PGRN đã tạo ra một hệ thống và môi trường
hỗ trợ nhằm kết nối tất cả các nhóm nghiên cứu
về di truyền dược học trên thế giới. Hiện nay, do
công nghệ NGS có hạn chế về giá thành cao, thời
gian và kích thước dữ liệu lớn thì PGRN cũng đã
phát triển những nền tảng thay thế nhằm xác định
kiểu gen của một số gen dược học (PGRNseq).
PGRNseq cũng là một hệ thống giải trình tự dựa
trên nguyên tắc của công nghệ NGS, có khả năng
xác định chính xác các biến thể hiếm và phổ biến
của 84 gen dược học khác nhau (Gordon et al.,
2016). PGRNseq đã cung ứng một nền tảng cânbằng hơn với giá thành hạ (giảm 8-10 lần so với
WGS và 2-3 lần so với WES), dữ liệu đầu ra có
kích thước nhỏ hơn (giảm giá thành phân tích
cũng như hạn chế hiện tượng nhiễu loạn dữ liệu),
tăng độ bao phủ và từ đó nâng cao chất lượng dữ
liệu thu được trong trường hợp cần tìm kiếm các
biến thể hiếm. Những kĩ thuật như PGRNseq đã
đem lại một hướng nghiên cứu giúp giảm chi phí
và tăng tính chính xác trong việc nghiên cứu các
gen dược học, tạo nền tảng cho những thử
nghiệm lâm sàng dựa trên hệ gen dược học khả
thi hơn trong tương lai.
KẾT LUẬN
Đa dạng di truyền các gen dược học là nguyên
nhân gây nên những khác biệt trong đáp ứng thuốc
cá nhân. Lĩnh vực di truyền dược học đã tập trung
nghiên cứu và phát hiện những biến thể thuộc các
gen này, áp dụng những thông tin và dữ liệu thu
được để xây dựng mối liên hệ giữa các biến thể
với đáp ứng thuốc. Những thông tin về biến thể di
truyền có ảnh hưởng đến đáp ứng thuốc cá nhân
sẽ là tiền đề cho việc tối ưu hóa liều thuốc/loại
thuốc sử dụng, tránh gặp phải các phản ứng có hại
và đạt được hiệu quả điều trị. Trong khi một số
gen dược học thuộc nhóm VIP đã được nghiên
cứu rộng rãi, vẫn còn nhiều gen dược học khác mà
chức năng trong đáp ứng thuốc còn chưa được làm
rõ. Trong những nghiên cứu xa hơn, cần phải có
nhiều phương án tiếp cận và nỗ lực hơn nữa để có
thể làm sáng tỏ mối liên hệ giữa các gen này với
đáp ứng thuốc cá nhân. Mặt khác, những nghiên
cứu về di truyền dược học trong tương lai sẽ cần
tiếp tục mở rộng và đào sâu hơn trong việc hướng
đến phân tích chức năng của các biến thể hiếm
trong các gen dược học-vốn chưa được quan tâm
nghiên cứu toàn diện.
24 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đa dạng di truyền một số gen dược học, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
gen
này và sự phân bố của các biến thể CYP3A5
được thể hiện ở Hình 5.
Hình 5. Phân bố của các biến thể trên gen CYP3A5. Gen CYP3A5 gồm 13 exon, hiện nay có tổng số 10 allele
của gen này được báo cáo trong cơ sở dữ liệu PharmVar. Theo quy ước thì allele CYP3A5*10 được xếp vào
allele CYP3A5*3K (Xie et al., 2004).
Các biến thể vùng mã hóa của CYP3A5:
CYP3A5*2: Biến thể di truyền đầu tiên của
gen CYP3A5, CYP3A5*2, là một đột biến thay
thế nhầm nghĩa trong exon 11 (27289C> A) dẫn
đến một sự thay đổi tại vị trí amino acid 398
(p.Thr398Asn). Hậu quả của SNP này vẫn chưa
được làm rõ trên cả mô hình in vivo và in vitro
nhưng được cho là tạo ra một protein không chức
năng giống như các allele khác (Xie et al., 2004).
CYP3A5*4 và CYP3A5*6: CYP3A5*4 là một
SNP xuất hiện trong exon 7 do sự thay đổi
nucleotide 14665A>G dẫn đến sự thay thế amino
acid ở vị trí 200 (p.Gln200Arg) (Chou et al.,
2001). Trong khi đó, CYP3A5*6 (14690G>A)
cũng là một đột biến trên exon 7, dẫn đến khi cắt
nối pre-mRNA tạo ra sản phẩm mRNA bị thiếu
exon 7 (Rogan et al., 2003) kéo theo đó làm thay
đổi khung đọc mở và tạo ra một protein không
hoạt động chức năng bị cắt ngắn ở amino acid
184 .
CYP3A5*7, CYP3A5*8, CYP3A5*9 và
CYP3A5*10: CYP3A5*7 là đột biến chèn
nucleotide T ở exon 11 (27131-32insT). Hậu quả
là gây ra một sự thay đổi khung và kết thúc khung
đọc mở của CYP3A5 tại codon 348, tạo ra một
allele không hoạt động. CYP3A5*8 (3699C>T)
là SNP xuất hiện trong exon 2 dẫn đến thay đổi
codon 28 từ CGT (Arg)>TGT (Cys). CYP3A5*9
cũng gây ra biến đổi amino acid ở codon 337, từ
GCA (Ala)>ACA (Thr) là kết quả của đột biến
19386G>A ở exon 10 (Lee et al., 2003).
Các biến thể trên intron:
CYP3A5*3: Biến thể CYP3A5*3, 6986A>G
(CYP3A5*3C) trong intron 3 là biến thể phổ biến
nhất và có chức năng quan trọng tìm thấy ở tất cả
các quần thể đã nghiên cứu. Biến thể này tạo nên
vị trí cắt ẩn (cryptic splice site) ở intron 3, kết quả
là tạo nên cắt nối mRNA bất thường. Sản phẩm
mRNA sau phân cắt của biến thế này sẽ có đoạn
chèn từ intron 3 và làm lệch khung đọc mở, dẫn
tới hình thành mã kết thúc sớm và protein được
tạo ra không có hoạt tính (Lamba et al., 2002).
Những cá thể có kiểu gen đồng hợp tử
CYP3A5*3/*3 được coi như là không biểu hiện
protein này (CYP3A5 non-expressors).
CYP3A5*5: Đây là một đột biến thay thế
nucleotide T>C ở vùng 5’ của intron 5
(12952T>C), ảnh hưởng tới trình tự nằm kề với
vị trí cắt nối 5’ (Lamba et al., 2002). Kết quả dẫn
đến bất thường trong cắt nối mRNA, làm dịch
khung đọc mở và tạo nên một peptide ngắn hoặc
giảm số lượng của protein được mã hóa thông
qua sự bất hoạt vị trí cắt nối 5’ hoặc ức chế hoàn
toàn quá trình cắt nối mRNA.
Về ảnh hưởng trong chuyển hóa thuốc lâm
sàng, những cá thể có kiểu gen CYP3A5*1/*1
hoặc CYP3A5*1/*3 có biểu hiện CYP3A5 sẽ có
tốc độ chuyển hóa các cơ chất của CYP3A5
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(3): 393-416, 2020
405
nhanh hơn so với những người có kiểu hình
không biểu hiện CYP3A5 (ví dụ như
CYP3A5*3/*3) (Passey et al., 2011). Một trong
những loại thuốc quan trọng được chuyển hóa
bởi CYP3A5 là tacrolimus, thuốc này được sử
dụng nhằm ức chế miễn dịch sau ghép tạng.
Trong những trường hợp lý tưởng, nồng độ của
tacrolimus cần phải đạt đủ cao để tránh tạng mới
ghép bị đào thải do hệ miễn dịch của người nhận,
nhưng cũng phải đủ thấp để không gây độc với
người bệnh. Liều lượng tacrolimus được kiểm
soát hàng ngày sau khi bệnh nhân được ghép tạng
và được điều chỉnh liều cho phù hợp. CPIC đã có
những hướng dẫn căn bản trong việc sử dụng loại
thuốc này đối với từng kiểu hình chuyển hóa
thuốc ở các cá nhân. Trong đó, bệnh nhân mang
kiểu gen CYP3A5*1/*1 (kiểu hình EM) và
CYP3A5*1/*3 (kiểu hình IM) cần sử dụng liều
tacrolimus cao hơn 1,5-2 lần so với liều chuẩn.
Trong khi đó các bệnh nhân mang kiểu gen
CYP3A5*3/*3 (kiểu hình PM) có thể sử dụng liều
tacrolimus theo như khuyến cáo thông thường
(Birdwell et al., 2015).
CYP3A5*1/*3 đã được chứng minh là có liên
quan tới tốc độ đào thải thuốc kháng retrovirus
nhanh hơn so với kiểu gen *3/*3. Ở những bệnh
nhi mắc bệnh tăng lympho bào B cấp tính và
được điều trị với vincristine, những người có
biểu hiện protein CYP3A5 cho thấy ít bị ngộ độc
thuốc điều trị hơn (Egbelakin et al., 2011). Một
nghiên cứu gần đây trên những bệnh nhân ung
thư biểu mô thận được điều trị với sunitinib,
CYP3A5*1 có liên quan tới nguy cơ bị ngộ độc
thuốc và cần phải giảm liều (Garcia-Donas et al.,
2011).
Nhóm các gen mã hóa cho enzyme chuyển hóa
thuốc pha II
Các enzyme chuyển hóa thuốc pha II bao
gồm glutathione S transferases (GSTs),
thiopurine-S-methyltransferases (TMPT), UDP
glycurosyltransferases (UGT), N-acetyl-
transferases (NAT), NADH quinone oxidases và
một số enzyme khác.
GSTs là một họ bao gồm các enzyme xúc tác
cho quá trình thải độc các chất gây ung thư, hóa
chất trị liệu và một số độc tố môi trường. Enzyme
GST được mã hóa bởi 8 locus khác nhau bao gồm
alpja, kappa, mu, omega, pi, sigma, theta và zeta.
Các gen GSTM1 và GSTT1 lần lượt mã hóa cho
các enzyme GST Mu-1 và Theta-1. Đa hình số
bản sao của 2 gen nói trên khá phổ biến ở dạng
mất hoàn toàn gen chức năng. Cụ thể, tần số kiểu
gen đồng hợp tử dạng mất cả 2 bản sao của
GSTM1 và GSTT1 ở người da trắng là 50% và
30%. Trong khi đó tần số này ở người châu Á lần
lượt là >22% và >14%, ở người châu Phi tần số
này lần lượt là >27% và >37% (Garte et al.,
2001; Piacentini et al., 2011). Bên cạnh đó, đa
hình dạng tăng số bản sao của GSTM1 cũng được
báo cáo với tỉ lệ chỉ là 1/1320 người da trắng.
Một báo cáo của Cho và đtg (2010) đã phát hiện
mối liên quan giữa hiện tượng mất bản sao các
gen GSTM1 và GSTT1 với ngộ độc liều chuẩn
của R-CHOP trong phác đồ điều trị bệnh ung thư
hạch trên 94 bệnh nhân u tế bào lympho B lớn
lan tỏa (DLBLC). Sử dụng R-CHOP làm tăng
nguy cơ ngộ độc cấp III-IV với các triệu chứng
như hạ bạch cầu (OR=3,12), sốt (OR-5,27), viêm
niêm mạc (OR=4,61) trên những bệnh nhân mất
cả 2 bản sao của GSTT1 so với những bệnh nhân
có kiểu gen bình thường. Những bệnh nhân mất
đồng thời 2 bản sao của gen GSTM1 và GSTT1
thậm chí có nguy cơ rối loạn giảm tiểu cầu cao
hơn so với những bệnh nhân khác (OR=7,75).
Enzyme TPMT xúc tác cho phản ứng bất
hoạt các thuốc thiopurine như azathioprine,
thioguanine và mercaptopurine, đây là những
tiền chất (prodrug) sử dụng trong điều trị các rối
loạn tự miễn, viêm loét đại tràng và tăng lympho
bào ác tính. Cụ thể, TPMT xúc tác cho quá trình
methyl hóa của các tiền chất này và tạo thành các
chất chuyển hóa dạng bất hoạt. Biến thể phổ biến
nhất của TPMT ở các quần thể người châu Âu đó
là TPMT*3A với tần số xuất hiện là 5%. Cứ 300
người châu Âu thì có 1 người mang kiểu gen
đồng hợp tử với allele *3A-allele này là kết quả
của 2 SNPs làm thay đổi 2 amino acid trên
protein TPMT. Protein mã hóa bởi TPMT*3A
được dịch mã nhưng gấp cuộn không chính xác
và nhanh chóng bị phân hủy, điều này dẫn đến
enzyme mất khả năng chuyển hóa thiopurine,
hậu quả là khi bệnh nhân có kiểu gen
TPMT*3A/*3A được điều trị với liều thiopurine
Vũ Phương Nhung et al.
406
chuẩn sẽ bị quá liều gấp 10 lần. Theo chỉ dẫn của
CPIC, kiểu hình PM (*3A/*3A) cần giảm 10 lần
liều đầu vào của nhóm thuốc thiopurine để phòng
ngừa tình trạng suy tủy hoặc tử vong do ngộ độc
thuốc (Relling et al., 2019).
Enzyme UGT xúc tác cho phản ứng thải độc
(glucoronidation) của rất nhiều các chất nội sinh
và ngoại sinh tan trong lipid, khiến cho các chất
này trở nên ưa nước hơn và từ đó tăng cường loại
thải khỏi cơ thể. Các UGTs đóng vai trò khá quan
trọng trong chuyển hóa các loại thuốc hướng thần
bao gồm có thuốc chống trầm cảm, một số thuốc
giúp cân bằng cảm xúc và một số
benzodiazepine. Đa dạng trong chuyển hóa thuốc
do thay đổi hoạt tính enzyme UGT là kết quả của
các biến thể di truyền thuộc các gen UGT1A1 và
UGT2B7. Một ví dụ về biến thể tại hộp trình tự
TATA của gen UGT1A1, gen này mã hóa cho
enzyme chuyển hóa bilirubin và các loại thuốc
dùng trong hóa trị ung thư như irinotecan. Hầu
hết mỗi người đều có 6 trình tự TA trong hộp
TATA, nhưng một số người lại có tới 7 trình tự
TATA và trong cơ thể họ, mRNA và UGT1A1
biểu hiện kém hơn. Khi được điều trị với
irinotecan, những bệnh nhân có kiểu gen với 7
trình tự TATA trong hộp TATA sẽ có nguy cơ
cao gặp phải tác dụng phụ của thuốc như tiêu
chảy và suy tủy. Vào năm 2005, FDA cũng đã
kiến nghị giảm liều lượng thuốc irinotecan ban
đầu đối với những bệnh nhân có kiểu gen đồng
hợp tử với UGT1A1*28. Bên cạnh đó, đa dạng di
truyền của UGT2B7 (UGT2B7*2) đã được chứng
minh là có liên quan tới ngộ độc gan gây ra bởi
thuốc diclofenac (Daly et al., 2007).
ĐA DẠNG DI TRUYỀN CÁC GEN MÃ HÓA
CHO THỤ THỂ LÀ ĐÍCH TÁC DỤNG CỦA
THUỐC VÀ ẢNH HƯỞNG TRONG ĐÁP
ỨNG THUỐC LÂM SÀNG
Có nhiều thụ thể là đích tác dụng của các loại
thuốc thường được kê đơn đều thuộc nhóm
GPCRs. Nhóm thụ thể này đóng vai trò trung
gian ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng của khoảng
34% các loại thuốc trên thị trường. Một số loại
thuốc hoạt động thông qua một vài thụ thể và
thường là bao gồm các GPCRs. Do vậy, GPCRs
đóng vai trò là các đích tác dụng có tính chất
quyết định đến đặc điểm đáp ứng thuốc. Mặc dù
các nghiên cứu đã chỉ ra đa hình trong các gen
mã hóa cho GPCRs sẽ dẫn đến đa dạng trong đáp
ứng thuốc cũng như các phản ứng có hại của
thuốc, nhưng tỉ lệ cũng như ảnh hưởng của các
biến thể di truyền trong các gen này còn vẫn còn
chưa được biết rõ.
Một khảo sát trên dữ liệu của 2504 người
khỏe mạnh từ cơ sở dữ liệu 1000 Genome đã cho
thấy trung bình mỗi người có 68 biến thể sai
nghĩa trong vùng mã hóa của 1/3 các gen mã hóa
cho GPCRs (Auton et al., 2015). Ví dụ, dạng dị
hợp tử của biến thể p.Ala307Thr của thụ thể
FSHR được tìm thấy nhiều hơn ở những phụ nữ
mắc hội chứng buồng trứng đa nang, đồng thời
có liên quan đến đáp ứng mạnh với FSH ngoại
sinh (Dolfin et al., 2011). Biến thể p.Gly9Ser
thuộc thụ thể dopamine 3-DRD3 có liên quan
đến tăng nguy cơ ngộ độc đường tiêu hóa khi
điều trị thuốc Levopoda ở những bệnh nhân
Parkinson (Rieck et al., 2018). Một công bố năm
2018 đã báo cáo về ảnh hưởng đến đáp ứng thuốc
của các biến thể nằm trong các gen mã hóa cho 2
thụ thể là đích tác dụng của thuốc bao gồm: µ-
opioid và cholecystokinin A (CCKAR). Kết quả
cho thấy các biến thể này (p.Met153Val và
p.Val302Ile trên µ-opioid, p.Arg139Ile và
p.Arg150Trp trên CCKAR) làm thay đổi đáp ứng
thuốc hoặc gây ra các phản ứng có hại của thuốc
(Hauser et al., 2018).
ĐA DẠNG DI TRUYỀN CÁC GEN MÃ HÓA
CHO NHÓM PROTEIN VẬN CHUYỂN
THUỐC VÀ ẢNH HƯỞNG TRONG ĐÁP
ỨNG THUỐC LÂM SÀNG
Các protein vận chuyển thuốc biểu hiện trong
nhiều loại mô khác nhau như gan, ruột non, thận,
não và đóng vai trò thiết yếu trong quá trình hấp
thụ, phân bố và đào thải thuốc. Các protein vận
chuyển là những protein màng tham gia vào quá
trình đưa các chất hóa học vào trong hoặc ra khỏi
tế bào theo cơ chế thụ động hoặc chủ động.
Những protein vận chuyển này cũng là yếu tố
quyết định về nồng độ thuốc trong huyết tương
và các mô ngoại biên, từ đó có ảnh hưởng đến
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(3): 393-416, 2020
407
hiệu quả sử dụng thuốc hay tình trạng ngộ độc
thuốc. Các đa dạng di truyền (đặc biệt là các
SNPs) thường xuất hiện trong các protein vận
chuyển này và một số sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt
tính của chúng.
Các protein vận chuyển kết hợp với ATP
(ABC)
ABC là họ protein màng lớn nhất-các protein
này phụ thuộc vào ATP và sử dụng năng lượng
thủy phân để vận chuyển các chất qua màng tế
bào. Các protein này được phân làm 7 họ (ABCA
đến ABCG) dựa trên trình tự nucleotide thuộc
vùng kết hợp (binding domain) và vùng xuyên
màng (transmembrane domains). Có ít nhất 49
gen mã hóa cho các protein ABC, nhưng chủ yếu
có ABCB1, ABCC1, ABCC2, ABCC3 và
ABCG2 là tham gia vào quá trình vận chuyển
thuốc. Các cơ chất của họ protein ABC bao gồm
lipid, acid mật, các chất ngoại lai và các peptide
hoặc kháng nguyên.
Trong số các protein vận chuyển thuộc họ
ABC, ABCB1 (P-glycoprotein) là kênh được
quan tâm nhiều nhất trong lâm sàng. Gen ABCB1
thuộc nhiễm sắc thể số 7, gồm 29 exon và mã hóa
cho một protein xuyên màng lớn có kích thước
141,48 kDa, chứa 1280 amino acid. Protein ABC
có vai trò làm giảm sự tích tụ của thuốc trong các
tế bào đa kháng thuốc. Có 1630 SNPs và hơn 60
haplotype đã được xác định trên gen này
(Cacabelos, 2012)
( Nghiên
cứu trên người Mestizo tại bán đảo Yucatan và
người Amerindian thuộc 7 quần thể
(Tarahumara, Mayo, Huichol, Purepecha,
Nahua, Tojolabal và Maya) cho thấy các biến thể
phổ biến nhất của ABCB1 là c.1236C>T,
c.2677G>T/A và c.3435C>T. Đồng thời tại các
quần thể này, các kiểu gen chính xuất hiện là dị
hợp tử C/T (c.1236C>T và c.3435C>T) (30,8-
65,4%) và dị hợp tử G/T đối với biến thể
c.2677G>T/A (25,9-51,2%).
Những cá thể đồng hợp tử với biến thể
c.3435C>T của gen ABCB1 khi được điều trị với
1 liều uống digoxin (thuốc chống loạn nhịp, trợ
tim) thì có nồng độ thuốc trong máu cao hơn so
với những cá thể không mang biến thể nói trên.
Ngoài ra, clopidogrel cũng là một cơ chất của
ABCB1, trong số các bệnh nhân nhồi máu cơ tim
được chỉ định dùng clopidogrel thì người đồng
hợp tử với biến thể c.3435C>T có tỉ lệ gặp phải
các bệnh về tim mạch cao hơn so với những cá
nhân mang allele kiểu dại (Simon et al., 2009).
Rất nhiều loại thuốc khác có thể kể đến như thuốc
ức chế HIV protease và thuốc ức chế miễn dịch
đều là cơ chất của ABCB1. Bên cạnh đó, các đa
dạng di truyền ở các thành viên khác thuộc họ
ABC cũng đã được ghi nhận nhưng ảnh hưởng
của chúng trong lâm sàng còn chưa được làm rõ.
Các protein mang chất tan (SLC)
Các SLC được tìm thấy khắp cơ thể và có ý
nghĩa quan trọng đối với cân bằng nội môi cũng
như sự phân bố các chất trong cơ thể. Các SLC
được phân loại thành 40 họ, trong đó các siêu họ
liên quan đến vận chuyển thuốc là SLC22A và
SLCO.
Protein SLCO1B1 (OATPB1) thuộc họ
SLCO1, đây là yếu tố chìa khóa trong quá trình
vận chuyển các loại thuốc nhóm statin như
pravastatin, rosuvastatin, simvastatin, lovastatin
và cerivastatin. Cho tới nay có 16 SNPs đã được
báo cáo ở gen SLCO1B1 (Niemi et al., 2011).
Một biến thể sai nghĩa trên vùng mã hóa của
SLCO1B1 (c.521T>C, p.Val174Ala) có liên
quan tới dược động học của một số loại thuốc
thường được kê đơn, đồng thời biến thể này cũng
có thể liên quan đến tình trạng phản ứng có hại
gây ra bởi nhóm thuốc statin. Cụ thể, biến thể này
làm cho OATPB1 giảm khả năng vận chuyển chủ
động simvastatin và một số statin khác, từ đó gây
nên lượng statin tăng cao trong huyết tương và
tăng nguy cơ mắc các bệnh về cơ.
CÁC HƯỚNG NGHIÊN CỨU HỆ GEN DƯỢC
HỌC HIỆN NAY
Trong những năm gần đây, nhiều trường hợp
khác biệt đáp ứng thuốc giữa các cá nhân đã được
báo cáo và được cộng đồng khoa học quan tâm
nghiên cứu. Hiện nay, các phương pháp tiếp cận
nghiên cứu dựa trên thực nghiệm và máy tính đều đã
được thực hiện nhằm xác định các biến thể di truyền
thuộc các gen liên quan đến dược lực học và dược
Vũ Phương Nhung et al.
408
động học của thuốc, từ đó phát hiện mối liên quan
giữa các biến thể với kiểu hình chuyển hóa thuốc.
Các nghiên cứu thực nghiệm
Sự xuất hiện của phương pháp giải trình tự
thế hệ mới (Next generation sequencing-NGS)
đã cung cấp khả năng đột phá trong giải trình tự
toàn bộ hệ gen (genome), hệ gen mã hóa (exome)
và hệ phiên mã (transcriptome). Hai kĩ thuật
NGS chính có khả năng phát hiện các biến thể di
truyền đã được ứng dụng rộng rãi là giải trình tự
toàn bộ hệ gen (Whole genome sequencing-
WGS) và giải trình tự toàn bộ hệ gen mã hóa
(Whole exome sequencing-WES).
Kĩ thuật WGS đã giúp các nhà khoa học
nghiên cứu các biến thể di truyền, trong đó bao
gồm cả các biến thể thuộc các gen dược học ở cả
vùng mã hóa và vùng không mã hóa. Mặc dù đây
là kĩ thuật đem lại lượng thông tin về các biến thể
là rất lớn nhưng chi phí cao, tốn nhiều thời gian
cho việc giải trình tự toàn bộ hệ gen. Chính vì
vậy, tính khả thi khi triển khai WGS trong thực
tiễn và lâm sàng là không cao.
Kĩ thuật WES đã xuất hiện thay thế WGS và
tập trung vào toàn bộ các vùng gen mã hóa cho
protein. Ở người có khoảng 180.000 exon, chỉ
chiếm 2% toàn bộ hệ gen và mang thông tin của
khoảng 85% các biến thể gây bệnh đã biết. Thời
gian và chi phí của kĩ thuật NGS phụ thuộc vào
kích thước của trình tự cần phân tích, chính vì
WES đã thu hẹp phần trình tự quan tâm (trình tự
mã hóa) nên giá thành của WES hợp lý hơn so
với WGS. Trên thực tế, với mức giá của một
WGS thì có thể tiến hành khoảng 50 lần WES
trên exome, như vậy tổng thể dữ liệu mà WES
đưa ra là rất lớn và có thể đạt được mức ý nghĩa
thống kê khi tiến hành các nghiên cứu liên quan
đến biến thể (Petersen et al., 2017). Với tiềm
năng và những thuận lợi của WES, trong những
năm qua các dự án WES đã được thực hiện.
Trong đó, Exome Sequencing Project (ESP,
và Exome
Aggregation Consortium (ExAC,
là hai dự án WES
được tiến hành gần đây. Cả 2 dự án này đều đã
cung cấp một nguồn dữ liệu lớn về trình tự hệ gen
mã hóa của nhiều quần thể trên thế giới (Lek et
al., 2016). Cộng đồng khoa học đang trong quá
trình tiến tới phân tích và đánh giá tương quan về
các biến thể với kiểu hình chuyển hóa thuốc. Tuy
vậy, một số báo cáo đã cho thấy hiệu suất của
WES không cao, WES nhạy cảm với thành phần
GC trong trình tự (Meienberg et al., 2016), kết
quả không đáng tin cậy trong phát hiện các biến
thể dạng CNVs cũng như những biến thể thuộc
vùng không mã hóa của các gen dược học quan
tâm (Yang et al., 2016).
Giải trình tự hệ phiên mã (RNA-seq) đã được
phát triển trong một vài thập kỉ trước. Một vài
năm gần đây, RNA-seq là kĩ thuật được sử dụng
trong các nghiên cứu về hệ gen dược học, đặc
biệt quan tâm đến các biến thể, các vùng trình tự
cắt nối luân phiên và biểu hiện của các gen dược
học (Sa et al., 2018). RNA-seq đã thành công
trong việc phát hiện nhiều biến thể di truyền
trong các gen dược học và đồng thời làm giảm
gánh nặng về kích thước dữ liệu cho người phân
tích. Một số nghiên cứu về di truyền dược học
đã áp dụng công nghệ RNA-seq để phát hiện các
marker sinh học liên quan đến đáp ứng thuốc. Do
những nghiên cứu hệ thống về hệ phiên mã có
thể làm sang tỏ các cơ chế đáp ứng thuốc, Mạng
lưới nghiên cứu Di truyền dược học
(Pharmacogenomics Research Network-PGRN)
được hỗ trợ bởi Viện sức khỏe quốc gia Hoa Kỳ
(National Institutes of Health-NIH) đã cung cấp
những nguồn lực cần thiết cho dự án giải trình tự
toàn diện hệ phiên mã. Dự án này đã tổng hợp
được dữ liệu về những thay đổi về biểu hiện cũng
như cắt nối mRNA của 389 gen dược học thuộc
các mô như gan, thận, tim, mô mỡ. Các dữ liệu
về biểu hiện gen và cắt nối mRNA đã được công
bố rộng rãi (
expression/rnaseqdata.html). Nghiên cứu hệ
phiên mã ở các mô ung thư cũng đã đạt được
những thành công nhất định trong việc dự đoán
đáp ứng thuốc trong điều trị ung thư. Ở ung thư
phổi không tế bào nhỏ, sự biểu hiện của 7 gen
(C8G, PSG7, ACOT6, DEPDC5, MMP16,
UBR1, CYP4F22) đã được báo cáo là nhạy cảm
với thuốc indolotriazine tổng hợp (Kim et al.,
2013). Ở các bệnh nhân ung thư vú, HER2 là một
thụ thể xuyên màng và cũng là đích tác dụng của
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(3): 393-416, 2020
409
thuốc điều trị trastuzumab (Tz). Tuy vậy có
khoảng 30% các bệnh nhân ung thư vú có biểu
hiện kháng thuốc. Một nghiên cứu thực hiện năm
2016 có sử dụng công nghệ RNA-seq trên các
khối u của người bệnh có biểu hiện nhạy hoặc
kháng với Tz đã phát hiện được một tập hợp các
mRNA và lincRNA có liên quan tới hiện tượng
kháng Tz (Merry et al., 2016).
Hiện nay, có một số hệ thống đã được phát
triển nhằm xác định kiểu gen của một số gen
dược học quan trọng như: Amplichip CYP450
(Han et al., 2017), DMET-Plus array (Arbitrio et
al., 2016) Những hệ thống này cung cấp khả
năng xác định kiểu gen dựa trên thông tin của
những biến thể phổ biến đã được công bố (với
MAF>1%). Do đó, giá thành và thời gian phân
tích cũng như khối lượng dữ liệu đã được giảm
tải đáng kể. Một hạn chế của các hệ thống nói
trên là chỉ tập trung vào một số biến thể nhất định
của các gen dược học với tần số lớn hơn 1%, do
vậy không có khả năng xác định những biến thể
hiếm khác. Hiện nay, các hệ thống nói trên đã
được thương mại hóa và được ứng dụng cho các
mục đích chẩn đoán. Mặc dù các hệ thống này
mới chỉ tập trung vào một số gen dược học nhất
định, nhưng trong tương lai sẽ có nhiều hệ thống
được phát triển và thương mại hóa hơn nữa, từ
đó số lượng các gen dược học được quan tâm
phân tích sẽ ngày càng đầy đủ và toàn diện hơn.
Các nghiên cứu trên hệ thống máy tính
Sau khi dự án hệ gen người hoàn thành, các
nguồn lực và cách tiếp cận nghiên cứu dựa trên
cơ sở tin sinh học đã phát triển mạnh mẽ và có
ảnh hưởng sâu rộng đến tất cả các hướng nghiên
cứu về khoa học sự sống, trong đó nghiên cứu về
các gen dược học cũng không phải là ngoại lệ.
Như đã trình bày ở phần trước, các dự án giải
trình tự toàn bộ hệ gen, hệ gen mã hóa và hệ
phiên mã dựa trên nền tảng NGS đã tạo ra lượng
dữ liệu rất lớn từ nhiều quần thể người trên thế
giới. Chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, các
nhà khoa học đã phải đối mặt với thử thách khi
phân tích khối dữ liệu lớn “Big data”. Việc xử lý,
duy trì cũng như phân tích những khối lượng dữ
liệu này tạo ra nhu cầu cần phải có phương pháp
tiếp cận dựa trên những công cụ tin sinh học
mạnh, hệ thống phân tích hiệu quả với các khả
năng như lưu trữ dữ liệu, pipeline phân tích tốt,
các phần mềm. Hiện nay, một số cơ sở dữ liệu,
pipeline và phần mềm đã được phát triển. Trong
số đó, nhiều công cụ tin sinh học đã được áp dụng
cho lĩnh vực nghiên cứu các gen dược học, cụ thể
là dự đoán chức năng/ảnh hưởng của những thay
thế amino acid đến chức năng của các enzyme
tham gia chuyển hóa thuốc và các protein vận
chuyển thuốc (Zhou et al., 2018). Các công cụ
này bao gồm dự đoán chức năng của những biến
thể sai nghĩa dựa trên thông tin về trình tự (SIFT,
Polyphen-2, PROVEAN, MAPP,
MutationTaster) hoặc dựa trên đặc điểm cấu trúc
(SDM, I-Mutant, HOPE, STRUM). Ngoài ra còn
có những công cụ đánh giá ảnh hưởng của biến
thể đến cắt nối mRNA, mức độ phiên mã hay
dịch mã (NMD Calssifier, GeneSplicer, Skippy,
BPP, PinPor). Bên cạnh đó, ảnh hưởng của
những biến thể nằm trong vùng không mã hóa
tham gia điều hòa hoạt động của gen (promoter,
enhancer, silencer, insulator) cũng được dự đoán
qua một số các công cụ đã được phát triển
(FATHMM, CADD, Genomiser, Eigen). Ngoài
ra, các công cụ dự đoán về ảnh hưởng của biến
thể đến sức bền của protein và tương tác protein-
phối tử cũng đã được sử dụng.
Những nghiên cứu đáng chú ý của PGRN
Trong một vài thập kỉ trước, các nhóm
nghiên cứu khác nhau trên thế giới đã khởi động
những nghiên cứu phối hợp về di truyền dược
học nhằm nâng cao những lợi ích thu được từ các
nghiên cứu đa ngành. Từ đó cung cấp nền tảng
cho việc phân tích và khám phá sâu hơn về những
biến thể di truyền của các gen dược học. Một số
liên hiệp đã được xây dựng với những mục tiêu
và trách nhiệm cụ thể về hệ gen dược học (Bảng
1), ví dụ: CPIC PGRN được bảo trợ bởi NIH.
Trên thực tế, CPIC đã và đang đưa ra những chỉ
dẫn lâm sàng và các tiêu chuẩn trong dùng thuốc,
đồng thời có những khuyến cáo bổ ích về việc
sàng lọc một số gen dược học và quan sát lâm
sàng trong quá trình sử dụng thuốc (Relling,
Klein, 2011). Hiện nay, CPIC đã đưa ra tổng số
24 chỉ dẫn cho các cặp gen-thuốc, trong đó phần
lớn có liên quan đến các gen tham gia chuyển hóa
thuốc và vận chuyển thuốc (Bảng 2).
Vũ Phương Nhung et al.
410
Bảng 1. Các hiệp hội với chức năng nghiên cứu di truyền dược học (Katara, Yadav, 2019).
STT Liên hiệp Tên tiếng Việt Mục tiêu
1 African American
Cardiovascular
Pharmacogenetics
CONsorTium
(ACCOuNT)
Hiệp hội Di truyền dược
học trong các bệnh tim
mạch ở người Mỹ gốc Phi
Phát hiện các biến thể di truyền mới đặc
trưng cho người Mỹ gốc Phi, đưa ra những
khuyến cáo trong lâm sàng.
2 Clinical
Pharmacogenetics
Implementation
Consortium (CPIC)
Hiệp hội ứng dụng Di
truyền dược học lâm sàng
Đưa ra khuyến cáo/chỉ dẫn dựa trên những
chứng cứ khoa học. Các lưu ý về sàng lọc
gen dược học và chỉ dẫn được cập nhật theo
thời gian.
3 International
Clopidogrel
Pharmacogenomics
Consortium (ICPC)
Hiệp hội quốc tế về Di
truyền dược học
Clopidogrel
Cung cấp nền tảng trong việc thu thập lượng
mẫu lớn và các chuyên gia trên toàn cầu
trong việc nghiên cứu đáp ứng khác nhau
với clopidogrel trên cơ sở di truyền.
4 PGRN-RIKEN Mạng lưới nghiên cứu di
truyền dược học-RIKEN
Thúc đẩy các mối liên kết trong nghiên cứu
di truyền dược học, sử dụng nền tảng NGS.
5 Pharmacogenomics
Research Network
(PGRN)
Mạng lưới nghiên cứu Di
truyền dược học
Tăng cường các nghiên cứu nhằm phát hiện
các biến thể quan trọng của hệ gen dược
học và chức năng của các biến thể này
nhằm tiến tới y học cá thể.
Bảng 2. Tổng hợp một số cặp gen-thuốc đã có chỉ dẫn cụ thể của CPIC (https://cpicpgx.org/guidelines/)
TT Thuốc Gen TT Thuốc Gen
1 Ivacaftor CFTR 9 Warfarin CYP2C9,
VKORC1
2 Efavirenz CYP2B6 10 Atomoxetine CYP2D6
3 Clopidogrel CYP2C19 11 Codeine CYP2D6
4 Voriconnazole CYP2C19 12 Tacrolimus CYP3A5
5 Tamoxièn CYP2D6 13 Simvastatin SLCO1B1
6 Một số thuốc kháng viêm
không phải steroid (aspirin,
diclofenac, celecoxib,
ibuprofen, indomethacin)
CYP2C9 14 Thiopurine TPMT
7 Thuốc ức chế tái hấp thu
serotonine (citalopram,
fluvoãmine, paroxetine,
sertraline)
CYP2C19,
CYP2D6
15 Atazanavir UGT1A1
8 Thuốc chống trầm cảm 3
vòng (amitriptyline,
doxepine, imipramine)
CYP2C19,
CYP2D6
PGRN đã tạo ra một hệ thống và môi trường
hỗ trợ nhằm kết nối tất cả các nhóm nghiên cứu
về di truyền dược học trên thế giới. Hiện nay, do
công nghệ NGS có hạn chế về giá thành cao, thời
gian và kích thước dữ liệu lớn thì PGRN cũng đã
phát triển những nền tảng thay thế nhằm xác định
kiểu gen của một số gen dược học (PGRNseq).
PGRNseq cũng là một hệ thống giải trình tự dựa
trên nguyên tắc của công nghệ NGS, có khả năng
xác định chính xác các biến thể hiếm và phổ biến
của 84 gen dược học khác nhau (Gordon et al.,
2016). PGRNseq đã cung ứng một nền tảng cân
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(3): 393-416, 2020
411
bằng hơn với giá thành hạ (giảm 8-10 lần so với
WGS và 2-3 lần so với WES), dữ liệu đầu ra có
kích thước nhỏ hơn (giảm giá thành phân tích
cũng như hạn chế hiện tượng nhiễu loạn dữ liệu),
tăng độ bao phủ và từ đó nâng cao chất lượng dữ
liệu thu được trong trường hợp cần tìm kiếm các
biến thể hiếm. Những kĩ thuật như PGRNseq đã
đem lại một hướng nghiên cứu giúp giảm chi phí
và tăng tính chính xác trong việc nghiên cứu các
gen dược học, tạo nền tảng cho những thử
nghiệm lâm sàng dựa trên hệ gen dược học khả
thi hơn trong tương lai.
KẾT LUẬN
Đa dạng di truyền các gen dược học là nguyên
nhân gây nên những khác biệt trong đáp ứng thuốc
cá nhân. Lĩnh vực di truyền dược học đã tập trung
nghiên cứu và phát hiện những biến thể thuộc các
gen này, áp dụng những thông tin và dữ liệu thu
được để xây dựng mối liên hệ giữa các biến thể
với đáp ứng thuốc. Những thông tin về biến thể di
truyền có ảnh hưởng đến đáp ứng thuốc cá nhân
sẽ là tiền đề cho việc tối ưu hóa liều thuốc/loại
thuốc sử dụng, tránh gặp phải các phản ứng có hại
và đạt được hiệu quả điều trị. Trong khi một số
gen dược học thuộc nhóm VIP đã được nghiên
cứu rộng rãi, vẫn còn nhiều gen dược học khác mà
chức năng trong đáp ứng thuốc còn chưa được làm
rõ. Trong những nghiên cứu xa hơn, cần phải có
nhiều phương án tiếp cận và nỗ lực hơn nữa để có
thể làm sáng tỏ mối liên hệ giữa các gen này với
đáp ứng thuốc cá nhân. Mặt khác, những nghiên
cứu về di truyền dược học trong tương lai sẽ cần
tiếp tục mở rộng và đào sâu hơn trong việc hướng
đến phân tích chức năng của các biến thể hiếm
trong các gen dược học-vốn chưa được quan tâm
nghiên cứu toàn diện.
Lời cảm ơn: Công trình được hoàn thành với sự
hỗ trợ của Viện nghiên cứu hệ gen, Viện Hàn lâm
Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Amin AM, Sheau Chin L, Azri Mohamed Noor D, Sk
Abdul Kader MA, Kah Hay Y, Ibrahim B (2017) The
personalization of clopidogrel antiplatelet therapy:
The role of integrative pharmacogenetics and
pharmacometabolomics. Cardiol Res Pract 2017:
8062796.
Amin S, Shah S, Desai M, Shah A, Maheriya KM
(2018) An analysis of adverse drug reactions in
extremes of age group at tertiary care teaching
hospital. Perspect Clin Res 9(2): 70-75.
Arbitrio M, Di Martino MT, Scionti F, Agapito G,
Guzzi PH, Cannataro M, Tassone P, Tagliaferri P
(2016) DMET (Drug metabolism enzymes and
transporters): a pharmacogenomic platform for
precision medicine. Oncotarget 7(33): 54028-54050.
Auton A, Brooks LD, Durbin RM, Garrison EP, Kang
HM, Korbel JO, Marchini JL, McCarthy S, McVean
GA, Abecasis GR (2015) A global reference for
human genetic variation Nature 526(7571): 68-74.
Barclay ML, Sawyers SM, Begg EJ, Zhang M,
Roberts RL, Kennedy MA, Elliott JM (2003)
Correlation of CYP2D6 genotype with perhexiline
phenotypic metabolizer status. Pharmacogenetics
13(10): 627-632.
Barysheva VO ,Ketova GG (2015) Pharmacogenetic
testing in population of South Ural. Int J Risk Saf Med
27 Suppl 1: S25-26.
Birdwell KA, Decker B, Barbarino JM, Peterson JF,
Stein CM, Sadee W, Wang D, Vinks AA, He Y, Swen
JJ, Leeder JS, van Schaik R, Thummel KE, Klein TE,
Caudle KE, MacPhee IAM (2015) Clinical
Pharmacogenetics Implementation Consortium
(CPIC) Guidelines for CYP3A5 genotype and
tacrolimus dosing. Clin Pharmacol Ther 98(1): 19-
24.
Cacabelos R, Cacabelos N, Carril JC (2019) The role
of pharmacogenomics in adverse drug reactions.
Expert Rev Clin Pharmacol 12(5): 407-442.
Cacabelos R (2012) World guide for drug use and
pharmacogenomics. EuroEspes Publishing. 2944.
Chaudhry AS, Urban TJ, Lamba JK, Birnbaum AK,
Remmel RP, Subramanian M, Strom S, You JH,
Kasperaviciute D, Catarino CB, Radtke RA, Sisodiya
SM, Goldstein DB, Schuetz EG (2010) CYP2C9*1B
promoter polymorphisms, in linkage with
CYP2C19*2, affect phenytoin autoinduction of
clearance and maintenance dose. J Pharmacol Exp
Ther 332(2): 599-611.
Chou FC, Tzeng SJ, Huang JD (2001) Genetic
polymorphism of cytochrome P450 3A5 in Chinese.
Vũ Phương Nhung et al.
412
Drug Metab Dispos 29(9): 1205-1209.
Chou WH, Yan FX, de Leon J, Barnhill J, Rogers T,
Cronin M, Pho M, Xiao V, Ryder TB, Liu WW,
Teiling C, Wedlund PJ (2000) Extension of a pilot
study: impact from the cytochrome P450 2D6
polymorphism on outcome and costs associated with
severe mental illness. J Clin Psychopharmacol 20(2):
246-251.
Ciszkowski C, Madadi P, Phillips MS, Lauwers AE,
Koren G (2009) Codeine, ultrarapid-metabolism
genotype, and postoperative death. N Engl J Med
361(8): 827-828.
Dai DP, Xu RA, Hu LM, Wang SH, Geng PW, Yang
JF, Yang LP, Qian JC, Wang ZS, Zhu GH, Zhang XH,
Ge RS, Hu GX, Cai JP (2014) CYP2C9
polymorphism analysis in Han Chinese populations:
building the largest allele frequency database.
Pharmacogenomics J 14(1): 85-92.
Daly AK, Aithal GP, Leathart JB, Swainsbury RA,
Dang TS, Day CP (2007) Genetic susceptibility to
diclofenac-induced hepatotoxicity: contribution of
UGT2B7, CYP2C8, and ABCC2 genotypes.
Gastroenterology 132(1): 272-281.
Desta Z, Zhao X, Shin JG, Flockhart DA (2002)
Clinical significance of the cytochrome P450 2C19
genetic polymorphism. Clin Pharmacokinet 41(12):
913-958.
Dodgen TM, Drogemoller BI, Wright GE, Warnich L,
Steffens FE, Cromarty AD, Alessandrini M, Pepper
MS (2015) Evaluation of predictive CYP2C19
genotyping assays relative to measured phenotype in
a South African cohort. Pharmacogenomics 16(12):
1343-1354.
Dolfin E, Guani B, Lussiana C, Mari C, Restagno G,
Revelli A (2011) FSH-receptor Ala307Thr
polymorphism is associated to polycystic ovary
syndrome and to a higher responsiveness to
exogenous FSH in Italian women. J Assist Reprod
Genet 28(10): 925-930.
Egbelakin A, Ferguson MJ, MacGill EA, Lehmann
AS, Topletz AR, Quinney SK, Li L, McCammack
KC, Hall SD, Renbarger JL (2011) Increased risk of
vincristine neurotoxicity associated with low
CYP3A5 expression genotype in children with acute
lymphoblastic leukemia. Pediatr Blood Cancer
56(3): 361-367.
Fohner AE, Robinson R, Yracheta J, Dillard DA,
Schilling B, Khan B, Hopkins S, Boyer B, Black J,
Wiener H, Tiwari HK, Gordon A, Nickerson D, Tsai
JM, Farin FM, Thornton TA, Rettie AE, Thummel KE
(2015) Variation in genes controlling warfarin
disposition and response in American Indian and
Alaska Native people: CYP2C9, VKORC1, CYP4F2,
CYP4F11, GGCX. Pharmacogenet Genomics 25(7):
343-353.
Garcia-Donas J, Esteban E, Leandro-Garcia LJ,
Castellano DE, Gonzalez del Alba A, Climent MA,
Arranz JA, Gallardo E, Puente J, Bellmunt J, Mellado
B, Martinez E, Moreno F, Font A, Robledo M,
Rodriguez-Antona C (2011) Single nucleotide
polymorphism associations with response and toxic
effects in patients with advanced renal-cell carcinoma
treated with first-line sunitinib: a multicentre,
observational, prospective study. Lancet Oncol
12(12): 1143-1150.
Garte S, Gaspari L, Alexandrie AK, Ambrosone C,
Autrup H, Autrup JL, Baranova H, Bathum L,
Benhamou S, Boffetta P, Bouchardy C, Breskvar K,
Brockmoller J, Cascorbi I, Clapper ML, Coutelle C,
Daly A, Dell'Omo M, Dolzan V, Dresler CM, Fryer
A, Haugen A, Hein DW, Hildesheim A, Hirvonen A,
Hsieh LL, Ingelman-Sundberg M, Kalina I, Kang D,
Kihara M, Kiyohara C, Kremers P, Lazarus P, Le
Marchand L, Lechner MC, van Lieshout EM, London
S, Manni JJ, Maugard CM, Morita S, Nazar-Stewart
V, Noda K, Oda Y, Parl FF, Pastorelli R, Persson I,
Peters WH, Rannug A, Rebbeck T, Risch A, Roelandt
L, Romkes M, Ryberg D, Salagovic J, Schoket B,
Seidegard J, Shields PG, Sim E, Sinnet D, Strange
RC, Stucker I, Sugimura H, To-Figueras J, Vineis P,
Yu MC, Taioli E (2001) Metabolic gene
polymorphism frequencies in control populations.
Cancer Epidemiol Biomarkers Prev 10(12): 1239-
1248.
Gordon AS, Fulton RS, Qin X, Mardis ER, Nickerson
DA, Scherer S (2016) PGRNseq: a targeted capture
sequencing panel for pharmacogenetic research and
implementation. Pharmacogenet Genomics 26(4):
161-168.
Han SM, Park J, Lee JH, Lee SS, Kim H, Han H, Kim
Y, Yi S, Cho JY, Jang IJ, Lee MG (2017) Targeted
Next-Generation Sequencing for Comprehensive
Genetic Profiling of Pharmacogenes. Clin Pharmacol
Ther 101(3): 396-405.
Hauser AS, Chavali S, Masuho I, Jahn LJ,
Martemyanov KA, Gloriam DE, Babu MM (2018)
Pharmacogenomics of GPCR Drug Targets. Cell
172(1-2): 41-54 e19.
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(3): 393-416, 2020
413
Helsby NA ,Burns KE (2012) Molecular mechanisms
of genetic variation and transcriptional regulation of
CYP2C19. Front Genet 3: 206.
Hsu HL, Woad KJ, Woodfield DG, Helsby NA (2008)
A high incidence of polymorphic CYP2C19 variants
in archival blood samples from Papua New Guinea.
Hum Genomics 3(1): 17-23.
Hulot JS, Collet JP, Silvain J, Pena A, Bellemain-
Appaix A, Barthelemy O, Cayla G, Beygui F,
Montalescot G (2010) Cardiovascular risk in
clopidogrel-treated patients according to cytochrome
P450 2C19*2 loss-of-function allele or proton pump
inhibitor coadministration: a systematic meta-
analysis. J Am Coll Cardiol 56(2): 134-143.
Imai J, Ieiri I, Mamiya K, Miyahara S, Furuumi H,
Nanba E, Yamane M, Fukumaki Y, Ninomiya H,
Tashiro N, Otsubo K, Higuchi S (2000)
Polymorphism of the cytochrome P450 (CYP) 2C9
gene in Japanese epileptic patients: genetic analysis of
the CYP2C9 locus. Pharmacogenetics 10(1): 85-89.
Isvoran A, Louet M, Vladoiu DL, Craciun D, Loriot
MA, Villoutreix BO, Miteva MA (2017)
Pharmacogenomics of the cytochrome P450 2C
family: impacts of amino acid variations on drug
metabolism. Drug Discov Today 22(2): 366-376.
Jin T, Zhang X, Geng T, Shi X, Wang L, Yuan D,
Kang L (2016) Genotype phenotype analysis of
CYP2C19 in the Tibetan population and its potential
clinical implications in drug therapy. Mol Med Rep
13(3): 2117-2123.
Katara P ,Yadav A (2019) Pharmacogenes (PGx-
genes): Current understanding and future directions.
Gene 718: 144050.
Kawanishi C, Lundgren S, Agren H, Bertilsson L
(2004) Increased incidence of CYP2D6 gene
duplication in patients with persistent mood disorders:
ultrarapid metabolism of antidepressants as a cause of
nonresponse. A pilot study. Eur J Clin Pharmacol
59(11): 803-807.
Kidd RS, Curry TB, Gallagher S, Edeki T, Blaisdell
J, Goldstein JA (2001) Identification of a null allele
of CYP2C9 in an African-American exhibiting
toxicity to phenytoin. Pharmacogenetics 11(9): 803-
808.
Kim HS, Mendiratta S, Kim J, Pecot CV, Larsen JE,
Zubovych I, Seo BY, Kim J, Eskiocak B, Chung H,
McMillan E, Wu S, De Brabander J, Komurov K,
Toombs JE, Wei S, Peyton M, Williams N, Gazdar
AF, Posner BA, Brekken RA, Sood AK, Deberardinis
RJ, Roth MG, Minna JD, White MA (2013)
Systematic identification of molecular subtype-
selective vulnerabilities in non-small-cell lung cancer.
Cell 155(3): 552-566.
Kirchheiner J, Nickchen K, Bauer M, Wong ML,
Licinio J, Roots I, Brockmoller J (2004)
Pharmacogenetics of antidepressants and
antipsychotics: the contribution of allelic variations to
the phenotype of drug response. Mol Psychiatry 9(5):
442-473.
Kirchheiner J, Schmidt H, Tzvetkov M, Keulen JT,
Lotsch J, Roots I, Brockmoller J (2007)
Pharmacokinetics of codeine and its metabolite
morphine in ultra-rapid metabolizers due to CYP2D6
duplication. Pharmacogenomics J 7(4): 257-265.
Kramer MA, Rettie AE, Rieder MJ, Cabacungan ET,
Hines RN (2008) Novel CYP2C9 promoter variants
and assessment of their impact on gene expression.
Mol Pharmacol 73(6): 1751-1760.
Lamba JK, Lin YS, Schuetz EG, Thummel KE (2002)
Genetic contribution to variable human CYP3A-
mediated metabolism. Adv Drug Deliv Rev 54(10):
1271-1294.
Lee CR, Goldstein JA, Pieper JA (2002) Cytochrome
P450 2C9 polymorphisms: a comprehensive review
of the in-vitro and human data. Pharmacogenetics
12(3): 251-263.
Lee SJ, Usmani KA, Chanas B, Ghanayem B, Xi T,
Hodgson E, Mohrenweiser HW, Goldstein JA (2003)
Genetic findings and functional studies of human
CYP3A5 single nucleotide polymorphisms in
different ethnic groups. Pharmacogenetics 13(8):
461-472.
Lek M, Karczewski KJ, Minikel EV, Samocha KE,
Banks E, Fennell T, O'Donnell-Luria AH, Ware JS,
Hill AJ, Cummings BB, Tukiainen T, Birnbaum DP,
Kosmicki JA, Duncan LE, Estrada K, Zhao F, Zou J,
Pierce-Hoffman E, Berghout J, Cooper DN, Deflaux
N, DePristo M, Do R, Flannick J, Fromer M, Gauthier
L, Goldstein J, Gupta N, Howrigan D, Kiezun A,
Kurki MI, Moonshine AL, Natarajan P, Orozco L,
Peloso GM, Poplin R, Rivas MA, Ruano-Rubio V,
Rose SA, Ruderfer DM, Shakir K, Stenson PD,
Stevens C, Thomas BP, Tiao G, Tusie-Luna MT,
Weisburd B, Won HH, Yu D, Altshuler DM,
Ardissino D, Boehnke M, Danesh J, Donnelly S,
Elosua R, Florez JC, Gabriel SB, Getz G, Glatt SJ,
Hultman CM, Kathiresan S, Laakso M, McCarroll S,
Vũ Phương Nhung et al.
414
McCarthy MI, McGovern D, McPherson R, Neale
BM, Palotie A, Purcell SM, Saleheen D, Scharf JM,
Sklar P, Sullivan PF, Tuomilehto J, Tsuang MT,
Watkins HC, Wilson JG, Daly MJ, MacArthur DG,
Exome Aggregation C (2016) Analysis of protein-
coding genetic variation in 60,706 humans. Nature
536(7616): 285-291.
Madadi P, Koren G, Cairns J, Chitayat D, Gaedigk A,
Leeder JS, Teitelbaum R, Karaskov T, Aleksa K
(2007) Safety of codeine during breastfeeding: fatal
morphine poisoning in the breastfed neonate of a
mother prescribed codeine. Can Fam Physician
53(1): 33-35.
Meienberg J, Bruggmann R, Oexle K, Matyas G
(2016) Clinical sequencing: is WGS the better WES?
Hum Genet 135(3): 359-362.
Merry CR, McMahon S, Forrest ME, Bartels CF,
Saiakhova A, Bartel CA, Scacheri PC, Thompson CL,
Jackson MW, Harris LN, Khalil AM (2016)
Transcriptome-wide identification of mRNAs and
lincRNAs associated with trastuzumab-resistance in
HER2-positive breast cancer. Oncotarget 7(33):
53230-53244.
Miao J, Liu R, Li Z (2009) Cytochrome P-450
polymorphisms and response to clopidogrel. N Engl J
Med 360(21): 2250-2251.
Myrand SP, Sekiguchi K, Man MZ, Lin X, Tzeng RY,
Teng CH, Hee B, Garrett M, Kikkawa H, Lin CY,
Eddy SM, Dostalik J, Mount J, Azuma J, Fujio Y,
Jang IJ, Shin SG, Bleavins MR, Williams JA,
Paulauskis JD, Wilner KD (2008)
Pharmacokinetics/genotype associations for major
cytochrome P450 enzymes in native and first- and
third-generation Japanese populations: comparison
with Korean, Chinese, and Caucasian populations.
Clin Pharmacol Ther 84(3): 347-361.
Niemi M, Pasanen MK, Neuvonen PJ (2011) Organic
anion transporting polypeptide 1B1: a genetically
polymorphic transporter of major importance for
hepatic drug uptake. Pharmacol Rev 63(1): 157-181.
Osanlou O, Pirmohamed M, Daly AK (2018)
Pharmacogenetics of Adverse Drug Reactions. Adv
Pharmacol 83: 155-190.
Passey C, Birnbaum AK, Brundage RC, Oetting WS,
Israni AK, Jacobson PA (2011) Dosing equation for
tacrolimus using genetic variants and clinical factors.
Br J Clin Pharmacol 72(6): 948-957.
Pereira NL, Geske JB, Mayr M, Shah SH, Rihal CS
(2016) Pharmacogenetics of Clopidogrel: An
Unresolved Issue. Circ Cardiovasc Genet 9(2): 185-
188.
Perera MA, Gamazon E, Cavallari LH, Patel SR,
Poindexter S, Kittles RA, Nicolae D, Cox NJ (2011)
The missing association: sequencing-based discovery
of novel SNPs in VKORC1 and CYP2C9 that affect
warfarin dose in African Americans. Clin Pharmacol
Ther 89(3): 408-415.
Petersen BS, Fredrich B, Hoeppner MP, Ellinghaus D,
Franke A (2017) Opportunities and challenges of
whole-genome and -exome sequencing. BMC Genet
18(1): 14.
Piacentini S, Polimanti R, Porreca F, Martinez-
Labarga C, De Stefano GF, Fuciarelli M (2011)
GSTT1 and GSTM1 gene polymorphisms in
European and African populations. Mol Biol Rep
38(2): 1225-1230.
Preissner SC, Hoffmann MF, Preissner R, Dunkel M,
Gewiess A, Preissner S (2013) Polymorphic
cytochrome P450 enzymes (CYPs) and their role in
personalized therapy. PLoS One 8(12): e82562.
Relling MV, Schwab M, Whirl-Carrillo M, Suarez-
Kurtz G, Pui CH, Stein CM, Moyer AM, Evans WE,
Klein TE, Antillon-Klussmann FG, Caudle KE, Kato
M, Yeoh AEJ, Schmiegelow K, Yang JJ (2019)
Clinical Pharmacogenetics Implementation
Consortium Guideline for Thiopurine Dosing Based
on TPMT and NUDT15 Genotypes: 2018 Update.
Clin Pharmacol Ther 105(5): 1095-1105.
Relling MV ,Klein TE (2011) CPIC: Clinical
Pharmacogenetics Implementation Consortium of the
Pharmacogenomics Research Network. Clin
Pharmacol Ther 89(3): 464-467.
Reynolds KK, Pierce DL, Weitendorf F, Linder MW
(2017) Avoidable drug-gene conflicts and
polypharmacy interactions in patients participating in
a personalized medicine program. Per Med 14(3):
221-233.
Rieck M, Schumacher-Schuh AF, Altmann V,
Callegari-Jacques SM, Rieder CRM, Hutz MH (2018)
Association between DRD2 and DRD3 gene
polymorphisms and gastrointestinal symptoms
induced by levodopa therapy in Parkinson's disease.
Pharmacogenomics J 18(1): 196-200.
Rogan PK, Svojanovsky S, Leeder JS (2003)
Information theory-based analysis of CYP2C19,
Tạp chí Công nghệ Sinh học 18(3): 393-416, 2020
415
CYP2D6 and CYP3A5 splicing mutations.
Pharmacogenetics 13(4): 207-218.
Sa ACC, Sadee W, Johnson JA (2018) Whole
Transcriptome Profiling: An RNA-Seq Primer and
Implications for Pharmacogenomics Research. Clin
Transl Sci 11(2): 153-161.
Sanford JC, Guo Y, Sadee W, Wang D (2013)
Regulatory polymorphisms in CYP2C19 affecting
hepatic expression. Drug Metabol Drug Interact
28(1): 23-30.
Scott SA, Sangkuhl K, Shuldiner AR, Hulot JS, Thorn
CF, Altman RB, Klein TE (2012) PharmGKB
summary: very important pharmacogene information
for cytochrome P450, family 2, subfamily C,
polypeptide 19. Pharmacogenet Genomics 22(2):
159-165.
Shoshi A, Muller U, Shoshi A, Ogultarhan V,
Hofestadt R (2017) KALIS - An eHealth System for
Biomedical Risk Analysis of Drugs. Stud Health
Technol Inform 236: 128-135.
Simon T, Verstuyft C, Mary-Krause M, Quteineh L,
Drouet E, Meneveau N, Steg PG, Ferrieres J, Danchin
N, Becquemont L, French Registry of Acute STE,
Non STEMII (2009) Genetic determinants of
response to clopidogrel and cardiovascular events. N
Engl J Med 360(4): 363-375.
Sorensen LB, Sorensen RN, Miners JO, Somogyi AA,
Grgurinovich N, Birkett DJ (2003) Polymorphic
hydroxylation of perhexiline in vitro. Br J Clin
Pharmacol 55(6): 635-638.
Sosa-Macias M, Lazalde-Ramos BP, Galaviz-
Hernandez C, Rangel-Villalobos H, Salazar-Flores J,
Martinez-Sevilla VM, Martinez-Fierro ML, Dorado
P, Wong ML, Licinio J, A LL (2013) Influence of
admixture components on CYP2C9*2 allele
frequency in eight indigenous populations from
Northwest Mexico. Pharmacogenomics J 13(6): 567-
572.
Wang D, Sun X, Gong Y, Gawronski BE, Langaee
TY, Shahin MH, Khalifa SI, Johnson JA (2012)
CYP2C9 promoter variable number tandem repeat
polymorphism regulates mRNA expression in human
livers. Drug Metab Dispos 40(5): 884-891.
Weinshilboum R (2003) Inheritance and drug
response. N Engl J Med 348(6): 529-537.
Wuttke H, Rau T, Heide R, Bergmann K, Bohm M,
Weil J, Werner D, Eschenhagen T (2002) Increased
frequency of cytochrome P450 2D6 poor
metabolizers among patients with metoprolol-
associated adverse effects. Clin Pharmacol Ther
72(4): 429-437.
Xie HG, Wood AJ, Kim RB, Stein CM, Wilkinson
GR (2004) Genetic variability in CYP3A5 and its
possible consequences. Pharmacogenomics 5(3):
243-272.
Yang W, Wu G, Broeckel U, Smith CA, Turner V,
Haidar CE, Wang S, Carter R, Karol SE, Neale G,
Crews KR, Yang JJ, Mullighan CG, Downing JR,
Evans WE, Relling MV (2016) Comparison of
genome sequencing and clinical genotyping for
pharmacogenes. Clin Pharmacol Ther 100(4): 380-
388.
Zanger UM, Raimundo S, Eichelbaum M (2004)
Cytochrome P450 2D6: overview and update on
pharmacology, genetics, biochemistry. Naunyn
Schmiedebergs Arch Pharmacol 369(1): 23-37.
Zhou SF, Liu JP, Chowbay B (2009) Polymorphism
of human cytochrome P450 enzymes and its clinical
impact. Drug Metab Rev 41(2): 89-295.
Zhou Y, Fujikura K, Mkrtchian S, Lauschke VM
(2018) Computational Methods for the
Pharmacogenetic Interpretation of Next Generation
Sequencing Data. Front Pharmacol 9: 1437.
Zhou ZW, Chen XW, Sneed KB, Yang YX, Zhang X,
He ZX, Chow K, Yang T, Duan W, Zhou SF (2015)
Clinical association between pharmacogenomics and
adverse drug reactions. Drugs 75(6): 589-631.
ata.html
https://cpicpgx.org/guidelines/
ata.html
Vũ Phương Nhung et al.
416
GENETIC VARIATION OF PHARMACOGENES
Vu Phuong Nhung1,2, Nguyen Dang Ton1,2, Nong Van Hai1,2, Nguyen Hai Ha1,2
1Institute of Genome Research, Vietnam Academy of Science and Technology
2Graduate University of Science and Technology, Vietnam Academy of Science and Technology
SUMMARY
Patient specific response against a particular drug could be affected by various factors, in which
genetic factors are the most crucial contributor. The genetic variability in pharmacogenes might result
in variable drug response of individuals, which in turn can lead to unexpected treatment outcomes or
even adverse drug reactions. The pharmacogenes include of genes that encode for several proteins
which divided into 3 main functional categories: drug metabolizing enzymes, drug transporters and
receptor-drug targets. Genetic variants of genes coding for drug metabolizing enzymes phase I
(CYP450), phase II (GSTs, UGT, TPMT) as well as drug transporters (ABC, SLCO) of numerous
populations in global have been extensively studied. Among these, SNPs are the major contributor
behind variants of pharmacogenes along with copy number variants. Furthermore, the clinical impact
on drug response of common variants belonging to several important pharmacogenes has been well
understood. On the other hand, information on the variant spectrum of genes encoding for receptor-
drug targets as well as their physiological effects have remained limited. In recent years, along with
computational methods, next generation sequencing technologies had been developed tremendously.
These high throughput methods had greatly promoted the field of pharmacogenetic research through
providing ability to detect novel and rare genetic variants. The data on genetic variants of
pharmacogenes would be valuable for determining the responder and non-responder to medication
during treatment. These are also significant basis which play a vital role in development of the field
of optimizing drug dose for individuals and personalized medicine in the future.
Keywords: adverse drug reactions, next generation sequencing, personalized medicine,
pharmacogenes, pharmacogenetic, variants.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
da_dang_di_truyen_mot_so_gen_duoc_hoc.pdf