Đối với hóa chất NaNO2, tương tự như trên,
cá khi được giải độc có hàm lượng xyanua tích
lũy giảm đi rất nhiều so với cá chưa được giải
độc (p < 0,05). HLTB xyanua của cá được giải
độc ngay sau khi bị nhiễm (11,47 ± 0,41 µg/kg)
và giải độc sau 1 giờ (HLTB xyanua 16,25 ±
0,63 µg/kg) được xem như tương đương về mặt
thống kê, tuy nhiên hiệu quả giải độc theo 2
thời điểm này lại có sự sai khác đáng kể khi so
sánh với HLTB xyanua ở cá được giải độc sau
24 giờ (35,53 ± 1,95 µg/kg).
Xu hướng này được quan sát tương tự đối
với hóa chất Hydroxocobalamin. HLTB xyanua
của cá được giải độc có sự sai khác đáng kể so
với cá chưa giải độc (p < 0,05). Cụ thể, HLTB
xyanua có trong cá được giải độc ngay sau bị
nhiễm (5,14 ± 1,48 µg/kg) và sau 1 giờ (12,68
± 2,55 µg/kg) không có sự khác biệt thống kê.
Việc giải độc sau 24 giờ làm HLTB xyanua
trong cá suy giảm còn 36,96 ± 1,42 µg/kg,
nhưng cao hơn đáng kể so HLTB xyanua ở cá
được giải độc ngay sau bị nhiễm và sau 1 giờ.
Tỉ lệ sống của cá
Tỉ lệ sống của cá chưa và được giải độc
bằng hình thức ngâm được trình bày trong
bảng 5.
Qua bảng 5, chúng tôi nhận thấy tỉ lệ sống
của cá được giải độc cao hơn hẳn (60–100%)
so với cá chưa được giải độc (30–40%). Tuy
nhiên tỉ lệ sống của cá được giải độc theo thời
điểm khi ngâm Na2S2O3 (giải độc sau khi phơi
nhiễm, sau 1 giờ và sau 24 giờ) được xem là
tương đương nhau qua 2 lần theo dõi thí
nghiệm do số liệu không có sự chênh lệch.
Cũng vậy đối với 2 hóa chất còn lại, hiệu quả
của việc giải độc theo thời điểm được xem là
như nhau do tỉ lệ sống của cá không có sai khác
đáng kể.
Kết quả thu được cho thấy hình thức ngâm
cả 3 loại hóa chất được xem là phù hợp, có thể
sử dụng trong những tình huống giải độc muộn,
chưa kịp thời với cá bị nhiễm xyanua (sau phơi
nhiễm 1 ngày), giúp tăng tỉ lệ sống của cá.
12 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 3 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Cyanide detoxification efficiency of injection and soak of hydroxocobalamin, sodium nitrite and sodium thiosulfate for sea water ornamental fish, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
139
Vietnam Journal of Marine Science and Technology; Vol. 19, No. 4A; 2019: 139–150
DOI: https://doi.org/10.15625/1859-3097/19/4A/14588
https://www.vjs.ac.vn/index.php/jmst
Cyanide detoxification efficiency of injection and soak of
hydroxocobalamin, sodium nitrite and sodium thiosulfate for sea water
ornamental fish
Le Ho Khanh Hy
*
, Pham Xuan Ky,
Dao Viet Ha, Nguyen Phƣơng Anh, Phan Bao Vy,
Doan Thi Thiet, Dang Tran Tu Tram
Institute of Oceanography, VAST, Vietnam
*
E-mail: lehokhanhhy@gmail.com
Received: 30 July 2019; Accepted: 6 October 2019
©2019 Vietnam Academy of Science and Technology (VAST)
Abstract
The Oceanographic Museum offers interesting exhibits of several marine lives for tourist sightseeing and
entertainment. These sea water ornamental fish are all caught in the wild. However, its health can be affected
by cyanide poisoning during human fishing. Depending on the level of cyanide poisoning, fish can die after
one and two weeks that caused economic damages for the museum. The present study is concerned with
results of cyanide detoxification by using direct injection into cinnamon clownfish or soak of
hydroxocobalamin, sodium nitrite and sodium thiosulfate with the aim of improving the health, survival and
life time for fish, contributing to increasing economic efficiency for the Oceanographic Museum.
Keywords: The Oceanographic Museum, cyanide, sea water ornamental fish, detoxification, injection, soak,
hydroxocobalamin, sodium nitrite, sodium thiosulfate.
Citation: Le Ho Khanh Hy, Pham Xuan Ky, Dao Viet Ha, Nguyen Phương Anh, Phan Bao Vy, Doan Thi Thiet, Dang
Tran Tu Tram, 2019. Cyanide detoxification efficiency of injection and soak of hydroxocobalamin, sodium nitrite and
sodium thiosulfate for sea water ornamental fish. Vietnam Journal of Marine Science and Technology, 19(4A), 139–150.
140
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển, Tập 19, Số 4A; 2019: 139–150
DOI: https://doi.org/10.15625/1859-3097/19/4A/14588
https://www.vjs.ac.vn/index.php/jmst
Hiệu quả giải độc xyanua ở cá cảnh biển qua hai hình thức tiêm và ngâm
hydroxocobalamin, natri nitrit và natri thiosulfat
Lê Hồ Khánh Hỷ*, Phạm Xuân Kỳ, Đào Việt Hà, Nguyễn Phƣơng Anh, Phan Bảo Vy,
Đoàn Thị Thiết, Đặng Trần Tú Trâm
Viện Hải dương học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Việt Nam
*E-mail: lehokhanhhy@gmail.com
Nhận bài: 30-7-2019; Chấp nhận đăng: 6-10-2019
Tóm tắt
Bảo tàng Hải dương học hiện đang nuôi rất nhiều loài cá cảnh biển phục vụ nhu cầu tham quan, giải trí của
du khách. Tất cả các loài cá này đều được đánh bắt ngoài tự nhiên. Tuy nhiên sức khỏe của các loài cá thu
mua về nuôi có thể bị ảnh hưởng bởi chất độc xyanua do con người sử dụng trong quá trình đánh bắt. Cá bị
nhiễm độc xyanua, tùy mức độ, có thể chết trong vòng 1–2 tuần, gây tổn thất chi phí cho bảo tàng. Trong bài
báo này, chúng tôi trình bày kết quả thử nghiệm giải độc cá cảnh biển nhiễm xyanua qua hai hình thức giải
độc bằng cách tiêm trực tiếp hoặc ngâm tắm cho cá khoang cổ bằng các hợp chất hóa học như
hydroxocobalamin, natri nitrit, natri thiosulfat theo các thời điểm giải độc khác nhau nhằm nâng cao sức
khỏe, tỷ lệ sống và thời gian sống cho cá, góp phần làm tăng hiệu quả kinh tế cho Bảo tàng Hải dương học.
Từ khóa: Bảo tàng Hải dương học, xyanua, cá cảnh biển, giải độc, tiêm, ngâm tắm, hydroxocobalamin,
natri nitrit, natri thiosulfat.
GIỚI THIỆU
Xyanua là loại hóa chất cực độc, được hấp
thu nhanh vào cơ thể, ức chế rất nhanh và
mạnh quá trình hô hấp tế bào [1]. Nghiên cứu
lâm sàng ghi nhận nếu chỉ nhiễm lượng rất
nhỏ xyanua thì sẽ không gây ngộ độc bởi chất
này khi đi vào cơ thể sinh vật sẽ biến đổi
thành CO2 và được đào thải ra ngoài trong
vòng 24 giờ. Tuy nhiên, khi vào cơ thể với
hàm lượng lớn, xyanua được hấp thu vào máu
sẽ lấy hết oxy, gây ra hiện tượng ngạt thở,
ngăn chặn chuyển hóa năng lượng, gây buồn
nôn, mệt mỏi, co giật và có thể dẫn tới tử vong.
Liều chết của xyanua khá thấp, khoảng 0,5
mg/kg thể trọng, một người lớn có trọng lượng
khoảng 100 kg liều chết dưới 50 mg, đối với
kali xyanua là 20 mg [2].
Đối với ảnh hưởng của xyanua lên cơ thể
cá, các ion xyanua tự do có thể đi qua mang và
hoạt động như một chất ức chế ngăn cản tái
tổng hợp adenosine triphosphate (ATP) (có
chức năng vận chuyển năng lượng đến các nơi
cần thiết để tế bào sử dụng) trong sợi trục thần
kinh [3]. Xyanua sau đó đi vào máu và tích lũy
ở một số bộ phận cơ thể cá. Xyanua có thể cản
trở sự trao đổi oxy qua việc ức chế hệ thống
enzyme chính như cytochrome oxidase-enzyme
quan trọng cho phép cơ thể sử dụng oxy trong
việc tạo ra năng lượng, làm suy giảm khả năng
vận chuyển oxy của hemoglobin trong máu và
ngăn chặn con đường enzyme trong gan và
chức năng enzyme, cuối cùng làm cá chết. Các
nghiên cứu của những năm 1980 cho rằng
xyanua có thể gây tử vong cho cá trong vòng
96 giờ ở nồng độ > 0,1–0,3 mg/l [4]. Nếu cá
không chết trong vòng 96 giờ thì có thể chết ở
những ngày sau đó [5]. Nếu cá tiếp xúc một
khoảng thời gian dài với nồng độ 0,005–0,01
Hiệu quả giải độc xyanua ở cá cảnh biển
141
mg/l axit xianhidric (HCN) sẽ có nhiều tác
dụng phụ trên trứng cá, cá bột và cá trưởng
thành như giảm tăng trưởng, giảm khả năng bơi
lội, ức chế sinh sản do thay đổi chuyển hóa
lipid [5]; gây thiệt hại cho các cơ quan sinh sản
[6]; giảm khả năng sinh nở thành công và tỷ lệ
sống [7]. Gần đây, một vài nghiên cứu cho thấy
xyanua tự do ở nồng độ > 5 µg/l có thể gây tác
động tiêu cực đến việc bơi lội và sinh sản của
cá nước ngọt. Trong khi ở nồng độ > 20 µg/l,
xyanua gây tử vong cá với tỷ lệ cao [8, 9]. Tuy
nhiên, nhờ cơ chế tự chuyển hóa bởi enzyme,
cá phơi nhiễm xyanua ở nồng độ thấp trong
thời gian ngắn có thể tự hồi phục sau một thời
gian nhất định [10]. Đối với cá nhiễm độc
xyanua tương đối nặng, cơ thể không thể tự đào
thải toàn bộ mà cần có sự giải độc kịp thời để
chuyển hóa và đào thải lượng xyanua độc trong
cơ thể, giúp tăng khả năng sống sót và thời gian
sống của cá.
Hiện tại nguồn cá cảnh nuôi tại Bảo tàng
Hải dương học được thu mua từ ngư dân, có thể
bị đánh bắt bằng xyanua nên tỷ lệ sống khá
thấp. Bảo tàng cũng chưa có phương pháp giải
độc xyanua cho cá một cách hiệu quả. Phương
pháp giải độc xyanua thường được áp dụng trên
người qua con đường chuyển hóa và trung hòa
xyanua sử dụng các chất hóa học với cơ chế
sau (hình 1): 1) Hợp chất hydroxocobalamin
kết hợp với xyanua tạo thành cyanocobalamin
ít độc, ổn định, và được thải ra qua nước tiểu;
2) Thiosulfat giải phóng sulfur trong phản ứng
với rhodanese chuyển xyanua thành
thiocyanate, tan trong nước và được đào thải ra
nước tiểu; 3) Muối nitrit làm thay đổi vị trí gắn
của xyanua, cạnh tranh trực tiếp với vị trí gắn
của phức hợp xyanua gắn với methemoglobin
tạo thành cyanomethemoglobin ít độc hơn; và
4) Dicobalt edetate có khả năng gắn kết phức
chất với xyanua, tạo thành phức bền vững với
xyanua, ít độc hơn và được đào thải qua đường
nước tiểu. Tuy nhiên hoạt chất này chỉ dùng
trong trường hợp nhiễm xyanua nghiêm trọng.
Thêm vào đó, oxy điều trị phối hợp cùng
với thuốc giải độc có hiệu quả trong ngộ độc
xyanua, làm tăng vận chuyển xyanua từ tổ chức
vào máu làm tăng đào thải, cải thiện hô hấp và
giảm lactat trong não.
Hình 1. Cơ chế chuyển hóa xyanua thành các chất ít độc hơn [11]
Trong nghiên cứu này, chúng tôi trình bày
kết quả thử nghiệm giải độc cá cảnh biển nhiễm
xyanua qua hai hình thức giải độc bằng cách
tiêm trực tiếp hoặc ngâm tắm cho cá khoang cổ
bằng các hợp chất hóa học nêu trên
(Hydroxocobalamin, natri nitrit, natri
thiosulfat) theo các thời điểm giải độc khác
nhau nhằm nâng cao sức khỏe, tỷ lệ sống và
thời gian sống cho cá, góp phần làm tăng hiệu
quả kinh tế cho Bảo tàng Hải dương học.
Lê Hồ Khánh Hỷ và nnk.
142
VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
Vật liệu nghiên cứu
Hóa chất: NaCN (Merck),
Hydroxocobalamin (Wako), Natri nitrite
(Wako), Natri thiosulfate(Wako).
Đối tượng nghiên cứu: Cá khoang cổ
Amphiprion clarkii được thu mua từ ngư dân
đánh bắt bằng hình thức vớt lưới. Loài cá này
được chọn lựa làm mô hình nghiên cứu vì
chúng dễ đánh bắt và có số lượng lớn, đáp ứng
nhu cầu thử nghiệm. Cá sau khi mua về được
nuôi khoảng 2 tuần trong các bể nước lọc tuần
hoàn có sục khí dung tích 100 l, chế độ ăn
hằng ngày là tép nhỏ. Sau thời gian này, cá
được ổn định sức khỏe, sử dụng để thực hiện
các thí nghiệm.
Hình 2. Hình thái ngoài cá khoang cổ
Amphiprion clarkii
Phƣơng pháp nghiên cứu
Bố trí thí nghiệm lựa chọn nồng độ phơi
nhiễm xyanua
Bố trí các bể 30 l có nồng độ 0,25; 0,4; 0,5;
0,75; 1; 1,5 mg NaCN/l nước biển, cho 10 cá
thể cá vào mỗi bể trong vòng 2 giờ. Dựa vào
các dấu hiệu như cá bơi lội bất thường,
tăng động, tư thế mất cân bằng, bơi lên bề mặt
bể, bơi trải ra và chiếm thể tích nước khoảng
gấp đôi so với nhóm đối chứng không nhiễm
xyanua [12] để xác định dấu hiệu cá nhiễm
xyanua. Ngoài ra, màu sắc gan, mang cá khi bị
nhiễm xyanua được so sánh với cá đối chứng
không bị nhiễm.
Lặp lại thí nghiệm 3 lần, theo dõi tỉ lệ sống
của cá phơi nhiễm trong 2 tuần và tính toán liều
gây chết 50% Lethal Dose 50 (LD50). LD50
được tính toán thông qua phương trình xây
dựng từ trung bình tỉ lệ sống (%) và nồng độ
xyanua trong nước biển (sử dụng phần mềm
Excel 2013).
Sử dụng nồng độ LD50 này để gây độc cho
cá trong các thử nghiệm giải độc tiếp theo.
Bể đối chứng 20 l được bố trí nuôi 10 cá
thể khoang cổ tự nhiên trong suốt thời gian thử
nghiệm giải độc.
Bố trí thí nghiệm thử nghiệm giải độc xyanua
Đánh giá hiệu quả giải độc thông qua hai hình
thức giải độc tiêm và ngâm
Các cá thể cá khoang cổ nhiễm xyanua
được sục oxy cho đến khi hồi tỉnh khoảng 3–5
phút trong bể có dung tích 20 l, sau đó được
đưa vào thử nghiệm. Cá được dùng thử
nghiệm: Cá nhiễm xyanua hồi tỉnh sau 30 s, sau
1 giờ và sau 24 giờ.
Một số cá thể khoang cổ (n = 3) bị nhiễm
được dùng để xác định hàm lượng xyanua tích
lũy trong cơ thể. Hàm lượng xyanua được phân
tích theo TCVN 6648:2000 [13] và
TCVN10497:2015 [14]. Kết quả này dùng để
tính toán hàm lượng hóa chất sử dụng để giải
độc cá khoang cổ.
Hai hình thức giải độc được áp dụng là tiêm
vào cơ thể cá hóa chất giải độc và ngâm tắm
cho cá với hóa chất trong nước biển (hình 3).
Thí nghiệm 1: Thử nghiệm giải độc
xyanua cho cá bằng hydroxocobalamin
Thử nghiệm 1.1: Tiêm hydroxocobalamin
vào cơ thể cá
Chọn 13 cá thể cá khoang cổ đã bị phơi
nhiễm xyanua có trọng lượng từ 5 g trở lên.
Tiêm trực tiếp 0,1 ml dung dịch hóa chất
hydroxocobalamin vào cơ thể mỗi cá thể với
liều thích hợp (32 µg/liều) để trung hòa hàm
lượng xyanua tích lũy.
Cá thí nghiệm được nuôi trong bể dung
tích 20 l nước biển có sục oxy. Sau 24 giờ, lấy
3 cá thể để xác định hàm lượng xyanua tích lũy
còn lại trong cơ thể cá. Số cá còn lại (10 con)
được tiếp tục nuôi 4 tuần để theo dõi tỉ lệ sống.
Thử nghiệm 1.2: Ngâm dung dịch
hydroxocobalamin cho cá
Tương tự thí nghiệm trên, chọn 13 cá thể
cá khoang cổ đã bị phơi nhiễm xyanua có trọng
lượng từ 5 g trở lên. Ngâm trực tiếp cá trong
nước biển có chứa hydroxocobalamin (32 mg/l
nước biển) 45 phút để trung hòa hàm lượng
xyanua tích lũy trong cơ thể.
Hiệu quả giải độc xyanua ở cá cảnh biển
143
Thí nghiệm 2: Thử nghiệm giải độc
xyanua cho cá bằng natri thiosulfat
Thử nghiệm 2.1: Tiêm vào cơ thể cá liều
0,1 ml dung dịch hóa chất natri thiosulfat (3,63
µg/liều).
Thử nghiệm 2.2: Ngâm tắm cho cá 45
phút (hàm lượng natri thiosulfat 3,63 mg/l nước
biển) được bố trí tượng tự như thí nghiệm 1.
Thí nghiệm 3: Thử nghiệm giải độc
xyanua cho cá bằng natri nitrit
Thử nghiệm 3.1: Tiêm vào cơ thể cá liều
0,1 ml dung dịch hóa chất natri nitrit (4,76
µg/liều).
Thử nghiệm 3.2 Ngâm tắm cho cá 45 phút
(hàm lượng natri nitrit 4,76 mg/l nước biển)
được bố trí tượng tự như thí nghiệm 1.
Các thử nghiệm giải độc được lặp lại lần 2
(ngay sau khi thí nghiệm lần 1 kết thúc) để
đánh giá tỉ lệ sống.
Thông qua số liệu tỉ lệ sống và hàm lượng
xyanua tích lũy trong cơ thể cá, đánh giá hiệu
quả giải độc xyanua của 2 cách thức để lựa
chọn hình thức tiêm hoặc ngâm tắm
hydroxocobalamin, natri thiosulfat và natri
nitrit.
Hình 3. Sơ đồ mô tả phương pháp giải độc xyanua cho cá: a) Ngâm tắm cho cá với nồng độ hóa
chất thích hợp trong nước biển và b) Tiêm vào cơ thể cá liều hóa chất giải độc
Lê Hồ Khánh Hỷ và nnk.
144
Hình 3. Sơ đồ mô tả phương pháp giải độc xyanua cho cá: a) Ngâm tắm cho cá với nồng độ hóa
chất thích hợp trong nước biển và b) Tiêm vào cơ thể cá liều hóa chất giải độc (tiếp)
Đánh giá hiệu quả giải độc cho cá nhiễm
xyanua theo thời điểm giải độc
Thông qua số liệu tỉ lệ sống và hàm lượng
xyanua tích lũy trong cơ thể cá ở các thí
nghiệm trên, đánh giá hiệu quả giải độc xyanua
theo thời điểm giải độc (ngay sau khi nhiễm,
nhiễm sau 1 giờ và sau 24 giờ) bằng hình thức
giải độc được cho là tốt hơn.
Xử lý số liệu
Hàm lượng xyanua tích lũy trong cá
khoang cổ (µg/kg) được thể hiện bằng giá trị
trung bình ± SE. Sự sai khác hàm lượng
xyanua trong các mẫu nghiên cứu trong cùng
lô theo hình thức tiêm hoặc ngâm được thực
hiện bằng phép ANOVA một chiều, tiếp theo
bằng Tukey test. Sự sai khác hàm lượng độc tố
giữa 2 lô cùng giải độc bằng một loại hóa chất
giữa hình thức tiêm và ngâm được phân tích
bằng Student T-test.
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Dấu hiệu cá nhiễm xyanua
Sau khi cân đo 10 cá thể cá khoang cổ,
trọng lượng và kích thước trung bình lần lượt là
6,00 ± 2,45 g; 4,24 ± 0,90 cm.
Hiệu quả giải độc xyanua ở cá cảnh biển
145
Sau khi phơi nhiễm 10 cá thể cá khoang cổ
ở các nồng độ khác nhau 0,25; 0,4; 0,5; 0,75; 1;
1,5 mg NaCN/l nước biển, quan sát dấu hiệu
bất thường so với cá đối chứng. Ở nồng độ 0,25
mg NaCN/l nước biển, cá bơi bình thường,
không có biểu hiện bất thường nào trong
khoảng thời gian ngâm 2 giờ. Đối với các nồng
độ 0,4; 0,5; 0,75; 1; 1,5 mg NaCN/l nước biển,
sau 2–3 phút, tất cả các cá thể cá đều có dấu
hiệu bơi lội bất thường, tăng động, tư thế mất
cân bằng, đớp nước liên tục, bơi lên bề mặt bể,
bơi trải ra và chiếm thể tích nước khoảng gấp
đôi so với nhóm đối chứng không nhiễm
xyanua. Ở các nồng độ cao như 1 mg NaCN/l
và 1,5 mg NaCN/l nước biển, cá có biểu hiện
sốc, đớp nước liên tục, nhanh và tăng động
nhiều hơn so với các nồng độ thấp.
Nồng độ phơi nhiễm xyanua
Lô đối chứng gồm 10 con được nuôi trong
bể nước tuần hoàn có tỉ lệ sống 100% trong quá
trình thí nghiệm. Sau 2 tuần theo dõi tỉ lệ sống
của cá khoang cổ bị nhiễm xyanua (bảng 1), ở
các nồng độ thấp là 0,25; 0,4; 0,5 mg NaCN/l
nước biển, tỉ lệ cá sống trung bình vào khoảng
40–73%. Ở nồng độ cao hơn là 0,75 mg
NaCN/l nước biển, chỉ 33% cá có thể tự hồi
phục; và đối với nồng độ lớn hơn là 1 mg
NaCN/L và 1,5 mg NaCN/L nước biển, không
có cá thể nào có thể sống sót trong 2 tuần
(bảng 1). Kết quả này cho thấy sự tương đồng
khi so sánh với các nghiên cứu trước đây:
Xyanua có thể gây tử vong cho cá trong vòng
96 giờ ở nồng độ lớn hơn từ 0,1–0,3 mg/l [4],
nếu cá không chết trong vòng 96 giờ thì có thể
chết ở những ngày sau đó [5] và có tỉ lệ nhất
định các cá thể cá có thể tự hồi phục do cơ chế
enzyme khi phơi nhiễm ở nồng độ thấp [10].
Dựa vào đồ thị trên hình 4, giá trị R2 =
0,9202 thể hiện mối tương quan nghịch chặt
chẽ giữa tỉ lệ sống (%) của cá khoang cổ và
nồng độ CN (mg/l nước biển), nồng độ xyanua
càng cao thì tỉ lệ sống của cá phơi nhiễm càng
thấp. Và giá trị LD50 - liều gây chết trung bình
50% cá khoang cổ được tính toán thông qua
phương trình này là 0,398 mg/l nước biển. Do
đó, nồng độ LD50 = 0,398 mg NaCN/l nước
biển được lựa chọn để phơi nhiễm cá sử dụng
cho các thí nghiệm tiếp theo.
Bảng 1. Tỉ lệ cá có dấu hiệu nhiễm xyanua theo các nồng độ khác nhau
Nồng độ CN (mg/l
nước biển)
Thời gian phơi nhiễm
(phút)
Số cá có dấu hiệu nhiễm
xyanua (%)
Tỉ lệ sống của cá sau 2 tuần
(%)
0,25 120 0 73,33 ± 5,77
0,4 4 100 43,33 ±11,54
0,5 4 100 40 ± 10
0,75 4 100 33,33 ± 5,77
1 4 100 0
1,5 4 100 0
Hình 4. Đồ thị biễu diễn tương quan giữa tỉ lệ sống trung bình (%) của cá khoang cổ
và nồng độ CN (mg/l nước biển) gây phơi nhiễm cho cá
Lê Hồ Khánh Hỷ và nnk.
146
Hình 5 cho thấy gan và mang của 3 cá thể
cá khoang cổ bị phơi nhiễm ở nồng độ 0,398
mg NaCN/l nước biển so sánh với cá thể đối
chứng không bị nhiễm xyanua. Sau khi chết đi,
gan cá bị nhiễm xyanua có màu nâu sậm, màu
sắc không tươi sáng so với cá đối chứng. Sự
thay đổi màu sắc gan cho thấy xyanua đã xâm
nhập và ngăn chặn chức năng enzyme ATPase
trong gan, cuối cùng làm cá chết [12]. Trong
khi đó, không có sự thay đổi rõ rệt về màu sắc
của mang cá nhiễm và không nhiễm xyanua.
Hình 5. Gan và mang cá bị phơi nhiễm ở nồng độ 0,398 mg NaCN/l nước biển
so sánh với cá đối chứng
Hiệu quả giải độc qua hai hình thức tiêm và
ngâm
Hàm lượng xyanua tích lũy trong cơ thể cá
Hàm lượng xyanua tích lũy trong cơ thể cá
được trình bày trong bảng 2.
Ngay sau khi bị phơi nhiễm ở nồng độ
0,398 mg NaCN/L, xyanua tích lũy trong cá
khoang cổ có hàm lượng 66,57 ± 12,42 µg/kg.
Khi tiêm trực tiếp hóa chất vào cơ thể cá để
giải độc, lượng hóa chất tiêm vào được dựa
vào nồng độ mol CN- và nồng độ mol hóa chất
giải độc. Đối với natri thiosulfate, tỉ lệ mol
CN
–
/S2O3
2– là 1:1 theo phương trình (1) để giải
phóng thiocyanate ít độc hơn.
2 2
2 3 3CN S O SCN SO
(1) [15]
Đối với natri nitrit, muối nitrit cạnh tranh
trực tiếp với vị trí gắn của phức hợp xyanua
với methemoglobin tạo thành cyanome-
themoglobin ít độc hơn, tỉ lệ mol của CN–
/NO2
–
= 1:3 được sử dụng để giải độc xyanua
vì muối nitrit được cho rằng cạnh tranh tạo
methemoglobin trung gian với tốc độ chậm
[16]. Trong khi đó, hydroxocobalamin tham
gia chuyển hóa xyanua ức chế enzyme
cytochrome oxidase thành cyanocobalamin ít
độc hơn với tỉ lệ mol CN–/hydroxocobalamin
= 1:1 theo phương trình (2):
(2) [16]
Bảng 2. Hàm lượng xyanua tích lũy trong cơ thể cá chưa giải độc và sau khi sử dụng hai hình thức
giải độc tiêm và ngâm với các loại hóa chất khác nhau
a) Bảng số liệu
Chưa giải
độc
Sử dụng hóa chất
Na2S2O3
Sử dụng hóa chất
NaNO2
Sử dụng hóa chất
hydroxocolabamin
Hàm lượng
xyanua tích lũy
(µg/kg)
66,57 ±
12,42
Tiêm Ngâm Tiêm Ngâm Tiêm Ngâm
27,88 ±
4,68a
7,33 ±
0,88b
38,74 ±
4,54a
11,47 ±
0,41b
25,18 ±
6,67a
5,14 ± 1,48b
p = 0,009 p = 0,004 p = 0,01
Hiệu quả giải độc xyanua ở cá cảnh biển
147
b) Đồ thị biểu diễn
Ghi chú: Các chữ cái a, b,c biểu thị sự sai khác có ý nghĩa của giá trị trung bình hàm lượng xyanua
trong mỗi hình thức giải độc (p < 0,05, Tukey test)
Đối với lượng hóa chất ngâm, tỉ lệ hàm
lượng hóa chất cho vào ngâm cá bị phơi nhiễm
trong 45 phút được tính toán gấp 10 lần lượng
tiêm/l nước biển, cụ thể đối với Na2S2O3, hàm
lượng hóa chất là 3,63 mg/l nước biển; với
NaNO2 là 4,76 mg/l nước biển và
hydroxocobalamin là 32 mg/l nước biển.
Theo bảng 2, cá sau khi phơi nhiễm xyanua
ở nồng độ được lựa chọn (0,388 mg/l nước
biển) có hàm lượng 66,57±12,42 µg xyanua/kg.
Sau 24h sử dụng hai hình thức giải độc tiêm và
ngâm với các loại hóa chất khác nhau, hàm
lượng xyanua tích lũy trong cơ thể cá giảm đi
khi so sánh với cá đối chứng không giải độc.
Cụ thể, khi giải độc bằng cách tiêm và ngâm cá
sử dụng Na2S2O3, hàm lượng xyanua còn lại
trong cá khoang cổ có sự sai khác đáng kể giữa
2 hình thức, với giá trị 7,33±0,88 µg/kg bằng
hình thức ngâm và 27,88±4,68 µg/kg bằng hình
thức tiêm (p < 0,05). Tương tự đối với NaNO2
và hydroxocobalamin, hàm lượng độc tố
xyanua còn lại ở cá giải độc bằng hình thức
ngâm thấp hơn đáng kể so với hình thức tiêm
(p < 0,05).Ngoài ra, đối với hình thức tiêm,
hàm lượng trung bình (HLTB) xyanua của cá
chưa được giải độc và của cá được giải độc
bằng hình thức tiêm với 3 loại hóa chất khác
nhau có sự sai khác đáng kể (p = 0,0007 <
0,05). Tuy nhiên, mặc dù hàm lượng xyanua
còn lại khi sử dụng hydroxocobalamin giải độc
là nhỏ nhất, 25,18 ± 6,67 µg/kg so với 2 loại
hóa chất khác, phép thống kê Tukey test lại cho
thấy không có sự khác nhau đáng kể (p > 0,05).
Tương tự, có sự sai khác đáng kể giữa
HLTB ban đầu chưa được giải độc và giải độc
bằng hình thức ngâm với 3 loại hóa chất (giá trị
p rất nhỏ 5,53E-6). Ở đây xu hướng diễn biến
tương tự như hình thức tiêm: Sau khi ngâm giải
độc cá bằng hydroxocobalamin, hàm lượng độc
tố còn lại cũng có giá trị thấp nhất trong ba loại
hóa chất, 5,14 ± 1,48 µg/kg; tuy nhiên phép
thống kê Tukey test cho thấy không có sự khác
nhau đáng kể p > 0,05 giữa hàm lượng xyanua
tích lũy trong cơ thể cá khi ngâm giải độc bằng
ba loại hóa chất này.
Thông qua các số liệu về hàm lượng
xyanua ở trên cho thấy cá được giải độc xyanua
bằng cả 2 hình thức tiêm và ngâm có hàm
lượng xyanua giảm, hình thức ngâm các loại
hóa chất khác nhau cho cá bị nhiễm xyanua phù
hợp hơn hình thức tiêm.
Tỉ lệ sống của cá
Tỉ lệ sống của cá được giải độc bằng các
loại hóa chất khác nhau được trình bày trong
bảng 3. Lô đối chứng gồm 10 con được nuôi
trong bể nước tuần hoàn có tỉ lệ sống 90%
trong 4 tuần.
Lê Hồ Khánh Hỷ và nnk.
148
Sau khi giải độc bằng 2 hình thức tiêm và
ngâm, cá được nuôi để theo dõi tỉ lệ sống trong
vòng 4 tuần. Sau 4 tuần theo dõi, cá không
được giải độc có tỉ lệ sống từ 30–40%. Trong
khi đó, khi giải độc bằng hình thức tiêm và
ngâm cá sử dụng các loại hóa chất khác nhau, tỉ
lệ cá sống khi ngâm (60–80%) có xu hướng cao
hơn đáng kể so với tiêm trực tiếp hóa chất vào
cá (30–50%).
Đối với hình thức tiêm, giá trị tỉ lệ sống của
cá chưa được giải độc và của cá được giải độc
qua hai lần thử nghiệm với 3 loại hóa chất khác
nhau không có sự sai khác đáng kể (tỉ lệ sống
theo dõi vào khoảng 30–50%). Ngược lại, với
hình thức ngâm, cá được giải độc bằng 3 loại
hóa chất khác nhau có tỉ lệ sống cao hơn (từ
60–80%) so với cá đối chứng không giải độc
(30–40%).
Số liệu về tỉ lệ sống của cá được giải độc ở
trên cho thấy, cá sau khi được giải độc xyanua
bằng hình thức ngâm 3 loại hóa chất khác
nhau có tỉ lệ sống cao hơn so với cá không
được giải độc.
Như vậy, hình thức ngâm cá bị nhiễm
xyanua bằng các loại hóa chất khác nhau đã
cho thấy hiệu quả giải độc, hàm lượng xyanua
sau 24 giờ giảm hẳn so với hàm lượng xyanua
trong cá đối chứng không giải độc, tỉ lệ sống
của cá được giải độc cao hơn so với cá không
giải độc.
Bảng 3. Tỉ lệ sống của cá chưa và được giải độc sau hai lần thử nghiệm trong 4 tuần
sử dụng hai hình thức giải độc tiêm và ngâm với các loại hóa chất khác nhau
Chưa giải độc
Sử dụng hóa chất
Na2S2O3
Sử dụng hóa chất
NaNO2
Sử dụng hóa chất
hydroxocolabamin
Tỉ lệ sống (%) 30
Tiêm Ngâm Tiêm Ngâm Tiêm Ngâm
30 60 40 60 40 60
40 30 70 40 80 50 60
Hiệu quả giải độc theo thời điểm
Do hình thức ngâm có hiệu quả cao hơn so
với hình thức tiêm, giúp làm giảm hàm lượng
xyanua so với cá bị nhiễm độc và làm tăng tỉ
lệ sống của cá nên chúng tôi đã thử nghiệm
giải độc theo các thời điểm khác nhau (ngay
sau khi phơi nhiễm hồi tỉnh 30 s, sau 1 giờ và
sau 24 giờ) cho cá bằng cách ngâm các hóa
chất khác nhau.
Hàm lượng xyanua tích lũy trong cơ thể cá
Hàm lượng xyanua trước và sau khi giải
độc bằng hình thức ngâm các loại hóa chất
khác nhau theo thời điểm giải độc: Giải độc
ngay sau khi phơi nhiễm, sau 1 giờ và sau 24
giờ được thể hiện ở bảng 4.
Khi ngâm hóa chất Na2S2O3, ở đây có sự sai
khác đáng kể giữa HLTB xyanua tích lũy trong
cá chưa giải độc và được giải độc (p < 0,05). Cụ
thể, hàm lượng xyanua ở cá được giải độc giảm
đáng kể so với cá chưa giải độc (66,57 ± 12,42
µg/kg), thấp nhất khi giải độc ngay sau bị nhiễm
(7,33 ± 0,88 µg/kg) (p < 0,05). Việc giải độc sau
1 giờ khi ngâm Na2S2O3 cũng làm hàm lượng
độc tố tích lũy suy giảm, còn 27,75 ± 2,87 µg/kg,
nhưng không sai khác đáng kể so với HLTB
xyanua trong cá được giải độc sau 24 h (40,51 ±
2,08 µg/kg).
Bảng 4. Hàm lượng xyanua tích lũy trong cơ thể cá chưa giải độc
và sau khi sử dụng hình thức giải độc ngâm theo thời điểm
Hàm lượng xyanua (µg/kg)
Chưa giải độc 66,57 ± 12,42
Ngâm hóa chất Na2S2O3
Giải độc ngay sau khi phơi nhiễm 7,33 ± 0,88
Giải độc sau 1 h 27,75 ± 2,87
Giải độc sau 24 h 40,51 ± 2,08
Ngâm hóa chất NaNO2
Giải độc ngay sau khi phơi nhiễm 11,47 ± 0,41
Giải độc sau 1 h 16,25 ± 0,63
Giải độc sau 24 h 35,53 ± 1,95
Ngâm hóa chất hydroxocobalamin
Giải độc ngay sau khi phơi nhiễm 5,14 ± 1,48
Giải độc sau 1 h 12,68 ± 2,55
Giải độc sau 24 h 36,96 ± 1,42
Hiệu quả giải độc xyanua ở cá cảnh biển
149
Đối với hóa chất NaNO2, tương tự như trên,
cá khi được giải độc có hàm lượng xyanua tích
lũy giảm đi rất nhiều so với cá chưa được giải
độc (p < 0,05). HLTB xyanua của cá được giải
độc ngay sau khi bị nhiễm (11,47 ± 0,41 µg/kg)
và giải độc sau 1 giờ (HLTB xyanua 16,25 ±
0,63 µg/kg) được xem như tương đương về mặt
thống kê, tuy nhiên hiệu quả giải độc theo 2
thời điểm này lại có sự sai khác đáng kể khi so
sánh với HLTB xyanua ở cá được giải độc sau
24 giờ (35,53 ± 1,95 µg/kg).
Xu hướng này được quan sát tương tự đối
với hóa chất Hydroxocobalamin. HLTB xyanua
của cá được giải độc có sự sai khác đáng kể so
với cá chưa giải độc (p < 0,05). Cụ thể, HLTB
xyanua có trong cá được giải độc ngay sau bị
nhiễm (5,14 ± 1,48 µg/kg) và sau 1 giờ (12,68
± 2,55 µg/kg) không có sự khác biệt thống kê.
Việc giải độc sau 24 giờ làm HLTB xyanua
trong cá suy giảm còn 36,96 ± 1,42 µg/kg,
nhưng cao hơn đáng kể so HLTB xyanua ở cá
được giải độc ngay sau bị nhiễm và sau 1 giờ.
Tỉ lệ sống của cá
Tỉ lệ sống của cá chưa và được giải độc
bằng hình thức ngâm được trình bày trong
bảng 5.
Qua bảng 5, chúng tôi nhận thấy tỉ lệ sống
của cá được giải độc cao hơn hẳn (60–100%)
so với cá chưa được giải độc (30–40%). Tuy
nhiên tỉ lệ sống của cá được giải độc theo thời
điểm khi ngâm Na2S2O3 (giải độc sau khi phơi
nhiễm, sau 1 giờ và sau 24 giờ) được xem là
tương đương nhau qua 2 lần theo dõi thí
nghiệm do số liệu không có sự chênh lệch.
Cũng vậy đối với 2 hóa chất còn lại, hiệu quả
của việc giải độc theo thời điểm được xem là
như nhau do tỉ lệ sống của cá không có sai khác
đáng kể.
Kết quả thu được cho thấy hình thức ngâm
cả 3 loại hóa chất được xem là phù hợp, có thể
sử dụng trong những tình huống giải độc muộn,
chưa kịp thời với cá bị nhiễm xyanua (sau phơi
nhiễm 1 ngày), giúp tăng tỉ lệ sống của cá.
Bảng 5. Tỉ lệ sống của cá chưa và được giải độc sau 4 tuần sử dụng hình thức
giải độc ngâm với các loại hóa chất khác nhau theo thời điểm
Tỉ lệ sống (%) Lần 1 Lần 2
Chưa giải độc 30 40
Ngâm hóa chất Na2S2O3
Giải độc ngay sau khi phơi nhiễm 60 70
Giải độc sau 1 h 50 60
Giải độc sau 24 h 100 60
Ngâm hóa chất NaNO2
Giải độc ngay sau khi phơi nhiễm 70 80
Giải độc sau 1 h 60 70
Giải độc sau 24 h 60 80
Ngâm hóa chất hydroxocobalamin
Giải độc ngay sau khi phơi nhiễm 60 60
Giải độc sau 1 h 60 100
Giải độc sau 24 h 70 60
KẾT LUẬN
Nghiên cứu bước đầu cho thấy hiệu quả của
việc giải độc xyanua cho cá cảnh biển bằng các
loại hóa chất khác nhau như NaNO2, Na2S2O3
và hydroxocobalamin. Cá khoang cổ nhiễm
xyanua được giải độc bằng hình thức ngâm có
tỉ lệ sống cao hơn hình thức tiêm, do đó việc
ngâm hóa chất giải độc phù hợp đối với cá
khoang cổ - là loài có kích thước nhỏ. Hiệu quả
của việc giải độc theo thời điểm (ngay sau bị
nhiễm, sau 1 giờ và 24 giờ) ở cá khoang cổ
nhiễm xyanua là tương tự do tỷ lệ cá sống
không khác biệt đáng kể.
Lời cảm ơn: Bài báo này có kết quả từ đề tài
bảo tàng 2018–2019 do Viện Hải dương học,
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt
Nam tài trợ kinh phí. Các tác giả xin cảm ơn
các thành viên Phòng Kỹ thuật nuôi, Viện Hải
dương học đã tham gia giúp đỡ trong quá trình
thực hiện nghiên cứu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Kirk, M. A., Holstege, C. P., and Isom, G.
E., 2011. Cyanide and hydrogen sulfide.
Nelson LS, Lewin NA, Howland MA, et
al., eds, 340–358.
Lê Hồ Khánh Hỷ và nnk.
150
[2] Trestrail, J. H., 2007. Criminal
poisoning: Investigational guide for law
enforcement, toxicologists, forensic
scientists, and attorneys. Springer
Science & Business Media.
[3] Unnisa, Z. A., and Devaraj, N. S., 2007.
Effect of methacrylo-nitrile on membrane
bound enzymes of rat brain. Ind. J.
Physiol. Pharmacol, 51(4), 405–409.
[4] Doudoroff, P., 1980. A critical review of
recent literature on the toxicity of
cyanides to fish. American Petroleum
Institute. 71 p.
[5] Leduc, G. 1984. Cyanides in water:
Toxicological significance. Weber, L. J.
ed., Aquatic toxicology, Vol. 2. Raven
Press, New York, pp. 153–224.
[6] Ruby, S. M., Dixon, D. G., and Leduc,
G., 1979. Inhibition of spermatogenesis
in rainbow trout during chronic cyanide
poisoning. Archives of environmental
contamination and toxicology, 8(5),
533–544.
[7] Cheng, S. K., and Ruby, S. M., 1981.
Effects of pulse exposure to sublethal
levels of hydrogen cyanide on
reproduction of American flagfish.
Archives of Environmental Contamination
and Toxicology, 10(1), 105–116.
[8] Eisler, R., and Wiemeyer, S. N., 2004.
Cyanide hazards to plants and animals
from gold mining and related water issues.
In Reviews of environmental
contamination and toxicology (pp. 21–54).
Springer, New York, NY.
[9] Hossein, T., and Reza, R., 2011. Some
biochemical properties of rhodanese from
liver of Rainbow Trout. In Int. Conf. Med.
Biol and Pharmaceutical Sciences (Vol. 1,
pp. 1–3).
[10] Bellwood, D. R., 1981. Cyanide... An
investigation into the long term histological
effects of sodium cyanide doses upon the
gastro-intestinal tract of Dascyllus
trimaculatus. Part One. Freshwater and
Marine Aquarium, 4, 31–35.
[11] Lee, S. W., and Kim, J. S., 2013.
Antidotes of cyanide intoxication. Journal
of the Korean Medical Association, 56(12),
1076–1083.
[12] Prashanth, M. S., Sayeswara, H. A., and
Goudar, M. A., 2011. Effect of sodium
cyanide on behaviour and respiratory
surveillance in freshwater fish, Labeo
rohita (Hamilton). Recent Research in
Science and Technology, 3(2), 24–30.
[13] TCVN 6648:2000 (ISO 11465:1993) về
chất lượng đất - Xác định chất khô và hàm
lượng nước theo khối lượng - phương
pháp khối lượng do Bộ Khoa học Công
nghệ và Môi trường ban hành.
[14] TCVN 10497:2015 (ISO 11262:2011) về
chất lượng đất - Xác định xyanua tổng số.
Tổng cục Môi trường biên soạn, Bộ Tài
nguyên và Môi trường đề nghị, Tổng cục
Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thẩm
định, Bộ khoa học và Công nghệ công bố.
[15] Satyanarayana, T., Johri, B. N., and
Prakash, A. (Eds.), 2012. Microorganisms
in environmental management: microbes
and environment. Springer Science &
Business Media.
[16] Raza, S. K., and Jaiswal, D. K., 1994.
Mechanism of cyanide toxicity and
efficacy of its antidotes. Defence Science
Journal, 44(4), 331–340.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
cyanide_detoxification_efficiency_of_injection_and_soak_of_h.pdf