18] Nguyễn Nhật Thi, Nguyễn Văn Quân 4. Đa dạng sinh học và tiềm năng nguồn lợi cá rạn san hô vùng biển quần đảo Trường Sa. Tạp chí Khoa học và Công nghệ biển, 4(4), 47–64. Mai Xuân Đạt 268 Phụ lục 1. Danh mục thành phần loài cá rạn san hô trong các bãi ngầm và đảo đá ở vùng biển ngoài khơi tỉnh Bình Thuận (Chú thích trạm khảo sát: 1: Bishop 1; 2: Bishop 2; 3: Catwick 1; 4: Catwick 2) STT Loài 1 2 3 4 STT Loài 1 2 3 4 Họ Acanthuridae 81 Thalassoma jansenii (Bleeker, 1856) + 1 Acanthurus auranticavus Randall, 1956 + + Họ Lethrinidae 2 Acanthurus blochii Valenciennes, 1835 + 82 Lethrinus nebulosus (Forsskål, 1775) + + + 3 Acanthurus mata (Cuvier, 1829) + 83 Lethrinus olivaceus Valenciennes, 1830 + 4 Acanthurus nigrofuscus (Forsskål, 1775) + + + 84 Monotaxis grandoculis (Forsskål, 1775) + 5 Acanthurus olivaceus Bloch & Schneider, 1801 + + Họ Lutjanidae 6 Ctenochaetus binotatus Randall, 1955 + + 85 Lutjanus kasmira (Forsskål, 1775) + 7 Ctenochaetus striatus (Quoy & Gaimard, 1825) + 86 Lutjanus lemniscatus (Valenciennes, 1828) + 8 Ctenochaetus strigosus (Bennett, 1828) + + Họ Microdesmidae 9 Naso hexacanthus (Bleeker, 1855) + + 87 Nemateleotris magnifica Fowler, 1938 + + 10 Naso lituratus (Forster, 1801) + + 88 Ptereleotris evides (Jordan & Hubbs, 1925) + + 11 Zebrasoma scopas (Cuvier, 1829) + Họ Monacanthidae Họ Apogonidae 89 Aluterus scriptus (Osbeck, 1765) + 12 Apogon sp + 90 Amanses scopas (Cuvier, 1829) + 13 Ostorhinchus cyanosoma (Bleeker, 1853) + + 91 Cantherhines pardalis (Rüppell, 1837) + + + 14 Ostorhinchus nigrofasciatus (Lachner, 1953) + + 92 Pervagor janthinosoma (Bleeker, 1854) + Họ Balistidae Họ Mullidae 15 Melichthys vidua (Richardson, 1845) + + + 93 Mulloidichthys vanicolensis (Valenciennes, 1831) + 26 Sufflamen chrysopterum (Bloch & Schneider, 1801) + + + + 94 Parupeneus cyclostomus (Lacepède, 1801) + + + Họ Blenniidae 95 Parupeneus multifasciatus (Quoy & Gaimard, 1825) + + + + 17 Cirripectes sp + + 96 Parupeneus pleurostigma (Bennett, 1831) + + + 18 Ecsenius bicolor (Day, 1888) + + + Họ Muraenidae 19 Ecsenius yaeyamaensis (Aoyagi, 1954) + 97 Gymnothorax sp + 20 Plagiotremus tapeinosoma (Bleeker, 1857) + + + Họ Nemipteridae Họ Caesionidae 98 Pentapodus emeryii (Richardson, 1843) + + 21 Caesio caerulaurea Lacepède, 1801 + 99 Scolopsis bilineata (Bloch, 1793) + + + + 22 Caesio cuning (Bloch, 1791) + Họ Ostraciidae 23 Pterocaesio marri Schultz, 1953 + + + 100 Ostracion meleagris Shaw, 1796 + + 24 Pterocaesio tile (Cuvier, 1830) + + Họ Pinguipedidae Họ Carangidae 101 Parapercis millepunctata (Günther, 1860) + + + + 25 Alectis ciliaris (Bloch, 1787) + Họ Plesiopidae Họ Chaetodontidae 102 Plesiops coeruleolineatus Rüppell, 1835 + Cá rạn san hô trong các bãi ngầm và đảo đá 269 26 Chaetodon adiergastos Seale, 1910 + + Họ Pomacanthidae 27 Chaetodon auriga Forsskål, 1775 + + + 103 Apolemichthys trimaculatus (Cuvier, 1831) + + 28 Chaetodon citrinellus Cuvier, 1831 + + 104 Centropyge tibicen (Cuvier, 1831) + + + + 29 Chaetodon kleinii Bloch, 1790 + + + + 105 Centropyge vrolikii (Bleeker, 1853) + + 30 Chaetodon lunula (Lacepède, 1802) + + 106 Pomacanthus imperator (Bloch, 1787) + 31 Chaetodon melannotus Bloch & Schneider, 1801 + 107 Pomacanthus semicirculatus (Cuvier, 1831) + 32 Chaetodon octofasciatus Bloch, 1787 + Họ Pomacentridae 33 Chaetodon ornatissimus Cuvier, 1831 + 108 Abudefduf vaigiensis (Quoy & Gaimard, 1825) + 34 Chaetodon speculum Cuvier, 1831 + + 109 Amphiprion clarkii (Bennett, 1830) + + 35 Chaetodon trifascialis Quoy & Gaimard, 1825 + + 110 Chromis atripectoralis Welander & Schultz, 1951 + 36 Chaetodon trifasciatus Park, 1797 + + 111 Chromis margaritifer Fowler, 1946 + + 37 Chaetodon wiebeli Kaup, 1863 + + 112 Chromis weberi Fowler & Bean, 1928 + + + 38 Chaetodon xanthurus Bleeker, 1857 + + 113 Dascyllus reticulatus (Richardson, 1846) + + + + 39 Forcipiger longirostris (Broussonet, 1782) + + 114 Dascyllus trimaculatus (Rüppell, 1829) + + + + 40 Hemitaurichthys polylepis (Bleeker, 1857) + 115 Hemiglyphidodon plagiometopon (Bleeker, 1852) + + + 41 Heniochus diphreutes Jordan, 1903 + + 116 Neoglyphidodon melas (Cuvier, 1830) + + 42 Parachaetodon ocellatus (Cuvier, 1831) + + 117 Neoglyphidodon nigroris (Cuvier, 1830) + Họ Cirrhitidae 118 Neopomacentrus cyanomos (Bleeker, 1856) + + 43 Cirrhitichthys oxycephalus (Bleeker, 1855) + + 119 Plectroglyphidodon dickii (Liénard, 1839) + 44 Paracirrhites arcatus (Cuvier, 1829) + 120 Plectroglyphidodon leucozonus (Bleeker, 1859) + Họ Gobiidae 121 Pomacentrus bankanensis Bleeker, 1854 + + 45 Istigobius sp + 122 Pomacentrus chrysurus Cuvier, 1830 + + + 46 Trimma okinawae (Aoyagi, 1949) + 123 Pomacentrus coelestis Jordan & Starks, 1901 + + + + Họ Haemulidae 124 Pomacentrus lepidogenys Fowler & Bean, 1928 + + + + 47 Plectorhinchus diagrammus (Linnaeus, 1758) + 125 Pomacentrus moluccensis Bleeker, 1853 + Họ Holocentridae 126 Pomacentrus vaiuli Jordan & Seale, 1906 + + + 48 Myripristis murdjan (Forsskål, 1775) + Họ Pseudochromidae 49 Sargocentron caudimaculatum (Rüppell, 1838) + 127 Amsichthys knighti (Allen, 1987) + 50 Sargocentron cornutum (Bleeker, 1854) + + + 128 Labracinus cyclophthalmus (Müller & Troschel, 1849) + 51 Sargocentron melanospilos (Bleeker, 1858) + Họ Scaridae Họ Labridae 129 Chlorurus capistratoides (Bleeker, 1847) + + 52 Anampses caeruleopunctatus Rüppell, 1829 + 130 Chlorurus sordidus (Forsskål, 1775) + + + 53 Anampses meleagrides Valenciennes, 1840 + 131 Scarus altipinnis (Steindachner, 1879) + 54 Bodianus axillaris (Bennett, 1832) + + + 132 Scarus flavipectoralis Schultz, 1958 + + 55 Bodianus bilunulatus (Lacepède, 1801) * + + 133 Scarus forsteni (Bleeker, 1861) + + + + 56 Cheilinus chlorourus (Bloch, 1791) + + 134 Scarus niger Forsskål, 1775 + Mai Xuân Đạt 270 57 Cheilio inermis (Forsskål, 1775) + 135 Scarus oviceps Valenciennes, 1840 + + + + 58 Coris aygula Lacepède, 1801 * + 136 Scarus psittacus Forsskål, 1775 + 59 Coris batuensis (Bleeker, 1856) + 137 Scarus rubroviolaceus Bleeker, 1847 + + 60 Coris gaimard (Quoy & Gaimard, 1824) + + + Họ Scorpaenidae 61 Gomphosus varius Lacepède, 1801 + 138 Scorpaenodes sp + 62 Halichoeres hortulanus (Lacepède, 1801) + + Họ Serranidae 63 Halichoeres melanochir Fowler & Bean, 1928 + + 139 Aethaloperca rogaa (Forsskål, 1775) + + 64 Halichoeres nebulosus (Valenciennes, 1839) + 140 Cephalopholis argus Schneider, 1801 + 65 Halichoeres prosopeion (Bleeker, 1853) + 141 Cephalopholis urodeta (Forster, 1801) + + 66 Hemigymnus fasciatus (Bloch, 1792) + + 142 Grammistes sexlineatus (Thunberg, 1792) + 67 Hemigymnus melapterus (Bloch, 1791) + 143 Plectropomus maculatus (Bloch, 1790) + 68 Labroides bicolor Fowler & Bean, 1928 + 144 Pseudanthias squamipinnis (Peters, 1855) * + + 69 Labroides dimidiatus (Valenciennes, 1839) + + + + Họ Siganidae 70 Macropharyngodon meleagris (Valenciennes, 1839) + + + 145 Siganus canaliculatus (Park, 1797) + + 71 Oxycheilinus digramma (Lacepède, 1801) + + 146 Siganus guttatus (Bloch, 1787) + 72 Oxycheilinus unifasciatus (Streets, 1877) + + + Họ Synodontidae 73 Pseudocheilinus hexataenia (Bleeker, 1857) + + + 147 Synodus binotatus Schultz, 1953 + 74 Pseudocheilinus evanidus Jordan & Evermann, 1903 + Họ Tetraodontidae 75 Pseudojuloides cerasinus (Snyder, 1904) + + 148 Arothron nigropunctatus (Bloch & Schneider, 1801) + + 76 Stethojulis bandanensis (Bleeker, 1851) + + 149 Canthigaster valentini (Bleeker, 1853) + + 77 Thalassoma amblycephalum (Bleeker, 1856) + + + + Họ Tripterygiidae 78 Thalassoma lunare (Linnaeus, 1758) + + + 150 Helcogramma striata Hansen, 1986 * + 79 Thalassoma lutescens (Lay & Bennett, 1839) + + Họ Zanclidae 80 Thalassoma quinquevittatum (Lay & Bennett, 1839) + + 151 Zanclus cornutus (Linnaeus, 1758) + + + + Tổng 151 49 79 84 80 Ghi chú: * Loài mới ghi nhận cho Việt Nam. Cá rạn san hô trong các bãi ngầm và đảo đá 271 Phụ lục 2. Hình ảnh về các loài mới ghi nhận cho Việt Nam tại các trạm khảo sát Loài Bodianus bilunulatus (Lacepède ) tại trạm Catwick Loài Coris aygula Lacepède tại trạm Catwick Loài Pseudanthias squamipinnis (Peters, 185 ) tại trạm Catwick Loài Helcogramma striata Hansen, 1986 tại trạm Catwick

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfcoral_reef_fishes_in_the_banks_and_rocky_islands_in_the_offs.pdf