Định lượng erythritol trong canh trường
Định lượng bằng phương pháp đo mật độ quang
Sau khi khảo sát các bước sóng
trong dải từ 190 nm đến 850 nm,
chúng tôi xác định bước sóng hấp thụ
tốt nhất của erythritol là λ = 210 nm
đồng thời, xây dựng phương trình
tuyến tính y = 0,1144x + 0,0012 với
độ tin cậy 99,7%. Trên cơ sở đó, xác
định được nồng độ erythritol có trong
canh trường là 41,78 mg/ml.
Định lượng bằng sắc ký lỏng cao áp
Qua phân tích canh trường trên hệ thống sắc ký lỏng cao áp chúng tôi thu được
kết quả canh trường có chứa hàm lượng erythritol là 34,9 mg/ml. Kết quả này không
khác nhiều so với kết quả định lượng bằng phương pháp đo mật độ quang, sự chênh
lệch kết quả giữa hai phương pháp có thể do một số nguyên nhân như: Thao tác tiến
hành thí nghiệm, dụng cụ và trang thiết bị, bước làm sạch canh trường trước khi đưa
vào phân tích chưa triệt để nên canh trường có thể còn nhiều tạp chất có cùng bước
sóng hấp thụ cực đại với erythritol mà phương pháp đo mật độ quang không phát hiện
được. So sánh với các nghiên cứu tương tự trên thế giới, theo báo cáo của Hee Jung
Moon và cộng sự (2010) sau 9 ngày lên men liên tục, đã thu được canh trường có hàm
lượng erythritol là 95,7 mg/ml. Như vậy, kết quả đề tài có thể được ghi nhận là bước
đầu nghiên cứu quy trình sản xuất erythritol ở quy mô phòng thí nghiệm.
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đa dạng sinh học và khả năng ứng dụng của nấm men đen trong sản xuất Erythritol, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 06, 03 - 2014 89
ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CỦA
NẤM MEN ĐEN TRONG SẢN XUẤT ERYTHRITOL
ĐỖ THỊ THU HỒNG
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trước tình hình gia tăng của các chứng bệnh như tiểu đường, huyết áp cao,
béo phì, nhu cầu về các loại thực phẩm “không béo”, “không đường”, “nghèo năng
lượng” ngày càng trở nên cấp thiết. Erythritol là một trong các polyol được sử dụng
để thay thế các loại đường giàu năng lượng trong nhiều loại thực phẩm và được coi
là loại đường ăn kiêng cao cấp nhất hiện nay. Tác dụng của erythritol đã và đang
được ứng dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, và một
số nước châu Âu [6]. Việt Nam hiện chưa sản xuất được erythritol mà thường phải
nhập khẩu từ nước ngoài để dùng làm nguyên liệu đầu vào cho một số ngành sản
xuất bánh kẹo, thực phẩm chức năng, tuy nhiên giá nhập khẩu khá cao và nguồn
cung thường không ổn định.
Erythritol có thể được sản xuất bằng con đường lên men nhờ vi sinh vật trong đó vi
sinh vật thường dùng là một số chi nấm thuộc nhóm nấm men đen và một vài chủng vi
khuẩn [1]. Do quá trình chuyển hóa glucose tạo erythritol ở vi khuẩn mất nhiều thời gian
và không triệt để nên chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đa dạng sinh học và khả năng sinh
tổng hợp erythritol của nhóm nấm men đen phân lập trên địa bàn Hà Nội, Việt Nam.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng
Nấm men đen thường phân bố ở những nơi nhiều dầu, mỡ hoặc có nồng độ
đường cao [1, 2]. Vì vậy, chúng tôi đã tiến hành thu thập 93 mẫu ở các vị trí khác nhau
trên địa bàn Hà Nội, trong đó gồm 66 mẫu mùn thớt, 15 mẫu nhụy hoa, 12 mẫu dầu mỡ.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Các mẫu thu về được pha loãng tới nồng độ thích hợp sau đó cấy gạt trên môi
trường malt-glucose 2°Bx (1% malt, 1% glucose, 1,5% agar, nước cất), nuôi cấy ở
nhiệt độ 25oC trong 7 ngày. Các khuẩn lạc nghi ngờ là nấm men đen được làm tiêu
bản và soi dưới kính hiển vi Olympus BX51 ở độ phóng đại 400 lần, chụp ảnh thông
qua camera kỹ thuật số Nikon 7.1 bằng phần mềm AMCap. Chọn lấy các khuẩn lạc
đại diện tiến hành làm sạch và giữ giống.
Sau khi phân lập, chúng tôi phân nhóm các chủng nấm men dựa trên hình thái
khuẩn lạc và tế bào. Các chủng có hình dạng, kích thước, màu sắc khuẩn lạc và tế bào
tương đối giống nhau được đưa vào một nhóm. Tiếp theo, chọn ra các chủng đại diện
cho mỗi nhóm khảo sát khả năng chuyển hóa đường tạo erythritol. Tiến hành theo các
bước: làm giàu các chủng trong môi trường YM (3% cao malt, 3% cao nấm men, 5%
pepton, 10% glucose, nước cất) ở nhiệt độ 30oC trong 3 ngày, bổ sung môi trường
khảo sát khả năng chuyển hóa đường (3% cao nấm men, 5% pepton, 20% đường
(glucose/sucrose/maltose), nước cất), phân tích canh trường bằng sắc ký bản mỏng
tại các thời điểm: 0 ngày, 3 ngày, 5 ngày, 9 ngày với hệ dung môi ethyl acetate -
acetic acid - H2O (8:3:2, v/v/v), thuốc thử KMnO4 1%.
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 06, 03 - 2014 90
Chọn chủng có khả năng chuyển hóa đường tạo erythritol tốt nhất để khảo sát
đặc điểm sinh lý, sinh hóa bao gồm: Ảnh hưởng của pH ban đầu, ảnh hưởng của
nồng độ cơ chất glucose và ảnh hưởng của nhiệt độ nuôi cấy [5]. Tiến hành nuôi cấy
các chủng trong điều kiện tối ưu vừa tìm được, thu canh trường sau đó xác định hàm
lượng erythritol bằng phương pháp đo mật độ quang ở bước sóng λ = 210 nm và
phân tích trên sắc ký lỏng cao áp (Detector: RI, cột NH2 dài 250 mm, tốc độ dòng
1 ml/phút, nhiệt độ phòng, hệ dung môi acetonitrile : H2O = 7 : 3) [4].
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Phân lập và phân nhóm nấm men
Các khuẩn lạc có màu sắc là các gam màu tối (nâu, xanh đen, đen...) hay các
khuẩn lạc có màu trắng, nhưng bề mặt xốp, dễ gạt bằng que cấy được làm tiêu bản
quan sát hình thái tế bào. Những chủng có tế bào gồm dạng hình cầu và hình que kèm
theo đứt gãy nhiều được giữ lại để làm sạch và bảo quản trong các ống Cryotype sử
dụng cho các nghiên cứu tiếp theo. Hình 1 mô tả kết quả phân lập mẫu 08, quan sát
thấy có rất nhiều các khuẩn lạc có màu đen, bề mặt xốp phân bố đều trên bề mặt
thạch, đây là hình thái khuẩn lạc điển hình của nhóm nấm men đen. Từ 93 mẫu khác
nhau, chúng tôi đã phân lập được 161 chủng nấm men đen, trong đó mẫu mùn thớt
thu được số chủng nấm nem nhiều hơn cả, mẫu dầu mỡ lấy trong các bếp nấu có rất
ít có lẽ do đây là nơi nấu nướng có nhiệt độ cao nên nấm men phát triển kém.
Hình 1. Kết quả phân lập mẫu 08 độ pha loãng 10-1
Trong quá trình nghiên cứu thì phân nhóm là một bước quan trọng giúp việc
khảo sát khả năng chuyển hóa đường đơn giản hơn. Các chủng được nuôi cấy trên
cùng một loại môi trường, trong cùng một khoảng thời gian với các điều kiện nhiệt
độ, độ ẩm... tương tự để tiến hành quan sát hình thái khuẩn lạc và tế bào dùng làm
cơ sở để phân nhóm sơ bộ các chủng nấm men phân lập được.
Sau 1 tuần nuôi cấy, hình thái khuẩn lạc và tế bào của các chủng khác nhau
phân hóa khá rõ ràng và đa dạng, trong đó nhiều chủng có khuẩn lạc khác nhau
nhưng tế bào lại có nhiều điểm tương đồng, ngược lại nhiều chủng có khuẩn lạc
giống nhau nhưng lại có hình thái tế bào rất khác nhau. Kết quả đã thu được 24
nhóm nấm men đen. Hình 2 mô tả đặc điểm hình thái khuẩn lạc và tế bào của các
chủng đại diện cho mỗi nhóm. Như vậy, đối với nấm men đen, kết hợp quan sát hình
thái khuẩn lạc và tế bào có thể đưa ra kết luận phân nhóm có độ tin cậy cao hơn.
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 06, 03 - 2014 91
TT Khuẩn lạc Tế bào TT Khuẩn lạc Tế bào
1
02.068
7
39.190
2
63.153
8
22.057
3
28.100
9
39.191
4
78.047
10
08.085
5
10.035
11
17.042
6
11.028
12
61.159
Hình 2. Hình thái khuẩn lạc và tế bào của các chủng nấm men đen
đại diện cho các nhóm (độ phóng đại 400 lần)
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 06, 03 - 2014 92
TT Khuẩn lạc Tế bào TT Khuẩn lạc Tế bào
13
02.066
19
20.074
14
38.134
20
63.199
15
13.196
21
52.126
16
38.131
22
60.173
17
20.076
23
05.091
18
60.167
24
64.139
Hình 2 (tiếp). Hình thái khuẩn lạc và tế bào của các chủng nấm men đen
đại diện cho các nhóm (độ phóng đại 400 lần)
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 06, 03 - 2014 93
3.2. Khảo sát khả năng chuyển hóa đường
Từ 24 nhóm, chúng tôi chọn ra 50 chủng
đại diện để khảo sát khả năng chuyển hóa 3 loại
đường gồm glucose, sucrose, maltose, thu canh
trường ở các thời điểm khác nhau, sau đó tiến
hành sắc ký bản mỏng để định tính và bán định
lượng các polyol sinh ra. Qua khảo sát, thu được
12 chủng có khả năng chuyển hóa đường tạo
erythritol trong đó chủng 38.131 chuyển hóa
được cả 3 loại đường nhưng hiệu suất chuyển
hóa không cao. Chủng 63.199 có hiệu suất
chuyển hóa glucose tốt nhất, nên được chọn làm
chủng đại diện để nghiên cứu đặc điểm sinh lý,
sinh hóa.
Bảng 1. Tổng hợp kết quả khảo sát khả năng chuyển hóa đường
(G - G lycerin; E - Erythritol; 0, 1, 2, 3 - Khả năng tạo polyol; Nd - Không phân tích)
Glucose Sucrose Maltose
TT
KH
chủng 5 ngày 9 ngày 3 ngày 5 ngày 9 ngày 5 ngày
1 31.108 G(1);E(1) 0 G(1) G(1);E(1) 0 G(1)
2 54.198 G(1) G(2);E(2) Nd G(1) G(1) G(1)
3 54.120 G(2);E(1) 0 G(3) G(3) 0 G(3)
4 52.127 G(2) G(2);E(1) Nd G(2) 0 G(1)
5 10.035 G(1) G(1);E(1) Nd G(1) G(1) G(1)
6 63.153 G(2);E(1) G(2);E(2) 0 G(2);E(1) G(2);E(2) G(1)
7 61.157 G(1) 0 G(1);E(1) G(1);E(1) 0 G(1)
8 38.131 G(1);E(1) G(2);E(2) G(1) G(1);E(1) G(2);E(1) G(1);E(1)
9 63.199 G(2);E(2) G(3);E(3) Nd 0 0 0
10 43.180 G(1);E(2) G(2) 0 G(1);E(1) 0 0
11 56.129 G(2);E(1) 0 G(1) G(2);E(1) 0 0
12 23.078 G(2);E(1) G(3) G(2);E(1) G(2);E(2) 0 0
8 6 2 7 2 1
Tổng
11 7 1
Hình 3. Sắc ký đồ trên bản mỏng
của một số chủng tạo Erythritol
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 06, 03 - 2014 94
3.3. Nghiên cứu đặc điểm sinh lý, sinh hóa
3.3.1. Ảnh hưởng của pH ban đầu
Tiến hành nuôi cấy chủng 63.199
như mô tả trong phần phương pháp. Bằng
phương pháp pha loãng tới hạn, ghi nhận
kết quả và xử lý số liệu chúng tôi xây
dựng đồ thị ảnh hưởng của pH ban đầu
lên quá trình sinh trưởng (hình 4). Như
vậy, tại khoảng pH 6 chủng 63.199 phát
triển tốt nhất. Đồng thời trong môi
trường axit (tại khoảng pH từ 4 đến 6)
chủng sinh trưởng tốt hơn hẳn so với
môi trường trung tính và bazơ. Điều này
hoàn toàn phù hợp với những nghiên cứu
trước đây về tính ưa axit của các chủng
thuộc chi Moniliella [3].
Hình 4. Ảnh hưởng của pH ban đầu đến
khả năng sinh trưởng của chủng 63.199
3.3.2. Ảnh hưởng của nồng độ glucose
Các chủng nấm men thuộc chi
Moniliella có khả năng sinh trưởng tại
những nơi có nồng độ đường rất cao [3].
Vì vậy, chúng tôi lựa chọn dải nồng độ
glucose từ 10% đến 60% để khảo sát tìm
khoảng nồng độ phù hợp. Qua đồ thị, có
thể thấy chủng sinh trưởng tốt trong
khoảng nồng độ glucose từ 10% đến 50%,
trong đó nồng độ 30% cho kết quả tốt nhất
và khả năng phát triển của chủng chỉ thực
sự bị ảnh hưởng tại nồng độ 60%.
Hình 5. Ảnh hưởng của nồng độ
glucose đến khả năng sinh trưởng
của chủng 63.199
3.3.3. Ảnh hưởng của nhiệt độ
Tương tự như các nhóm nấm men
khác, nấm men thuộc chi Moniliella cũng
bị tác động khá rõ rệt bởi nhiệt độ.
Nghiên cứu cho thấy, nhiệt độ tối ưu cho
quá trình sinh trưởng của chủng 63.199 là
khoảng nhiệt độ 30oC. Kết quả này có thể
dùng làm cơ sở trong việc chọn thời điểm
thu thập mẫu cũng như chọn nhiệt độ cho
quá trình lên men.
0
10
20
30
40
50
60
10 30 40
Nhiệt độ (oC)
Số
lư
ợn
g
tế
bà
o
(C
FU
x1
00
/m
Hình 6. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến
khả năng sinh trưởng của chủng 63.199
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 06, 03 - 2014 95
Như vậy, chủng 63.199 có nhiều đặc điểm hình thái khuẩn lạc, tế bào cũng như
đặc tính sinh lý, sinh hóa điển hình của chi Moniliella như: khuẩn lạc xốp, ban đầu màu
trắng kem sau chuyển sang vàng đậm và nâu, tế bào có kích thước lớn, đa hình gồm
hình ovan và hình que xếp chuỗi kèm theo đứt gãy nhiều [7], chủng có khả năng sinh
trưởng trong môi trường có pH axit, nồng độ đường cao, ở nhiệt độ khoảng 30oC. Vì
vậy, có thể bước đầu khẳng định chủng 63.199 thuộc chi Moniliella.
3.4. Định lượng erythritol trong canh trường
Định lượng bằng phương pháp đo mật độ quang
Sau khi khảo sát các bước sóng
trong dải từ 190 nm đến 850 nm,
chúng tôi xác định bước sóng hấp thụ
tốt nhất của erythritol là λ = 210 nm
đồng thời, xây dựng phương trình
tuyến tính y = 0,1144x + 0,0012 với
độ tin cậy 99,7%. Trên cơ sở đó, xác
định được nồng độ erythritol có trong
canh trường là 41,78 mg/ml.
Đường chuẩn erythritol
y = 0,1144x + 0,0012
R2 = 0,997
0
0,02
0,04
0,06
0,08
0,1
0,12
0,14
0 0,2 0,4 0,6 0,8 1 1,2
Nồng độ (mg/ml)
O
D
(λ
=
2
10
n
m
)
Hình 7. Đường chuẩn erythritol
Định lượng bằng sắc ký lỏng cao áp
Qua phân tích canh trường trên hệ thống sắc ký lỏng cao áp chúng tôi thu được
kết quả canh trường có chứa hàm lượng erythritol là 34,9 mg/ml. Kết quả này không
khác nhiều so với kết quả định lượng bằng phương pháp đo mật độ quang, sự chênh
lệch kết quả giữa hai phương pháp có thể do một số nguyên nhân như: Thao tác tiến
hành thí nghiệm, dụng cụ và trang thiết bị, bước làm sạch canh trường trước khi đưa
vào phân tích chưa triệt để nên canh trường có thể còn nhiều tạp chất có cùng bước
sóng hấp thụ cực đại với erythritol mà phương pháp đo mật độ quang không phát hiện
được... So sánh với các nghiên cứu tương tự trên thế giới, theo báo cáo của Hee Jung
Moon và cộng sự (2010) sau 9 ngày lên men liên tục, đã thu được canh trường có hàm
lượng erythritol là 95,7 mg/ml. Như vậy, kết quả đề tài có thể được ghi nhận là bước
đầu nghiên cứu quy trình sản xuất erythritol ở quy mô phòng thí nghiệm.
IV. KẾT LUẬN
1. Đã phân lập được 161 chủng nấm men đen được phân thành 24 nhóm theo
hình thái khuẩn lạc, tế bào nghi ngờ thuộc chi Moniliella từ 93 mẫu khác nhau.
2. Đã thu được 12 chủng có khả năng tạo erythritol, trong đó chủng 38.131
chuyển hóa được 3 loại đường gồm glucose, sucrose, maltose, chủng 63.199 có hiệu
suất chuyển hóa glucose cao nhất.
3. Chủng 63.199 có nhiều đặc điểm điển hình của chi Moniliella, sinh trưởng
tốt nhất tại pH 6, nồng độ glucose 30% và nhiệt độ 30oC. Chủng tạo erythritol với
nồng độ tương đối cao nên có thể sử dụng cho các nghiên cứu tiếp theo.
Nghiên cứu khoa học công nghệ
Tạp chí Khoa học và Công nghệ nhiệt đới, Số 06, 03 - 2014 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hee Jung Moon, In Won Kim, Jung Kul Lee, Biotechnological production of
erythritol and its applications, Microbiol Biotechnol, 2010.
2. Waldermar Rymowicz, Matar Marcinkiewicz, High-yield production of
erythritol from raw glycerol in fed- batch cutures of Yarrowia lipolytica,
Biotechnol Lett, 2008.
3. Jung Kul Lee, Increased erythritol production in fed-batch cultures of Torula
sp. by controlling glucose concentration, Journal of industrial Microbiology
and Biotechnology, 2001.
4. Shie-Jea Lin, Chiou-Yen Wen, Pei-Ming Wang, High-level production of
erythritol by mutants of osmophilic Moniliella sp, Process Biochemistry, 2010.
5. Laxman S. Savergave, Ramchandra V. Gadre, Strain improvement and
statistical media optimization for enhanced erythritol production with minimal
by-products from Candida magnoliae mutant R23, Biochemical Engineering
Journal, 2011.
6. European commission (3/2003), Opinion of the scientific committee on
food on erythritol, Belgium.
7. L. Dooms, G. L. Hennebert and H. Verachtert, Polyol synthesis and
taxonomic character in the genus Moniliella, Antonie van Leeuwenhoek,
1971, 37, tr.107-118.
SUMMARY
BIODIVERSITY AND THE APPLICATION OF BLACK YEASTS
IN ERYTHRITOL PRODUCTION
This study isolated erythritol - producing yeast strains. A total of 161 strains of
the black yeasts were isolated from dust scattered samples and pollens. Twelve yeast
strains of the genus Moniliella produced erythritol, among which strain 63.199
produced erythritol in good yields. This strain was good grown in a medium
containing 30% glucose, at pH 6 and temperate 30oC. We used thin layer
chromatography (TLC), high performance liquid chromatography (HPLC) and optical
density (OD) method to analyse erythritol in the culture. After 9 days cultured, the
strain 63.199 has high erythritol yield should be able to use it for further researchs.
Keywords: Erythritol, Moniliella, polyol, funtional foods.
Nhận bài ngày 09 tháng 01 năm 2014
Hoàn thiện ngày 26 tháng 02 năm 2014
Phân viện Công nghệ sinh học, Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga
Các file đính kèm theo tài liệu này:
da_dang_sinh_hoc_va_kha_nang_ung_dung_cua_nam_men_den_trong.pdf