Thách thức tiếp theo là ổn
định được môi trường trong bối
cảnh phát triển kinh tế nhanh.
Việt Nam được đánh giá có tốc
độ phát triển kinh tế nhanh trong
khu vực và trên thế giới, bình
quân 6,53%/năm trong giai đoạn
từ năm 2000-2017 (số liệu của
Tổng cục Thống kê). Tuy vậy,
cùng với sự phát triển kinh tế,
tình trạng ô nhiễm ngày một gia
tăng, đe dọa môi trường sống của
nhiều loài động, thực vật, đặc biệt
nghiêm trọng đối với các thủy vực
[23]. Bên cạnh đó, tốc độ phát
triển nhanh cũng kéo theo tốc độ
chuyển đổi đất và mở rộng các
đô thị [24], đã phần nào làm giảm
diện tích các sinh cảnh tự nhiên,
làm suy giảm không gian sống
của các loài động, thực vật hoang
dã. Thêm nữa, sự hình thành nên
hệ thống cơ sở giao thông và hạ
tầng phục vụ phát triển kinh tế
đã làm gia tăng khả năng cách ly
giữa các khu bảo tồn. Rõ ràng áp
lực phát triển kinh tế và áp lực bảo
tồn đa dạng sinh học, môi trường
đòi hỏi các quốc gia phải thay đổi
cách tiếp cận trong phát triển kinh
tế, định hướng đến một nền kinh
tế phát triển bền vững, và có thể
thấy rằng Việt Nam cũng không
thể tránh khỏi xu thế đó.
Thách thức trong nâng cao
nhận thức của cộng đồng. Các
chiến dịch nâng cao nhận thức là
một phần quan trọng trong công
tác bảo tồn đa dạng sinh học [21].
Trong những năm gần đây, công
tác tăng cường nhận thức cho
người dân sinh sống xung quanh
các khu rừng đặc dụng (vườn
quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên)
đã được quan tâm. Nhưng có thể
thấy rằng trình độ dân trí và mức
sống của người dân trong các khu
vực này là một trở ngại lớn trong
việc tiếp nhận kiến thức. Bên
cạnh đó, nhận thức liên quan đến
bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt
Nam cũng chưa được chú trọng ở
khu vực đô thị, trong khi tiềm lực
xã hội huy động cho công tác này
tập trung chủ yếu ở đây.
5 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 2 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đa dạng sinh học ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức bảo tồn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
57
Khoa học và đời sống
Số 5 năm 2020
đa dạng sinh học ở Việt nam
Để hiểu về đa dạng sinh học
ở Việt Nam thì trước hết cần hiểu
về đa dạng hệ sinh thái (nơi trú
ngụ của các loài sinh vật và có sự
tương tác với môi trường). Theo
các kết quả nghiên cứu, Việt Nam
nằm ở vị trí chuyển giao của nhiều
luồng sinh vật: phía đông mang
các đặc điểm địa sinh học của
dãy Hymalaya; phía nam có các
kiểu hệ sinh thái tương tự với các
hệ sinh thái biển đảo và đất liền
của khu vực Đông Nam Á; dãy
Trường Sơn là vùng chuyển tiếp
giữa kiểu khí hậu nhiệt đới và cận
nhiệt đới [1]. Bên cạnh các dãy
núi, Việt Nam còn có 16 hệ thống
sông chính, trong đó có hơn 10
hệ thống sông mà lưu vực có diện
Khoa họC Và Đời sống
đa dạng sinh học ở Việt nam:
THựC TRạNG Và THÁCH THỨC Bảo TồN
Trần Văn Bằng
Viện Sinh thái học miền nam, Viện hàn lâm Kh&cn Việt nam
Ngày quốc tế Đa dạng sinh học (22/5) năm 2020 có chủ đề: “Các giải
pháp của chúng ta sẵn có ở thiên nhiên”, kêu gọi con người sống hài
hoà với thiên nhiên, áp dụng các giải pháp dựa vào thiên nhiên để tạo
sự thay đổi tích cực, bảo vệ thiên nhiên, đa dạng sinh học và phát triển
bền vững. Ngày môi trường thế giới (5/6) năm 2020 cũng tập trung vào
chủ đề đa dạng sinh học. Năm nay cũng là năm quan trọng đối với các
quốc gia cam kết bảo tồn và khôi phục đa dạng sinh học, với sự kiện
Hội nghị quốc tế COP 15 về đa dạng sinh học - hội nghị bản lề chuẩn
bị cho Thập kỷ phục hồi hệ sinh thái của Liên hợp quốc (2021-2030), sẽ
được tổ chức vào cuối năm.
Việt Nam được đánh giá là 1 trong 25 quốc gia có sự đa dạng sinh học
cao. Tuy nhiên, cũng như nhiều quốc gia khác, chúng ta đang đứng
trước không ít thách thức khi mà bảo tồn đa dạng sinh học có liên quan
mật thiết tới các vấn đề chính trị, phát triển kinh tế và ổn định xã hội.
Chà vá chân nâu (Tên khoa học: Pygathrix nemaeus), một trong những loài linh trưởng
đẹp nhất trên thế giới, trên bán đảo Sơn Trà (ảnh: Trần Văn Bằng).
58
Khoa học và đời sống
Số 5 năm 2020
tích trên 10.000 km2 như hệ thống
sông Hồng, sông Cửu Long, sông
Đồng Nai... Bên cạnh hệ sinh thái
rừng thì Việt Nam còn có nhiều
kiểu hệ sinh thái khác như trảng
cỏ, đất ngập nước nội địa, đồi cát,
bãi bồi ven biển, cửa sông, bãi cỏ
biển, rạn san hô và vùng biển sâu
[2]. Song song đó còn có các hệ
sinh thái nhân tạo như đập nước,
đất nông nghiệp, đô thị.
Đa dạng về hệ sinh thái là cơ
sở cho sự đa dạng loài động, thực
vật, vi sinh vật. Việt Nam nằm
trong khu vực Indo - Burma, là 1
trong 25 điểm nóng về đa dạng
sinh học toàn cầu [3]. Đa dạng
sinh học ở Việt Nam đứng thứ
16 trên thế giới [4]. Một thống kê
chưa đầy đủ vào năm 2011 cho
thấy, Việt Nam là nơi trú ngụ của
13.766 loài thực vật, 10.300 loài
động vật trên cạn (312 loài thú,
840 loài chim, 167 loài ếch nhái,
317 loài bò sát, trên 7.700 loài
côn trùng, và nhiều loài động vật
không xương sống khác) [5]. Số
loài sinh vật nước ngọt đã được
biết đến là hơn 1.438 loài vi tảo,
800 loài động vật không xương
sống, 1.028 loài cá nước ngọt.
Số lượng loài sinh vật biển được
biết là hơn 11.000 loài (6.300 loài
động vật đáy, 2.500 loài cá biển,
653 loài rong biển, 657 loài động
vật nổi, 537 loài thực vật nổi, 94
loài thực vật ngập mặn, 225 loài
tôm biển, 14 loài cỏ biển, 15 loài
rắn biển, 25 loài thú biển và 5 loài
rùa biển) [5].
Các con số thống kê nêu trên
chưa thực sự phản ánh đầy đủ
tính đa dạng sinh học của Việt
Nam, khi mà số lượng loài mới
được phát hiện không ngừng
tăng nhanh trong những năm gần
đây. Ví dụ, hơn 18 loài côn trùng
mới được công bố vào năm 2017
chỉ từ một nghiên cứu [6], 5 loài
mới của một giống thực vật mới
cũng đã được mô tả từ một công
trình vào năm 2014 [7]. Điều đó
chứng minh nguồn tài nguyên về
đa dạng loài động, thực vật ở Việt
Nam chưa thực sự được hiểu biết
đầy đủ.
Một đặc điểm nổi bật trong
nguồn tài nguyên về đa dạng sinh
học ở Việt Nam là tính đặc hữu về
loài, đồng thời cũng là về nguồn
gen quý hiếm. Thống kê từ cơ sở
dữ liệu các nhóm động, thực vật
cho thấy, Việt Nam có ít nhất 467
loài động vật đặc hữu, cao hơn
nhiều so với các quốc gia lân cận
như Lào, Campuchia, Thái Lan
(bảng 1). Bên cạnh đó, Việt Nam
có đến 25 giống thực vật có mạch
đặc hữu, trong khi con số này ở
Lào là 3 và Campuchia là 1. Rõ
ràng nguồn gen thực vật đặc hữu
này là nguồn tài nguyên vô cùng
quý giá mà Việt Nam có được.
Tính đặc hữu ở Việt Nam trong
khu hệ động vật đã ngày một gia
tăng khi số lượng nghiên cứu về
côn trùng được mở rộng ra các
nhóm đối tượng khác như Chuồn
chuồn (Bộ Odonata), Bọ cánh
cứng (Bộ Coleoptera), Bọ ngựa
(Bộ bọ ngựa Mantodea), Bọ que
(Bộ Phasmatodea). Một số phát
hiện điển hình đã gia tăng tính
đặc hữu về động vật ở Việt Nam
như phát hiện các giống và loài
côn trùng mới cho Việt Nam [6,
8-10]. Những nghiên cứu trên đã
thêm khẳng định tính độc đáo về
đa dạng sinh học của Việt Nam
và giá trị to lớn trong sự đa dạng
về nguồn gen sinh vật.
tình trạng bảo tồn
Giá trị đa dạng sinh học cao
nhưng hiện trạng tình trạng bảo
tồn về đa dạng sinh học cũng là
một vấn đề cấp bách của quốc
gia. Có thể nói hiện trạng đa dạng
sinh học ở Việt Nam chịu nhiều
ảnh hưởng bởi lịch sử chiến tranh
và nền văn hóa phụ thuộc vào
nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Trong thời kỳ chiến tranh, ít nhất
2,2 triệu ha rừng đã bị ảnh hưởng
trong giai đoạn 1943-1973 [11].
Sự suy giảm nguồn tài nguyên
rừng tiếp tục diễn ra sau khi chiến
tranh kết thúc do nhu cầu phát
triển kinh tế [4, 11, 12]. Bên cạnh
đó, sử dụng động vật hoang dã để
phục vụ nhu cầu sống của cộng
Bảng 1. Thống kê tính đặc hữu về động, thực vật ở Việt Nam so sánh với các quốc gia lân
cận.
Đối tượng đặc hữu Việt Nam Lào Campuchia Thái Lan Malaysia Myanmar
Số loài thú 27 5 6 32 7
Số loài chim 9 1 2 2 10 10
Số loài bò sát 132 29 7 83 165 78
Số loài lưỡng cư 92 13 6 35 110 21
Số loài cá nước ngọt 170 92 10 104 113 177
Số loài cá biển 7 16 8 3
Số giống động vật 10 4 1 7 16 6
Số loài bướm phượng và bướm giáp 30 2 2 11 7
Số giống thực vật có mạch 25 3 1 18 34 7
Số Họ và Bộ 3 2 2
59
Khoa học và đời sống
Số 5 năm 2020
đồng dân cư sống dựa vào rừng
đã đẩy nhiều loài động vật đứng
trước nguy cơ tuyệt chủng, đơn
cử như đối với các loài linh trưởng
[13]. Bên cạnh đó là nhiều nguyên
nhân khác như: chuyển đổi đất
khi chưa có đủ luận cứ khoa học,
phát triển cơ sở hạ tầng, loài
ngoại lai xâm hại, khai thác quá
mức nguồn tài nguyên, ô nhiễm
môi trường, và áp lực từ việc tăng
nhanh dân số [4, 14, 15].
Từ những hệ quả trên, nhiều
loài động, thực vật ở Việt Nam
đã được các chuyên gia trong và
ngoài nước đánh giá. Kết quả đến
năm 2007 cho thấy, có ít nhất 4
loài động vật và 1 loài thực vật
đã được xem là tuyệt chủng ở
Việt Nam [16] như loài Heo vòi
(Tapirus indicus), Tê giác 2 sừng
(Dicerorhinus sumatrensis).
Gần đây nhất (2012) là sự tuyệt
chủng của loài Tê giác 1 sừng
(Rhinoceros sondaicus) [17]. Số
lượng loài động, thực vật đã tuyệt
chủng và đang đứng trước nguy
cơ tuyệt chủng tại Việt Nam được
đánh giá là 732 loài (trong 855 loài
được đánh giá), trong đó có 424
loài thực vật [18] và 308 loài động
vật [16]. Một thực tế là công tác
đánh giá đã thực hiện khá lâu và
hiện trạng của nhiều loài cũng đã
thay đổi. Do vậy, cập nhật lại tình
hình bảo tồn của các loài sinh vật
ở Việt Nam là nhu cầu cấp thiết,
giúp hoạch định các chiến lược ưu
tiên bảo tồn về sau (bảng 2).
Không chỉ vậy, số lượng các
loài có nguy cơ tuyệt chủng toàn
cầu có phân bố ở Việt Nam hiện
cũng rất nhiều. Theo dữ liệu từ
Danh lục đỏ IUCN năm 2020 [19],
tổng cộng có 6.640 loài sinh vật
đã được đánh giá, trong đó có
1.081 loài (gồm 771 loài động
vật và 310 loài thực vật) đang
có nguy cơ tuyệt chủng, chiếm
16,28% tổng số loài đã được đánh
giá (bảng 3). Con số này đã tăng
hơn so với tỷ lệ 13% ở năm 2012
[16]. Như vậy có thể thấy rằng
số lượng loài động, thực vật cần
được bảo tồn ở Việt Nam là rất lớn
và có thể xem đây là một thách
thức không hề nhỏ đối với công
tác bảo tồn đa dạng sinh học ở
Việt Nam.
Có thể nói, những vấn đề liên
quan đến đa dạng sinh học ở
Việt Nam ngày càng trở nên cấp
Bảng 2. Thống kế số lượng loài động, thực vật đang có nguy cơ tuyệt chủng và đã
tuyệt chủng theo Sách đỏ Việt Nam.
Các bậc xếp hạng*
EX EW CR EN VU Tổng
Thực vật 1 37 179 207 424
Magnoliophyta (Ngành ngọc lan)
Dicotyledones (Lớp 2 lá mầm) 29 96 147 272
Monocotyledones (Lớp 1 lá mầm) 1 4 69 34 108
Pinophyta (Ngành thông) 4 4 18 26
Polypodiophyta (Ngành dương xỉ) 1 1 2
Lycopodiophyta (Ngành thông đất) 1 1
Rhodophyta (Ngành rong đỏ) 5 2 7
Phaeophyta (Ngành rong nâu) 1 4 5
Mycophyta (Ngành nấm) 3 3
Động vật 4 2 47 89 166 308
Vertebrata (Động vật có xương sống) 4 2 37 73 102 218
Mammalia (Lớp thú) 4 1 12 30 30 77
Aves (Lớp chim) 11 17 25 53
Reptile - Amphibia (Lớp bò sát - lưỡng
cư) 1 11 22 19 53
Fishes (Các lớp cá) 3 4 28 35
Invertebrates (Động vật không
xương sống) 10 16 64 90
Crustaceae (Giáp xác) 0 2 13 15
Mollusca (Thân mềm) 7 5 26 38
Insecta (Côn trùng) 3 6 9 18
Cnidaria (San hô) 3 10 13
Echinodermata (Da gai) 5 5
Xiphosura (Giáp cổ) 1 1
Tổng 4 3 84 268 373 732
*các bậc xếp hạng giữa iucn và Sách đỏ Việt nam là giống nhau, như sau: EX: tuyệt chủng; EW:
tuyệt chủng ngoài tự nhiên, cR: rất nguy cấp; En: nguy cấp; Vu: sẽ nguy cấp.
60
Khoa học và đời sống
Số 5 năm 2020
bách. Tín hiệu đáng mừng là công
tác bảo tồn đa dạng sinh học đã
được Chính phủ nhìn nhận và
hoàn thiện khung pháp lý. Đáng
kể nhất là Luật Đa dạng sinh học
năm 2008, Luật Lâm nghiệp năm
2018, Chiến lược quốc gia về bảo
tồn đa dạng sinh học năm 2014.
Nhiều kế hoạch hành động bảo
tồn cho nhóm loài đang có nguy
cơ tuyệt chủng cao đã được đưa
ra, như kế hoạch bảo tồn rùa
biển, voi, hổ, linh trưởng, thú ăn
thịt nhỏ Và nhiều văn bản pháp
luật liên quan đến công tác thực
thi pháp luật, bảo tồn đa dạng
sinh học như Nghị định 06/2019/
NĐ-CP liên quan đến động, thực
vật rừng ưu tiên bảo tồn, Nghị
định 26/2019/NĐ-CP liên quan
đến thủy sản ưu tiên bảo tồn.
thách thức bảo tồn đa dạng sinh học
Vai trò của ngành bảo tồn đa
dạng sinh học ngày một tăng
lên và đã trở thành một phần mở
rộng của xã hội, kinh tế, chính trị;
đồng thời gắn liền với các chiến
dịch nâng cao nhận thức như một
phần của nền kinh tế bền vững
[20]. Ở Việt Nam, bảo tồn đa
dạng sinh học có thể tính từ khi
Chính phủ thành lập Vườn quốc
gia Cúc Phương (1962), mở đầu
cho một hệ thống vườn quốc gia
và các rừng đặc dụng ở Việt Nam.
Sự hình thành nên hệ thống pháp
luật liên quan đến đa dạng sinh
học về sau khẳng định hệ thống
chính trị của Việt Nam đã đưa
bảo tồn đa dạng sinh học là một
vấn đề quốc gia, và gắn liền nó
với sự phát triển kinh tế. Tuy vậy
trong bối cảnh phát triển như hiện
nay, bảo tồn đa dạng sinh học ở
Việt Nam đang đứng trước nhiều
thách thức, đòi hỏi sự chung tay
của cả xã hội.
Đầu tiên là thách thức trong
việc giữ ổn định hệ sinh thái hiện
có để đảm bảo điều kiện tồn tại
và phát triển của các loài sinh
vật. Mặc dù Việt Nam đã công bố
Chiến lược quốc gia về bảo tồn
đa dạng sinh học, quy hoạch hệ
thống rừng đặc dụng và các khu
bảo tồn biển để bảo tồn đa dạng
sinh học đến năm 2020, định
hướng đến năm 2030 (Quyết định
45/QĐ-TTg ngày 8/1/2014). Tuy
nhiên, có thể thấy diện tích bảo
tồn của các khu vực được bảo vệ
không thực sự đủ lớn (phần lớn
có diện tích dưới 50.000 ha) để
đảm bảo cho nhiều loài động vật
có kích thước lớn như voi, hổ. Bên
cạnh đó, sự tác động do biến đổi
khí hậu cũng đe dọa đa dạng sinh
học của Việt Nam. Ước tính có ít
nhất 38,9% diện tích Đồng bằng
sông Cửu Long và 16,8% diện
tích Đồng bằng sông Hồng sẽ
bị ngập nếu nước biển dâng lên
100 cm [21]. Các hệ sinh thái ven
biển ở Việt Nam cũng chịu ảnh
hưởng [22]. Rõ ràng đây là một
thách thức không hề nhỏ và cần
có thêm các nghiên cứu liên quan
để từ đó kịp thời đưa ra được các
giải pháp thích ứng.
Thách thức tiếp theo là ổn
định được môi trường trong bối
cảnh phát triển kinh tế nhanh.
Việt Nam được đánh giá có tốc
độ phát triển kinh tế nhanh trong
khu vực và trên thế giới, bình
quân 6,53%/năm trong giai đoạn
từ năm 2000-2017 (số liệu của
Tổng cục Thống kê). Tuy vậy,
cùng với sự phát triển kinh tế,
tình trạng ô nhiễm ngày một gia
tăng, đe dọa môi trường sống của
nhiều loài động, thực vật, đặc biệt
nghiêm trọng đối với các thủy vực
[23]. Bên cạnh đó, tốc độ phát
Bảng 3. Thống kê số lượng loài đang bị đe dọa được đánh giá theo iUCN.
Các bậc xếp hạng*
CR EN VU NT Tổng
Thực vật 55 102 113 40 310
Cycadopsida (Ngành tuế) 2 4 8 10 24
Liliopsida (Ngành 1 lá mầm) 23 28 12 10 73
Magnoliophyta (Ngành ngọc lan) 28 64 86 13 191
Pinophyta (Ngành thông) 2 6 7 7 22
Động vật 75 145 284 267 771
Vertebrata (Động vật có xương sống) 61 115 170 136 482
Actinopterygii (Lớp cá xương) 10 13 36 29 88
Amphibia (Lớp lưỡng cư) 2 28 21 16 67
Aves (Lớp chim) 11 19 28 50 108
Chondrichthyes (Lớp cá sụn) 10 12 20 19 61
Mammalia (Lớp thú) 14 21 27 12 74
Reptilia (Lớp bò sát) 14 22 38 10 84
Invertebrates (Động vật không xương sống) 14 30 114 131 289
Arthropoda (Động vật chân khớp) 5 8 17 5 35
Cnidaria (San hô) 0 4 83 122 209
Echinodermata (Da gai) 5 5 10
Mollusca (Thân mềm) 9 13 9 4 35
Tổng 130 247 397 307 1081
*các bậc xếp hạng theo iucn cũng tương tự như Sách đỏ Việt nam. ngoài ra, có thêm nT: gần
bị đe dọa.
61
Khoa học và đời sống
Số 5 năm 2020
triển nhanh cũng kéo theo tốc độ
chuyển đổi đất và mở rộng các
đô thị [24], đã phần nào làm giảm
diện tích các sinh cảnh tự nhiên,
làm suy giảm không gian sống
của các loài động, thực vật hoang
dã. Thêm nữa, sự hình thành nên
hệ thống cơ sở giao thông và hạ
tầng phục vụ phát triển kinh tế
đã làm gia tăng khả năng cách ly
giữa các khu bảo tồn. Rõ ràng áp
lực phát triển kinh tế và áp lực bảo
tồn đa dạng sinh học, môi trường
đòi hỏi các quốc gia phải thay đổi
cách tiếp cận trong phát triển kinh
tế, định hướng đến một nền kinh
tế phát triển bền vững, và có thể
thấy rằng Việt Nam cũng không
thể tránh khỏi xu thế đó.
Thách thức trong nâng cao
nhận thức của cộng đồng. Các
chiến dịch nâng cao nhận thức là
một phần quan trọng trong công
tác bảo tồn đa dạng sinh học [21].
Trong những năm gần đây, công
tác tăng cường nhận thức cho
người dân sinh sống xung quanh
các khu rừng đặc dụng (vườn
quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên)
đã được quan tâm. Nhưng có thể
thấy rằng trình độ dân trí và mức
sống của người dân trong các khu
vực này là một trở ngại lớn trong
việc tiếp nhận kiến thức. Bên
cạnh đó, nhận thức liên quan đến
bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt
Nam cũng chưa được chú trọng ở
khu vực đô thị, trong khi tiềm lực
xã hội huy động cho công tác này
tập trung chủ yếu ở đây.
Thách thức trong việc thực thi
các luật liên quan về đa dạng sinh
học. Một điều thuận lợi là hệ thống
pháp luật của Việt Nam liên quan
đến các loài quý hiếm và ưu tiên
bảo tồn đã được hình thành, bao
gồm cả danh sách loài và hình
thức xử phạt. Tuy nhiên, hệ thống
luật và chính sách này lại thiếu
các hướng dẫn thực thi, còn có sự
chồng chéo về trách nhiệm giữa
các chính sách và luật trong khi
thiếu sự giải thích chi tiết, đã dẫn
đến tình trạng xung đột giữa các
văn bản pháp luật, gây khó khăn
trong quá trình thực thi [2]. Do đó,
trong thời gian tới, các dự án hoàn
thiện hệ thống cơ sở pháp luật và
chính sách liên quan đến đa dạng
sinh học của Việt Nam nên là một
trong những ưu tiên của quốc gia
[2] ?
tài LiỆu thaM Khảo
[1] E.J. Sterling, M.M. Hurley, Duc
Minh Le (2006), Vietnam: A Natural
History, Yale University Press, New Haven
and London.
[2] Ministry of Natural Resources and
Environment (2014), Vietnam National
Biodiversity Strategy to 2020, Vision to
2030.
[3] N. Myers, R.A. Mittermeier,
C.G. Mittermeier, G.A.B.D. Fronseca,
J. Kent (2000), “Biodiversity hotspots
for conservation priorites”, Nature, 403,
pp.853-858.
[4] World Bank (2005), Vietnam
Environment Monitor 2005: Biodiversity.
[5] Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011),
Báo cáo quốc gia về Đa dạng sinh học.
[6] D.T. Nguyen, J. Gómez-Zurita
(2017), “Diversity and trophic ecology of
the Monoleptites group (Chrysomelidae:
Galerucinae, Luperini) in the Nui Chua
National Park (S Vietnam) with description
of new species of Monolepta Chevrolat
and Paleosepharia Laboissière”, Journal
of Asia-Pacific Entomology, 20(1), pp.65-
87.
[7] D.J. Middleton, H. Atkins, Hong
Truong Luu, K. Nishi, and M. Moller (2014),
“Billolivia, a new genus of Gesneriaceae
from Vietnam with five new species”,
Phytotaxa, 161(4), pp.241-269.
[8] J. Bresseel, J. Constant (2015), “The
New Genus of Stick Insect Lobofemora from
Vietnam, with the description of three new
species (Phasmida: Phasmatidae: Clitumnini)”,
European Journal of Taxonomy, 115, pp.1-25.
[9] J. Bresseel, J. Constant (2018),
“Two new stick insect genera from Vietnam,
Nuichua gen. nov. and Pterohirasea gen.
nov. with two new species (Phasmida:
Diapheromeridae: Necrosciinae)”, Belgian
Journal of Entomology, 70, pp.1-29.
[10] X.H.C. Vermeersch (2018),
“Euchomenella adwinae sp. nov., a small
stick mantis from southern Central Vietnam
(Mantodea: Mantidae: Deroplatyinae:
Euchomenellini)”, Belgian Journal of
Entomology, 63, pp.1-9.
[11] R.D. Koninck (1999), Deforestation
in Vietnam.
[12] Forest Science Institute of Vietnam
(2009), Vietnam forestry outlook study.
[13] I.G. Baird, Dinh Duc Ha (1996),
“Primates in Vietnam”, International
Primate Protection League - News, 23(3),
pp.9-12.
[14] P.K. Loc, M.D. Yen, L. Averyanov
(2019), “Biodiversity in Vietnam”, Global
Biodiversity: Vollume 1 - Selected
Countries in Asia, pp.473-502.
[15] J.S.D. Queiroz, D. Griswold, N.D.
Tu, and P. Hall (2013), Vietnam Tropical
Forest and Biodiversity Assessment.
[16] Bộ KH&CN, Viện Hàn lâm KH&CN
Việt Nam (2007), Sách đỏ Việt Nam - Phần
I. Động vật, NXB Khoa học và Kỹ thuật.
[17] S.M. Brook, P.V.C.D. Groot, C.
Scott, P. Boag, B. Long, R.E. Ley, G.H.
Reischer, A.C. Williams, S.P. Mahood, T.M.
Hien, G. Polet, N. Cox, B.T. Hai (2012),
“Integrated and novel survey methods
for rhinoceros populations confirm the
extinction of Rhinoceros sondaicus
annamiticus from Vietnam”, Biological
Conservation, 155, pp.59-67.
[18] Bộ KH&CN, Viện Hàn lâm KH&CN
Việt Nam (2007), Sách đỏ Việt Nam - Phần
II. Thực vật, NXB Khoa học và Kỹ thuật.
[19]
[20] M.J. Jeffries (2006), Biodiversity
and Conservation.
[21] Bộ Tài nguyên và Môi trường
(2016), Kịch bản Biến đổi khí hậu và nước
biển dâng cho Việt Nam.
[22]vhttps://www.worldbank.org/vi/
country/vietnam/overview.
[23] General Statistics Office (2011),
Vietnam Population and Housing Census
2009 - Migration and Urbanization in
Vietnam: Patterns, Trend and Differentials,
p.140.
[24] D.K. Rosenberg, B.R. Noon, E.C.
Meslow (1997), “Biological Corridors:
Form, Function, and Efficacy”, BioScience,
47, pp.677-687.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
da_dang_sinh_hoc_o_viet_nam_thuc_trang_va_thach_thuc_bao_ton.pdf